[BuddhaSasana]

[Unicode Fonts]


       

ANUBUDDHAPPAVATTI

Thinh văn sử

Hòa thượng Hộ Giác soạn dịch


2 - Ngà i Sariputta
(Xá-lợi-phất)


Khoảng một A-tăng-kỳ và một trăm ngà n kiếp về trước, có một đại phu trưởng giả, sau khi cha mẹ qua đời đã xuất gia là m đạo sĩ, cùng lúc có bảy mươi bốn ngà n người cũng xuất gia theo. Sau khi xuất gia, nhờ tích cực hà nh thiền, tất cả đều đắc ngũ thông, bát định.

Lúc bấy giờ Ðức Phật Anomadassì giáng trần. Tại kinh đô Camdavatì phụ vương là đức vua Yasavanta. Mẫu thân là Hoà ng hậu Yasodharà . Cội bồ đề Ngà i đắc đạo tên Ajjuna. Ðại Ðệ tử tay mặt là ngà i Nisabha. Ðại Ðệ tử tay trái là ngà i Anoma. Thị giả là ngà i Varuna. Nhị vị nữ Ðại Ðệ tử là Ni-sư Sundarà và Sumana. Tuổi thọ Ðức Phật là 100.000 năm. Ngà i cao 58 hắc tay. Hà o quang cố định từ kim thân chiếu ra 12 do-tuần. Chúng Tỳ-kheo theo hầu 100.000 vị. Một buổi sáng, qua thiện nhãn thuần tịnh, Ðức Thế Tôn căn duyên của đạo sĩ Sarada và 74.000 đạo sĩ đệ tử, Ngà i đắp y mang bát, một mình bay theo hư không đến tận chổ ở của vị đạo sĩ.

Ðược mục kích hà o quang rá»±c rở và sắc tướng phi phà m cá»§a Ngà i, vị đạo sÄ© biết ngay Ngà i là Ðức Phật Tổ Như-lai, bèn đến gần, quì cuối đầu đãnh lá» và cung thỉnh Ðức Phật an tọa, trong khi tá»± mình ngồi hầu ở chổ rất thấp. Từ những đîa điá» m hái hoa quả trong rừng trở về, 74.000 đệ tá»­ thấy Ðạo sÄ© thầy cá»§a họ ngồi thấp, còn vị sa môn lạ mặt ngồi cao hÆ¡n, bèn đến gần bà y tỏ:

-- Bạch thầy, chúng con nghĩ là trên đời nà y không còn ai lớn hơn thầy. Thế nhưng, vị nà y trông có vẽ lớn hơn thầy!

-- Các con ơi, tại sao các con lại có thể đem hạt củi so sánh với núi Tu-di -cao sáu triệu tám trăm ngà n do tuần? Các con chớ nên đem cá nhân nhỏ bé của thầy mà so sánh với Ðức Phật Tổ Như-lai.

Các đạo sĩ môn đồ lãnh hội được sự so sánh vô cùng quan yếu của Thầy bèn cùng nhau đệ đầu đãnh lỠÐức Thế Tôn. Vì sắp đến giờ ngọ trai, nên các vị đạo sĩ sốt sắng lựa những trái cây hảo hạng và chính tay Ðạo-sĩ Sarada cúng dường Ðức Thế Tôn. Trong khi Ngà i ngọ thực chư vị thiên thần bèn đem Thiên vị lòng và o các thứ trái cây ấy. Ðạo sĩ Sarada tự tay lượt nước cúng dường. Cảm ứng được nguyện lực của Ðúc Phật, nhị vị Ðại Ðệ Tử và một trăm ngà n Thánh tăng như những cánh chim cùng lúc bay đến bái kiến Ðức Phật.

Chứng kiến Phật lực và thần lực chư vị Thánh tăng, đạo sĩ Sarada vô cùng hoan hỉ, bèn hội các đệ tử lập tức sắp xếp nơi an tọa cho Ðức Phật cao thêm và chổ ngồi đầy đủ cho chư Thánh tăng. Mọi thứ nghi lỠđược thà nh tựu như nguyện. Vì các vị đạo sĩ đều có ngũ thông, cộng thêm thần lực chư thiên yểm trợ nên mọi công tác được hoà n thà nh trong thời hạn kỷ lục.

