Thư mục BuddhaSasana

Lưu ý: Đọc với phông chữ CN-Times nâng cấp hay Arial Unicode MS


 

Trung A HÃ m Kinh
Mục Lục Tổng Quát
01. PHẨM BẢY PHÁP
02. PHẨM NGHIỆP TÆ¯Æ NG ƯNG
03. PHẨM XÁ-LÊ TỬ TÆ¯Æ NG ƯNG
04. PHẨM VỊ TẰNG HỮU PHÁP
05. PHẨM TẬP TÆ¯Æ NG ƯNG
06. PHẨM VÆ¯Æ NG TÆ¯Æ NG ƯNG
07. PHẨM TRƯỜNG THỌ VÆ¯Æ NG
08. PHẨM UẾ
09. PHẨM NHÂN
10. PHẨM LÂM
11. PHẨM ĐẠI (Phần đầu)
12. PHẨM PHẠM CHÍ (Phần đầu)
142. Kinh Vũ Thế
143. Kinh Thương-Ca-La
144. Kinh Toán Số Mục-Kiền-Liên
145. Kinh Cù-Mặc Mục-Kiền-Liên
146. Kinh Tượng Tích Dụ
147. Kinh Văn Ðức
148. Kinh Hà Khổ
149. Kinh Hà Dục
150. Kinh Uất-Sấu-Ca-La
151. Kinh Phạm Chí A-Nhiếp-Hòa
12. PHẨM PHẠM CHÍ (Phần sau) 
13. PHẨM CĂN BỔN PHÂN BIỆT
14. PHẨM TÂM
15. PHẨM SONG
16. PHẨM ĐẠI (Phần sau)
17. PHẨM BÔ-ĐA-LỢI
18. PHẨM LỆ

 

Source: LotusMedia lotusmedia.net
 
中 阿 含 經
KINH TRUNG A HÀM
Hán Dịch: Phật Ðà Da Xá & Trúc Phật Niệm,
Việt Dịch & Hiệu Chú: Thích Tuệ Sỹ

12. PHẨM PHẠM CHÍ
(Phần Ðầu)

143. KINH THÆ¯Æ NG-CA-LA[1]

Tôi nghe như vầy:

Một thời Đức Phật du hóa tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng lâm, vườn Cấp cô độc.

Bấy giờ, Ma-nạp Thương-ca-la[02] sau giữa trưa, thong dong tản bộ, đi đến chỗ Phật, chà o hỏi xong, ngồi xuống một bên, bạch rằng:

“Bạch Cù-đà m, con có điều muốn hỏi, mong Ngà i nghe cho mới dám trình bà y”.

Thế Tôn nói:

“Ma-nạp, muốn hỏi gì cứ hỏi”.

Ma-nạp Thương-ca-la bèn hỏi:

“Bạch Cù-đà m, Phạm chí đúng như pháp mà hà nh khất tà i vật, tự mình trai tự[03], hoặc dạy người khác trai tự. Bạch Cù-đà m, nếu tự mình trai tự hay dạy người khác trai tự, những người ấy đều hà nh trên vô lượng phước tích[04], vì do nơi trai tự vậy. Đệ tử của Sa-môn Cù-đà m, tùy theo dòng tộc[05], cạo bỏ râu tóc, khoác áo ca-sa, chí tín lìa bỏ gia đình, sống không gia đình để học đạo, tự mình chế ngự, tự mình tịch tịnh, tự mình cứu cánh tịch diệt. Như vậy, đệ tử của Sa-môn Cù-đà m, thùy theo dòng tộc, chỉ hà nh trên một phước tích chứ không hà nh trên vô lượng phước tích, do bởi sự học đạo vậy.”

Bấy giờ Tôn giả A-nan đang cầm quạt đứng hầu Phật, rồi Tôn giả A-nan hỏi:

“Nà y Ma-nạp, trong hai đạo tích ấy, đạo tích nà o là tối thượng, tối diệu, tối thắng?”

Ma-nạp Thương-ca-la nói:

“A-nan, đối với Sa-môn Cù-đà m và A-nan, tôi đều cung kính tôn trọng, phụng thờ.”

Tôn giả A-nan lại hỏi:

“Nà y Ma-nạp, tôi không hỏi ông cung kính, tôn trọng, phụng thờ ai, mà tôi chỉ hỏi ông rằng, trong hai đạo tích ấy, đạo tích nà o là tối thượng, tối diệu, tối thắng?”

Tôn giả A-nan đến ba lần hỏi Ma-nạp Thương-ca-la rằng:

“Nà y Ma-nạp, trong hai đạo tích ấy, đạo tích nà o là tối thượng, tối diệu, tối thắng?”

Ma-nạp Thương-ca-la cũng đến ba lần nói rằng:

“A-nan, đối với Sa-môn Cù-đà m và A-nan, tôi đều cung kính, tôn trọng, phụng thờ.”

Tôn giả A-nan cũng nói lại:

“Nà y Ma-nạp, tôi không hỏi ông cung kính, tôn trọng, phụng thờ ai, mà tôi chỉ hỏi ông rằng, trong hai đạo tích ấy, đạo tích nà o là tối thượng, tối diệu, tối thắng?”

Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn nghĩ rằng: “Ma-nạp Thương-ca-la nà y đã bị A-nan khuất phục. Ta hãy cứu nó!”

Thế Tôn biết vậy rồi, bèn hỏi:

“Nà y Ma-nạp, hôm qua, khi vua và các quần thần triệu tập đại hội, thảo luận những gì? Vì những duyên cớ nà o mà cùng tập hội?”

Ma-nạp Thương-ca-la đáp:

“Ngà y hôm qua, vua và quần thần triệu tập đại hội để thảo luận vấn đề nà y, là ‘Do nhân gì, duyên gì mà xưa kia Sa-môn Cù-đà m thiết lập học giới ít, nhưng các Tỳ-kheo đắc đạo nhiều; và do nhân gì, duyên gì mà ngà y nay khi Sa-môn Cù-đà m thiết lập học giới nhiều thì các Tỳ-kheo đắc đạo lại ít[06]?’ Bạch Cù-đà m, ngà y hôm qua, vua và quần thần triệu tập đại hội để thảo luận vấn đề nà y. Do sự kiện nà y mà triệu tập đại hội.”

Bấy giờ, Thế Tôn nói rằng:

“Ma-nạp, bây giờ Ta hỏi ngươi, hãy tùy theo sự hiểu biết mà trả lời. Ý ngươi nghĩ sao? Giả sử có một Sa-môn, Phạm chí tự hà nh đạo như vậy, tích như vậy; và sau khi tự hà nh đạo như vậy, tích như vậy rồi, các lậu diệt tận, chứng đắc vô lậu, tâm giải thoát, tuệ giải thoát, tự tri, tự giác, tự tác chứng, thà nh tựu an trụ, biết như thật: ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, điều cần là m đã là m xong, không còn tái sanh nữa’.

“Vị ấy sau đó thuyết giảng cho người khác rằng: ‘Ta tự hà nh đạo như vậy, tích như vậy, và sau khi tự hà nh đạo như vậy, tích như vậy rồi, các lậu diệt tận, chứng đắc vô lậu, tâm giải thoát, tuệ giải thoát, tự tri tự giác, tự tác chứng, thà nh tựu an trụ, biết như thật: ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần là m đã là m xong, không còn tái sanh nữa’. Các người hãy đến đây và cũng hãy tự hà nh đạo như vậy, tích như vậy, và sau khi tự hà nh đạo như vậy, tích như vậy rồi, các lậu diệt tận, chứng đắc vô lậu, tâm giải thoát, tuệ giải thoát, tự tri, tự giác. tự tác chứng, thà nh tựu an trụ, biết như thật: Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần là m đã là m xong, không còn tái sanh nữa’.

“Rồi người nà y cũng tự hà nh đạo như vậy, tích như vậy. Sau khi tự hà nh đạo như vậy, tích như vậy, các lậu diệt tận, chứng đắc vô lậu, tâm giải thoát, tuệ giải thoát, tự tri tự giác, tự tác chứng, thà nh tựu an trụ, biết như thật: Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần là m đã là m xong, không còn tái sanh nữa.

Rồi người nà y lại cũng thuyết giảng cho người khác nữa. Cứ như vậy lần lượt truyền đi cho đến trăm ngà n vô lượng.

“Nà y Ma-nạp, ý ngươi nghĩ sao? Đệ tử của Ta, tùy theo dòng tộc, cạo bỏ râu tóc, khoác áo ca-sa, chí tín lìa bỏ gia đình, sống không gia đình để học đạo, chỉ hà nh trên một phước tích, không hà nh trên vô lượng phước tích, có phải là do bởi sự học đạo chăng?”