Bảo tọa dà nh cho Ðức Phật hoà n toà n bằng các lọai hoa quí cao một do-tuần, nơi an vị dà nh cho Nhị vị Ðại Ðệ Tử cao 3 gà vut (3/4 do-tuần); dà nh cho chư Thánh Tăng cao nửa do tuần; dà nh cho chư vị tân thọ Tỳ-kheo cao 25 sải tay.

Chuẩn bị xong, đạo sĩ Sarada cung thỉnh Ðức Phật an tọa. Sau khi Ðức Phật và chư Thánh tăng an tọa, đạo sĩ đích thân đứng cầm lộng hoa hầu Phật. Ðể bồi đắp đức tin dõng mãnh và lòng trong sạch cao độ của thầy trò đạo sĩ, Ðức Thế Tôn nhập định. Nhị vị Ðại Ðệ Tử và chư Thánh Tăng cũng đồng nhập định. Suốt thời gian bảy ngà y Ðức Phật và chư Thánh Tăng nhập định, các vị đạo sĩ luân phiên đi hái hoa trái về dùng, chỉ riêng đạo sĩ Sarada vì quá hoan hỉ nên phát sanh phỉ lạc, đứng bất động trong tư thế che lọng cúng đường Ðức Phật suốt bảy ngà y.

Vừa xuất định, Ðức Thế Tôn Anomadassì chỉ định vị Ðại Ðệ Tử tay mặt là ngà i Nisabha lược giảng công đức cúng dường bảo tọa bằng hoa. Ðức Thế Tôn lại cũng chỉ định vị Ðại Ðệ Tử tay trái giảng tiếp. Sau hai thời giảng của Nhị vị Ðại Ðệ Tử, không có một ai đắc đạo chứng quả. Lúc bấy gìơ Ðức Thế Tôn đích thân thuyết pháp. Dứt thời pháp 74.000 đạo sĩ đều chứng quả A-la-hán, ngoại trừ đạo sĩ Sarada. Ðức Thế Tôn biệt cách cho xuất gia theo phương thức "Thiện lai Tỳ-kheo" nghĩa là Ðức Phật chỉ gọi "Thiện lai tỳ kheo" thì lập tức các vị trở thà nh Tăng sĩ với viên mãn tăng tướng và đầy đủ giáo dụng. Ðạo sĩ Sarada sở dĩ không đắc đạo chứng quả vì tâm hồn đang hướng về một đối tượng, đó là Ngà i Nisabha vị Ðaị Ðệ Tử tay mặt của Ðức Phật. Ðạo sĩ bạch Phật:

-- Bạch Ðức Thế Tôn, vị Trưởng lão an tọa tay mặt của Thế Tôn giữ chức vụ gì trong đạo trà ng?

-- Vị nà y là Ðaị Ðệ Tử tay mặt của Như-lai, có khả năng chuyển bánh xe pháp như Như-lai, đã đạt được tuệ cao tột của hà ng thinh văn, pháp danh là Nisabha.

-- Bạch Ðức Thế Tôn, suốt bảy ngà y đứng che lộng cúng dường Ðức Thế Tôn đệ tử không cầu mong được bất cứ một quả vị nà o khác mà chỉ cầu xin được là m Ðại Ðệ Tử tay mặt của một vị đương lai Phật Tổ.

Ðức Thế Tôn Anomadassì vị đạo sĩ Sarada sẽ được thà nh tựu, Ngà i nghiêm từ thọ ký:

-- Ðúng một a-tăng kỳ và một trăm ngà n kiếp về sau, sẽ có một vị Phật Tổ xuất trần tôn hiệu Gotama, Phụ vương là đức vua Suddhodana, Phật mẫu là hoà ng hậu Mahà Mà yà , Thị giả là Tỳ kheo Ananda, Ðại Ðệ Tử tay trái tên Moggallà na, còn ngươi sẽ là vị Tướng quân pháp tên Sà rìputta tức Ðại Ðệ Tử tay mặt của Ngà i.

Sau thọ ký cho đạo sĩ Sarada, Ðức Thế Tôn và chư Thánh Tăng bay trở về trú xứ.

Ðạo sĩ Sarada hỏa tốc nhờ một đệ tử tìm đến gặp ông bá hộ Tirivaddha - một người bạn chí thân - báo cho biết mọi diỠn tiến và khuyến khích người bạn nà y hãy kịp thời phát nguyện là m Ðại Ðệ Tử tay trái. Riêng đạo sĩ thì tích cực hà nh thiền Tứ-vô-lượng-tâm và sau khi thân hoại mạng chung được hóa sanh Phạm-thiên-giới. Từ phạm-thiên-giới chuyển xuống thiên-giới và tại đây sống một trăm ngà n năm tuổi trờI. Ðược là m Thiên-vương Ðế Thích một ngà n lần. Từ cõi trời chuyển xuống cõi người và được là m Ðại Ðế chuyển-luân một ngà n lần. Trong những kiếp luân hồi, ngà i luôn luôn trì hà nh Ba-la-mật hạnh.

Ðến kiếp cuối cùng - tức sau một A-tăng kỳ và một trăm ngà n kiếp - ngà i sinh và o một gia đình Bà -la-môn, cũng gọi là Nà lika-thuộc là ng Upatissa gần Rà jagaha (Vương xá), thân sinh là ông Vaniganta, thân mẫu là bà Sà rì. Ba người em trai là : Cunda, Upasena, Revata và ba người em gái là : Cà là , Upacà là , Sìsupacà là . Về phần người bạn tiền kiếp của ngà i là ông bá hộ Sirivaddha cũng sinh và o một gia đình Bà -la-môn, là ng Kolita, thuộc nước Vương-xá, thân sinh là ông Kolita, thân mẫu là bà Moggalì. Hai bạn chà o đời cùng một ngà y. Lớn lên, hai bạn nỗi tiếng uyên bác về các môn học nhất là giáo hệ Phệ-đà . Trong những cuộc giải trí hoặc du ngoạn, hai bạn lúc nà o cũng đi chung. Mỗi lần đi như vậy, Upatissa thường dùng 500 chiếc võng, còn Kolita thì dùng 500 cổ mã xa.

Một hôm, hai bạn được mời dự kiến buổi trình diển văn nghệ công cộng, nhân dịp Tết Nguyên Ðán. Thông thường mỗi lần như vậy thì hai bạn tỏ ra rất hà o hoa phong nhả, cười vui, tưởng thưởng. Lần nà y cũng vậy. Nhưng đến thứ ba thì đột nhiên hai bạn không cười vui, tưởng thưởng mà trái lại rất trầm tư và đâm chiêu. Thì ra hai bạn đang tắm mình trong lý tưởng hướng thượng:

"Ở đây có gì thích thú mà ta phải nhìn. Tất cả những người nà y rồi sẽ phải chết sau hạn định một trăm năm. Vậy, bằng mọi cách ta phải tìm cho ra đạo bất tử. "

Vì miên man trong lý tưởng đăm chiêu, nên hai bạn đều có chung một thái độ, một phản ứng. Thế rồi họ nhìn và hỏi nhau. Kolita lên tiếng trước:

-- Bạn Upatissa, tại sao hôm nay trông bạn không được vui như mọi khị dường như bạn không thỏa mãn một điều gì?

-- Bạn Kolita, tự nhiên mình thấy ngồi nhìn cảnh tượng nà y nó vô vị là m sao. Rồi mình tự nghĩ, tốt hơn hết là nên đi tìm môt con đường hướng thượng. Nhưng còn bạn, tại sao bạn cũng không vui.?

-- Mình cũng có ý nghĩ như bạn vậỵ

-- Hay, hai ý nghĩ chúng ta đồng nhất. Vậy, chúng ta nên cắt ái từ sở thân, đi tu là m đạo sĩ. Nhưng vị đạo sư nà o có thể hướng dẩn chúng ta thực hiện hoà i bảo?

Cuối cùng họ nhất trí mỗi người đem theo 500 gia nhân nhập môn là m đệ tử giáo chủ Sanjayavelatthaputta - một trong 6 vị giáo chủ nổi tiếng đương thời.

Một hôm, Upatissa thấy đại đức Assaji - một trong đoà n năm Kiều Trần Như - đang đi khất thực. Bị thu hút bởi thánh phong đạo cốt và nét mặt vô cùng trầm nghị của Ðaị Ðức, Upatissa theo chân Ðại Ðức đến địa điểm ngọ trai ở ven rừng, được Ðại Ðức nói cho nghe bà i kệ về định lý Nhân-Duyên sinh. Câu kệ như vậy:

Ye dhammà hetuppabhavÃ
Tesam hotum tathà gato
Tesanca yo nirodho ca
Evam và dì mahà samano
Vạn pháp do duyên sinh
Duyên diệt vạn pháp diệt
Ðức Phật Ðại sa-môn
Hằng giáo huấn như vậy.