Ma-nạp Thương-ca-la đáp:

“Bạch Cù-đà m, theo sự hiểu biết của con đối với điều mà Sa-môn Cù-đà m nói, thì đệ tử Sa-môn Cù-đà m ấy, tùy theo dòng tộc, cạo bỏ râu tóc, chí tín, lìa bỏ gia đình, sống không gia đình để học đạo, thật sự hà nh trên vô lượng phước tích, chứ không chỉ hà nh trên một phước tích do bởi sự học đạo.”

Thế Tôn lại nói với Thương-ca-la:

“Có ba thị hiện[07] là , như ý túc thị hiện, chiêm niệm thị hiện, giáo huấn thị hiện[08].

“Ở đây, nếu có một Sa-môn, Phạm chí có đại như ý túc, đại oai đức, đại phước hựu, đại oai thần, đối với như ý túc, tâm được tự tại, hà nh vô lượng công đức của như ý túc như vầy; nghĩa là phân một là m thà nh nhiều, hợp nhiều là m thà nh một, một thì trụ trên một, được biết, được thấy[09]; không bị trở ngại bởi vách đá, cũng như đi trong hư không; chìm xuống đất như chìm xuống nước, đi trên nước như đi trên đất; ngồi xếp kiết già mà bay trên không như chim bay liệng; với mặt trời và mặt trăng nà y vốn có đại như ý túc, đại phước hựu, đại oai thần mà có thể đưa tay bắt nắm, thân cao đến trời Phạm thiên. Nà y Ma-nạp, đó là thị hiện bằng như ý túc.

“Nà y Ma-nạp, thế nà o là chiêm niệm thị hiện? Hoặc có một Sa-môn, Phạm chí do nơi tướng trạng của người khác mà chiêm đoán được ý tưởng của họ, rằng ‘Nó có ý nghĩ như thế nà y, nó có ý nghĩ như thế kia, nó thật sự có ý nghĩ’; vô lượng chiêm đoán thì không ít chiêm đoán, nhưng tất cả thảy đều chắc thật, chứ không phải là những giả thiết viỠn vông. Hoặc giả không do nơi tướng trạng của người khác để đoán biết ý tưởng của họ, nhưng do nghe tiếng của chư Thiên và loà i phi nhân mà đoán biết được ý tưởng của người khác rằng ‘Nó có ý nghĩ như thế nà y, nó có ý nghĩ như thế kia, thật sự nó có ý nghĩ như vậy’ vô lượng chiêm đoán, không ít chiêm đoán, nhưng tất cả thảy đều chắc thật, chứ không phải là những giả thiết viỠn vông. Hoặc không do nơi tướng dạng của người khác để đoán biết ý tưởng của họ, cũng không nghe tiếng của chư Thiên và các loà i phi nhân, nhưng do tâm niệm của người khác, tâm tư của người khác, ngôn thuyết của người khác. Sau khi nghe tiếng rồi đoán biết được ý tưởng của người khác rằng ‘Nó có ý tưởng như thế nà y, nó có ý tưởng như thế kia, nó thật sự có ý tưởng như vậy’ vô lương chiêm nghiệm đoán, không ít chiêm đoán, nhưng tất cả thảy đều chắc thật, chứ không phải là những giả thuyết viỠn vông. Hoặc không do nơi tướng dạng của người khác để đoán biết ý tưởng của người khác, cũng không nghe tiếng của chư Thiên và loà i phi nhân để đoán biết ý tưởng của người khác, cũng không do nơi tâm niệm của người khác, nhưng do nơi tâm tư, nơi ngôn thuyết của người khác để sau khi nghe rồi, đoán biết ý tưởng của người khác, nhưng do thấy người khác nhập và o định không giác không quán[10], sau khi thấy bèn nghĩ rằng ‘Như Hiền giả nà y thì không có niệm, không có tư, sở nguyện như ý. Hiền giả kia ra khỏi định nà y với niệm như vậy. Vị ấy ra khỏi định nà y sẽ có tâm niệm như vậy, như vậy’. Người nà y cũng đoán biết việc quá khứ, cũng đoán biết việc tương lai, cũng đoán biết việc hiện tại, những điều được là m từ lâu, những điều được nói từ lâu, cũng đoán biết những nơi yên tĩnh, sống nơi yên tĩnh, cũng đoán biết tất cả pháp tâm và tâm sở hữu. Đó gọi là thiện bằng sự chiêm niệm.