Nghe xong, Upatissa được đắc quả Tu-đà -hườn. Trở về tìm Kolita đọc cho nghe nguyên văn bà i kệ. Vừa nghe xong Kolita cũng đắc quả Tu-đà -hườn. Sau khi chứng quả Tu-đà -hườn, cả hai quyết tâm đi bái kiến Ðức Phật, Upatissa bèn rủ 500 gia nhân cùng đi, nhưng chỉ có 250 người tình nguyện đi, còn 250 người xin ở lại.

Khi được bái kiến và nghe Ðức Bổn Sư thuyết pháp, tất cả đều đắc quả A-la-hán và được Ðức Bổn Sư cho xuất gia bằng thắng duyên "Thiện-lai-Tỳ-kheo". Riêng Upatissa mãi 15 ngà y sau, trong khi đứng qụat hầu Ðức Bổn Sư được nghe bà i pháp Vedanà pariggahasutta (định lý của mọi cảm thọ ) do Ðức Bổn Sư thuyết cho cháu trai Ðại Ðức tên Dìghanakha lúc bấy giờ còn là một du sĩ ngoại đạo nghe và chính nhờ nghe bà i pháp nà y mà đắc được quả vị A-la-hán bậc có bốn tuệ vô ngại giải. Sau đó, không lâu, Ðại Ðức được Ðức Phật chính thức ấn chứng thánh vị Ðệ Nhất Trí Tuệ.

Trong kinh Ðại Niết Bà n kể rằng, sau khi mãn mùa an cư tại là ng Veluva, Ðức Thế Tôn trở về Kỳ-viên Tịnh-xá. Ðại Ðức đến bái kiến và đi tìm một chổ vắng nhập thiền. Sau khi xuất thiền, Ðại Ðức dùng thiên nhãn tìm hiểu về thời gian Niết bà n của các vị Ðaị Ðệ Tử thì được biết theo thông lệ các vị Ðại Ðệ Tử nhập diệt trước Ðức Phật.Tự thấy thời gian sống của mình chỉ còn bảy ngà y, Ðại Ðức liền tìm hiểu về địa điểm Niết bà n. Ngay khi ấy, Ðại Ðức cũng biết thêm rằng: Ðại Ðức Rà hula (Ra hầu la) tịch diệt tại cõi trời Tam Thập Tam (Tà vattimsa), Ðại Ðức Annà kondanna tịch diệt tại hồ Chaddanta gần chân núi Hi-mã-lạp. Ðại Ðức liên tưởng đến thân mẫu, lúc bấy giờ vẫn còn giữ tín ngưỡng Bà -la-môn giáo, mặc dù bà là thân mẫu của bảy vị A-la-hán - cá nhân Ðại Ðức, ba vị bà o đệ và ba vị bà o muội. Trong những ngà y cuối cùng, nhận thấy thắng duyên thánh đạo của thân mẫu đã đến thời kỳ chứng ngộ do chính Ðại Ðức trực tiếp khai thị, Ðại Ðức quyết định chọn căn phòng lúc xưa mình chà o đời là m địa điểm Niết bà n.

Ðại đức hướng dẫn thầy Cunda - bà o đệ của Ðại Ðức - và 500 vị tỳ kheo đồng sự đến bái biệt Ðức Bổn Sư. Trong phần xin phép Ðức Bổn Sư để Niết bà n, Ðại Ðức nói rất cảm động:

-- Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn cho phép đệ tử được tán dương ân đức của Thế Tôn, vì thời hạn niết bà n của đệ tử đã đến, đệ tử phải từ bỏ cuộc sống phù du nà y: "Cao cả thay ! Ðức Thế Tôn, một đấng cứu thế, một thánh nhân vĩ đại ! Nhờ Thế tôn mà đệ tử được giải thoát, không còn đi, lại trong cỏi trầm luân đầy khổ lụy nà y." Cuộc sống giai đoạn của đệ tử chỉ còn có bảy ngà y ngắn ngủi. Rồi đây ngũ uẩn đệ tử sẽ rả tan trở về bốn đại và , đó là biểu hiệu gánh nặng luân hồi đã được quăng xuống.

Bạch Ðức Thế Tôn, bạch Ðại Ðức Hồng ân, trong giây phút sau cùng, đệ tử được ca ngợi ân đức vô lượng của Thế Tôn và , đệ tử xin đệ đầu bái biệt. Ðức Thế Tôn cho phép đệ tử được từ bỏ cái sắc tướng rà ng buộc hiện hữu để được trở về với thể tánh chơn thường bất tử.

Ðức Thế Tôn nghiêm từ:

-- Nà y Sà rìputta, ngươi sẽ Niết bà n tại đâu?

-- Bạch Ðức Thế Tôn, đệ tử sẽ Niết bà n ngay tại căn phòng mà ngà y xưa đệ tử sanh ra.

-- Hãy liệu lấy thời cơ thích hợp. Sau lần tiếp xúc nà y, các pháp hữu của ngươi sẽ không còn cơ hội gặp lại một mẫu Tỳ-kheo như ngươi nữa, vậy ngươi nên ban bố cho họ một thời pháp cuối cùng.

Lãnh hội được ý Ðức Thế Tôn muốn Ðại Ðức hiển lộng thần thông, rồi sau sẽ thuyết pháp, Ðại Ðức đệ đầu đảnh lỠxong bèn bay lên hư không cao khỏan một cây thốt nốt rồi đáp trở xuống lỠPhật. Lần thứ hai, bay cao gấp đôi rồi trở xuống. Lần thứ ba, bay cao gấp ba. Lần thứ tư, cao gấp bốn. Lần thứ năm, cao gấp năm. Lần thứ sáu, cao gấp sáu. Trong sáu lần, Ðại Ðức đều bay trở xuống lỠPhật. Ðến lần thứ bảy, bay lên cao khoản bảy cây thốt nốt Ðại Ðức bèn an vị trên hư không thuyết pháp, và kẻ xa người gần đều nghe rỏ pháp âm của Ðại Ðức. Thời pháp kéo dà i tương đối lâu. Dân chúng trong thà nh Xá - vệ hay tin, ùn ùn kéo nhau đổ sô đến Kỳ-viên Tịnh xá như nước trà n bờ.

Sau khi kết thúc bà i pháp, Ðại Ðức bay trở xuống quì mọp dưới chân Ðức Thế Tôn, cẩn bạch:

-- Bạch Ðức Thế tôn, phút vĩnh biệt của đệ tử đã điểm.

Ðức Thế Tôn khoan thai rời hương thất đến đứng trên một tảng đá ngọc ma-ni phía trước hương thất. Ðại Ðức chấp tay, vai mặt hướng và o Ðức Thế Tôn, cung kính đi nhiỠu ba vòng, quì đảnh lỠở bốn phía: sau lưng, tay trái, tay mặt và phía chính diện Ðức Thế Tôn, nói lời vĩnh quyết:

-- Bạch Ðức Thế Tôn, lần đầu tiên, đệ tử được quì mọp dưới chân Ðức Phật Tổ Anomadà ssì cách nay hơn một a-tăng-kỳ kiếp, mục đích để được bái kiến và là m đệ tử Ðức Thế Tôn nay nguyện ước ấy đã viên thà nh. Từ nay, Ðệ Tử không còn được bái kiến Thế Tôn nữa.

Bái biệt xong, Ðại Ðức đứng chấp tay đi lùi, đến khuất tầm mắt Ðức Thế Tôn, bèn quì đảnh lá» lần cuối cùng rồi mới quay mặt đi luôn. Ngay lúc ấy, địa cầu rung chuyển, như không ngăn được niềm thương tiếc và đại dương nổi phong ba như đồng vọng thét gà o xúc cảm. Ðức Thế Tôn dạy các thầy tỳ kheo hiện diện: -- "Các thầy hãy đi tiển đüa huynh trưởng các thầy đi!"

Chư vị tỳ kheo bèn theo tiển chân Ðại Ðức. Khi đến tam quan, Ðại Ðức dừng lại và khuyên các vị hãy trở về tiếp tục cuộc sống tinh cầnvà nhớ phục dịch Ðức Thế Tôn thập phần cẩn trọng. Nói xong, Ðại Ðức tiếp tục hà nh trình. Phật tử tại gia kéo nhau theo sau vừa đi vừa khóc than kể lể, Ðại Ðức phải dừng chân an ủi:

-- Nà y các đạo hữu ; các đạo hữu chớ quá khóc than bi lụy. Hãy lo tinh tiến tu hà nh. Các hữu vi pháp đều vô thường, biến hoại. Chỉ có Niết-bà n mới là cảnh giới tịnh lạc, chơn thường. Các đạo hữu hãy trở về đi.

Nhờ các Phật tử trở lui, Ðại Ðức mới lên đường. Ngà y đi, đêm nghĩ. Suốt con đường định mệnh nà y, Ðại Ðức đều khuyến nhắc, sách tấn phật tử, tích cực tu thân hà nh thiền để hưởng phúc lạc hiện tại và vị lai.