“Nà y Ma-nạp, thế nà o là giáo huấn thị hiện? Ở đây có một Sa-môn, Phạm chí tự hà nh đạo như vậy, tích như vậy, và sau khi hà nh đạo như vậy, tích như vậy rồi, các lậu diệt tận, chứng đắc vô lậu, tâm giải thoát, tuệ giải thoát, tự tri tự giác, tự tác chứng, thà nh tựu an trụ, biết như thật: ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần là m đã là m xong, không còn tái sanh nữa’. Rồi vị ấy giảng thuyết lại cho người khác rằng ‘Ta tự hà nh đạo như vậy, tích như vậy, và sau khi hà nh đạo như vậy, tích như vậy rồi, các lậu diệt tận, chứng đắc vô lậu, tâm giải thoát, tuệ giải thoát, tự tri tự giác, tự tác chứng, thà nh tựu an trụ, biết như thật Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần là m đã là m xong, không còn tái sanh nữa’. Rồi người đó cũng tự hà nh đạo như vậy, tích như vậy rồi, các lậu diệt tận, chứng đắc vô lậu, tâm giải thoát, tuệ giải thoát, tự tri tự giác, tự tác chứng, thà nh tựu an trụ, biết như thật: ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần là m đã là m xong, không còn tái sanh nữa. Rồi người đó cũng lại thuyết giảng cho người khác. Cứ như vậy... lần lượt truyền đi cho đến vô lượng trăm ngà n. Nà y Ma-nạp, đó gọi là sự thị hiện bằng giáo huấn.

“Trong ba thị hiện nà y, thị hiện nà o là tối thượng, tối diệu, tối thắng?”

Thương-ca-la Ma-nạp đáp rằng:

“Bạch Cù-đà m, nếu Sa-môn, Phạm chí nà o có đại như ý túc, đại oai đức, đại phước hựu, đối với như ý túc, tâm được tự tại, cho đến, thân cao đến trời Phạm thiên, thưa Cù-đà m, cái đó là tự mình là m tự mình có, tự mình thọ lãnh quả báo. Thưa Cù-đà m, trong các thị hiện, sự thị hiện nà y được gọi là đại pháp[11].

“Bạch Cù-đà m, nếu Sa-môn, Phạm chí nà o do nơi tướng dạng mà đoán biết ý tưởng của người khác, cho đến các pháp tâm và tâm sở hữu, thì bạch Cù-đà m, cái đó là tự mình là m tự mình có, tự mình thọ lãnh quả báo. Thưa Cù-đà m, trong các thị hiện, sự thị hiện nà y được gọi là đại pháp.

“Bạch Cù-đà m, nếu Sa-môn, Phạm chí nà o tự hà nh đạo như vậy, tích như vậy, và sau khi tự hà nh đạo như vậy, tích như vậy, các lậu diệt tận, chứng đắc vô lậu, tâm giải thoát, tuệ giải thoát, tự tri tự giác, tự tác chứng, thà nh tựu an trụ, biết như thật ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, điều cần là m đã là m xong, không còn tái sanh nữa’. Rồi vị ấy thuyết giảng cho người khác nữa. Cứ như vậy lần lượt truyền đi cho đến trăm ngà n vô lượng, thì bạch Cù-đà m, trong ba thị hiện, sự thị hiện nà y là tối thượng, tối diệu, tối thắng.”

Thế Tôn lại hỏi Thương-ca-la Ma-nạp:

“Trong ba thị hiện, ngươi tán thán sự thị hiện nà o?”

Ma-nạp Thương-ca-la đáp:

“Trong ba thị hiện, con tán thán Sa-môn Cù-đà m. Vì sao vậy? Vì Sa-môn Cù-đà m có đại như ý túc, có đại oai đức, có đại phước hựu, có đại oai thần, tâm được tự tại, cho đến thân cao ngang Phạm thiên. Sa-môn Cù-đà m do nơi tướng dạng của người khác mà biết ý tưởng của người khác, cho đến đoán biết các tâm và tâm sở hữu pháp. Sa-môn Cù-đà m thị đạo với đạo như vậy, tích như vậy, và sau khi hà nh đạo nà y, tích nà y, các lậu diệt tận, chứng đắc vô lậu, tâm giải thoát, tuệ giải thoát, thà nh tựu an trụ, biết như thật ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, điều cần là m đã là m xong, không còn tái sanh nữa’. Sa-môn Cù-đà m thuyết giảng cho người khác, rồi người khác thuyết giảng cho người khác nữa. Như vậy, lần lượt truyền đi cho đến trăm ngà n vô lượng. Bạch Cù-đà m, cho nên, đối với ba thị hiện, con tán thán Sa-môn Cù-đà m.”