Và o buổi chiều ngà y thứ bảy, Ðại Ðức về đến là ng, ngồi nghĩ chân dưới một góc cây gần cổng là ng. tình cờ, ngay lúc ấy, người cháu trai của Ðại Ðức tên Uparivata hữu sự đi ngang, thấy Ðại Ðức, bèn đến gần đãnh lỠ, Ðại Ðức hỏi:

-- Bà ngoại con có nhà không?

-- Bạch ngà i, có.

-- Là m phiền con thông báo dùm, bần đạo đã về đến và con nhớ thưa bà rằng: "bần đạo sẽ lưu lại một ngà y, xin Bà dọn chổ cho bần đạo ngay trong căn phòng mà bần đạo đã chà o đờI. Ðồng thời, sắp đặt chổ nghĩ cho 500 vị tỳ kheo đồng hà nh với bần đạo".

Uparivata trở về tường thuật đúng như lời dặn của Ðại Ðức.

Nghe xong Bà ngẩm nghĩ: tại sao con ta lại trở về và yêu cầu cung cấp chổ nghĩ cho nhiều người quá vậy? Sao lại muốn ở ngay trong phòng lúc xưa nó chà o đời? Thí bỏ cuộc đời son trẻ đi tu, bộ khi về già lại muốn là m cư sĩ hay sao?.

Mặc dù nghĩ thế, nhưng bà cũng chuẩn bị thật đầy đủ. Bà con trong là ng tập hợp đốt đuốc đi rước Ðại Ðức.Về đến nhà , Ðại Ðức mời chư tăng đến những nơi tạm nghĩ và , sau đó ngà i và o căn phòng riêng của mình.

Lúc bấy giờ bịnh đi tả cấp tính bộc phát trầm trọng, Ngà i tỏ dấu vô cùng đau đớn. Một cái chậu mang ra thì một cái chậu khác được mang và o. Thấy bệnh tình Ðại Ðức có mòi nguy kịch, mẹ ngà i đứng nhìn về phía phòng tôn giả suốt đêm nhưng không dám đến gần. Ngay lúc ấy, bốn vị Thiên Vương thân hà nh đến gần giường Ðại Ðức, khiến gian phòng rực sáng lạ thường. Ðại Ðức hỏi:

-- Các vị là ai?

-- Bạch ngà i, chúng tôi là Tứ Ðại Thiên Vương.

-- Các vị đến có mục đích gì?

-- Chúng tôi xin được phục dịch Ngà i trong cơn bệnh hoạn.

-- Xin các vị an tâm ra về. Ở đây, đã có thị giả chăm sóc bần đạo rồi.

Tứ Ðại Thiên Vương vừa biến mất, thì đức vua trời Ðế Thích Sakka hiện đến. Và sau hết là vị Trời Phạm Thiên đến vấn an. Ðại Ðức đến khiêm tốn trấn an, cảm ơn và xin họ yên tâm ra về. Thấy chuyện lạ, mẹ ngà i tìm hỏi thầy Cunda, nhưng Thầy chỉ báo cáo bệnh trạng và bạch cho Ðại Ðức biết là có mẹ đến thăm. Ðại Ðức cho mời và o và hỏi:

-- Vì sao Thân mẫu lại đến đây và o giờ nà y?

-- Ðến thăm con, con ạ! Nà y con, con hãy nói cho mẹ nghe. Những nguuời đến thăm con đầu tiên là ai vậy?

-- Thưa mẹ, đó là bốn vị Ðại Thiên Vương

Bà mẹ trố mắt:

-- Bộ con lớn hơn những vị đó sao?

-- Thưa mẹ, họ là những nguuời hộ pháp. Khi Ðức Bổn Sư đản sanh, họ cũng phải hầu hạ như những cận vệ quân hầu hạ đức vua vậy.

-- Còn vị sau đó là ai?

-- Thưa mẹ, đó là vị vua Trời Ðế Thích (Sakka).

-- Vậy còn lớn hơn cả vua Trời Ðế Thích nửa sao?

-- Thưa mẹ, ông ta cÅ©ng nhuu một vị Sadi nhỏ theo hầu một vị Tỳ -kheo. Ngà y Ðức Bổn Sư từ tầng trời thứ 33 (Ðạo-lợi-thiên) trở về trái đất, thì chính Vua Trời mang bình bát và y phục tiển đüa Ðức Thế Tôn với tất cả lòng thương kính.

-- Còn vị sau cùng là ai, mà hà o quang chiếu sáng quá vậy?

-- Thưa mẹ, đó là vị Trời Ðại Phạm Thiên, mà mẹ thờ đó.

--Trời! Vậy thì con còn lớn hơn các đấng Ðại Phạm Thiên mà xưa nay mẹ hằng sùng bái nữa sao?

-- Vâng thưa mẹ, Và o ngà y Ðức Bổn Sư đản sanh, chính bốn vị Ðại Phạm Thiên đã phải đón rước Thánh Nhi trong một vuông lưới báu của cõi trời.

Nghe vậy, mẹ ngà i nghĩ: nếu oai lực con ta như vầy thì oai lực Thầy của con ta còn phi thường kỳ vĩ đến mức nà o. Trong lúc bà đang suy nghĩ thì luồng điện phỉ lạc chạy tỏa khắp châu thân khiến tâm tư bà vô cùng hoan hỉ. Biết rõ dòng suối thiện tâm đang chuyển hướng chảy về đại dưong công đức, Ðại Ðức khai thông:

-- Thưa mẹ, mẹ biết không, trong những ngà y như ngà y Ðức Bổn Sư ra đời, thà nh Phật, chuyển Pháp-luân, nhập Niết-bà n và nhiều lần khác nữa, quả địa cầu nà y đều rung chuyển. Không ai có thể sánh được với Ngà i về phương diện giới, định, tuệ, giải thoát và giải thoát tri kiến.

Ðại Ðức tuần tự giải thích về ân đức Phật một cách khúc chiết và mạch lạc. Khi bà i pháp vừa chấm dứt thì bà đắc quả Tu-đà -hườn. quá hoan hỉ với thà nh quả kỳ diệu bất tử, bà nói:

-- Nà y con yêu dấu của mẹ, thưa Ngà i Upatissa, tại sao trong bao lâu nay con không ban bố cho mẹ pháp vị cam lộ nà y, cho đến hôm nay, con mới trao sự nghiệp kỳ diệu tịnh lạc nà y?

Ðaị Ðức tự thấy mình đã đền ơn sanh dưỡng của mẹ một cách xứng đáng và trọn vẹn, bèn khuyên Bà trở về tư phòng an nghỉ. Bà đi khỏi, ngà i bèn hỏi thầy Cunda đã canh mấy rồi. Ðược biết trời sắp bình minh, Tôn giả nhờ thầy Cunda đở mình ra ngoà i phòng khách và cung thỉnh chư tăng vân tập, Tôn giả nói với chư Tỳ-kheo:

-- Nà y chư pháp hữu, các vị đã sống với tôi suốt 44 năm dà i. Nếu thân, khẩu, ý tôi có những khuyết điểm nà o, xin các vị từ bi hỉ xã.

Chư vị Tỳ-kheo đồng xác nhận là suốt bao năm theo hầu Tôn giả như hình với bóng, quả thật các vị chưa hề có một điều bất mãn nà o dù nhỏ. Ðối với Tôn-giả, chư vị lập hứa: Nguyện suốt đời noi gương Tôn-giả dù Ngà i khuất bóng. Vì hình ảnh Ngà i đã in sâu, đậm nét trong tâm khảm chư vị. Chư vị cũng đồng thanh xin Tôn-giả tha thứ cho những lỗi lầm không thể tránh được. Tôn-giả bà y tỏ sự hoan hỉ.

Khi mặt trời vưà ló dạng, Tôn-giả năm nghiêng tay mặt rồi an nhiên nhập diệt. Hôm ấy là ngà y trăng tròn tháng Kattika tức ngà y rằm tháng chạp Ấn-độ. Cuộc lỠtrà tỳ được đặc dưới quyền điều khiển của thầy Cunda. Chư thiên các tầng trời và dân chúng trong thà nh xá vệ đến chiêm ngưởng đông vô số.

Khi lỠtrà tỳ viên mãn, thầy Cunda lập tức mang tất cả xá lợi và di vật, ngà y đi đêm nghĩ, đem về Kỳ-viên Tịnh xá. Gặp Ðại Ðức Ananda, thầy Cunda cho biết tự sự, cả hai cùng và o đảnh lỠÐức Thế Tôn. Ðại Ðức Ananda buồn bả, bạch Phật:

-- Bạch Thế Tôn, Tôn giả Xá-lợi-Phất đã nhập diệt, và đây là xá-lợi, y, bát của Tôn-giả. Tin nà y quả thật đã là m cho con trở nên yếu đuối, mọi vật chung quanh đều trở nên vô nghĩa.