Rồi Thế Tôn nói rằng:

“Ma-nạp, người khéo thấu suốt vấn đề nà y. Vì sao? Thật sự Ta có đại như ý túc, đại oai thần, đại phước hựu, đại oai thần, đối với như ý túc, tâm được tự tại, cho đến, thân cao ngang Phạm thiên. Nà y Ma-nạp, Ta do tướng dạng người khác mà biết được ý tưởng của người khác, cho đến đoán biết tâm và tâm sở hữu pháp.

“Nà y Ma-nạp, Ta tự hà nh đạo như vậy, tích như vậy, các lậu diệt tận, chứng đắc vô lậu, tâm giải thoát, tuệ giải thoát, tự tri tự giác, tự tác chứng, thà nh tựu an trụ, biết như thật ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, điều cần là m đã là m xong, không còn tái sanh nữa’. Rồi Ta giảng thuyết cho người khác, người khác cũng giảng thuyết cho người khác nữa. Như vậy, lần lượt truyền đi cho đến trăm ngà n vô lượng.

“Nà y Ma-nạp, cho nên ngươi khéo thấu suốt vấn đề nà y. Ngươi hãy biết như vậy, hãy khéo thọ trì như vậy. Vì sao? Bởi vì ý nghĩa được nói nà y phải như vậy.”

Lúc bấy giờ, Thương-ca-la Ma-nạp bạch rằng:

“Bạch Thế Tôn, con đã hiểu. Bạch Thiện Thệ, con đã hiểu. Bạch Thế Tôn, con nay tự quy y Phật, Pháp, Tỳ-kheo Tăng. Cúi mong Thế Tôn nhận con là m Ưu-bà -tắc, kể từ hôm nay trọn đời tự quy y cho đến tận mạng.”

Phật thuyết như vậy. Thương-ca-la Ma-nạp, Tôn giả A-nan và các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hà nh.

-ooOoo-

Chú thích:

[01] Tương đương Pāli A.3.60. SaṠgārava-sutta.
[02] Thương-ca-la Ma-nạp 傷 歌 邏 摩 納. Pāli: SaṠgārava, một Bà -la-môn trẻ, hình như là bạn của Tôn giả A-nan trước khi xuất gia.
[03] Hán: trai 齋; Pāli: yaññaṃ, tế đà n.
[04] Phước tích 福 跡. Pāli: puññapaṭipadā, con đường dẫn đến phước đức.
[05] Hán: tùy tộc 隨 族. Đối chiếu Pāli: yassa vā tassā kulā anagāriyaṃ pabbajito, người ấy từ bỏ dòng tộc, từ bỏ gia dình, xuất gia sống không gia đình.
[06] Cũng như kinh số 194 ở sau.
[07] Tam thị hiện 三 示 現, ở đây “thị đạo”, chỉ ba loại thần thông hay phép lạ; xem theo Tập Dị 6 (No.2026, tr.389 b): thần biến thị đạo, ký tâm thị đạo, giáo giới thị đạo. Pāli: Tini pātihāriyānā: iddhi, ādesanā, anusāsanā.
[08] Xem cht.1 trên.
[09] Hán: nhất tắc trụ nhất, hữu tri hữu kiến 一 則 住 一 有 知 有 見. Nghĩa không rõ. Tập Dị (nt): hoặc ẩn hoặc hiện. Pāli: āvibhāvaṃ tirobhāvaṃ.
[10] Chỉ các bậc từ nhị thiền trở lên, trong đó không có tâm sở tầm (Pāli: vitakka) và tứ (Pāli: vicara).
[11] Đại pháp 大 法. Pāli: māyāsaha-dhammarūpam; pháp huyỠn hoặc; bản Hán đọc là ma (…) hā-dhamma.

-ooOoo-

trang trước

đầu trang

trang kế


[Thư mục BuddhaSasana]