Ðức Thế Tôn khuyên nhũ.

-- Nà y Anan, sao lại như vậy? Khi Xá-lợi-Phất nhập diệt, ông ấy có bớt đi một phần công đức, một phần an tịnh, một phần trí tuệ hay một phần giải thoát nà o của Anan không?

-- Dạ không, Nhưng Bạch Thế Tôn Tôn-giả Xá-lợi-Phất vừa là huynh trưởng đạo hạnh gương mẫu vừa là vị cố vấn cho sự nghiệp trí tụê của chúng con. Người đã giảng giải Pháp bảo một cách trọn vẹn và , hướng dẫn nhiều vị tỳ-kheo lên hà ng Thánh-đạo. Những công đức lớn lao nà y, là m sao chúng con quên được!

-- Nà y Anan, Như Lai há đã chẳng từng dạy rằng: sớm muộn gì tất cả chúng sanh phải bị chung số phận sinh ly hoặc biệt ly với những gì thân thương yêu quí và gần gủi. Cái gì đã sanh ra tất phải hoại diệt. Không phân ly là điều không thể có. Ðối với chúng Tỳ-kheo thanh tịnh nà y, sự nhập diệt của Xá-lợi-Phất giống như cà nh lớn của một đại thụ gãy xuống.

Sau khi nhận xá-lợi và di vật, Ðức Thế Tôn đứng tại chổ, ca tụng những đức tánh trong sáng và vĩ đại của Ðại Ðức Xá-lợi-Phất rất nhiều và , Ngà i cho kiến tạo thánh tháp tôn thờ xá-lợi.

Những Phật ngôn mà Ðức Thế tôn dùng ca ngợi Ðại Ðức Xá-lợi-Phất trong nhiều trường hợp khác nhau thật là cảm động và thâm diệu. Ở đây, chúng tôi chỉ ghi lại những phật ngôn liên quan đến sự viên tịch của Ðại Ðức, để chúng ta cùng suy nghiệm:

"Nà y các tỳ kheo, đây là những di vật mà u ngọc trai cá»§a một vị tỳ kheo trước đây không lâu đã hoà n thà nh Ba-la-mật hạnh trong thời gian dà i ká»· luật là A-tăng kiếp. Công đức Ba-la-mật ấy đã hình thà nh một vị tỳ-kheo vô cùng khả kính. Ông là nguuời đạt được trí tuệ gần nhất với Như-lai. Trừ Như-lai, không ai bì kịp trí tuệ cá»§a ông. Vì thá»±c chất cá»§a trí tuệ ấy là sá»± quản bát không cùng, nhanh chóng khôn tả, tiềm tà ng. Vô biên và sáng lạng như mặt trời, ông thích đời sống tri túc, yểm ly, thiểu dục, tinh cần và là một hướng đạo viên gương mẫu, một vị cố vấn lỗi lạc, khả kính, khả ái cá»§a rất nhiều đồng đạo. Lòng từ bi cá»§a ông lúc nà o cÅ©ng rộng mỡ, lục căn thanh tịnh, đức kiên nhẫn vững như trái đất. Trong khoản một trăm ngà n kiếp qua, đîa cầu nà y đã từng chuúng kiến ít nhất năm lần những cuộc thoát ly vô cùng hy hữu cá»§a ông. Nà y các tỳ kheo, các thầy hãy hướng về con đường Sà rìputta đã đi, dù cho giờ nà y ông không còn có mặt."

Ðệ tử nhất tâm đảnh lỠngà i Trưởng lão Sà rìputta, vị Tướng quân pháp đẵ được Ðức Thế Tôn ấn chứng thánh vị Ðệ Nhất Trí Tuệ, vị Ðại Ðệ Tử tay mặt của Ðức Bổn Sư.

Cầu mong trí tuệ của Ngà i soi sáng khách hồng trần và đệ tử thấy được lộ trình giải thoát, một con đường duy nhất có khả năng đánh lạc hướng theo dỏi của Ác-ma.


Xem tiếp:
[Ngà i A-nhã Kiều-trần-như] [Ngà i Xá-lợi-phất] [Ngà i Mục-kiền-liên][Ngà i Ðại Ca-Diếp][Tựa]


[Main Index]

Last updated: 10-06-2026

Web master:[email protected]
[email protected]