[BuddhaSasana]

[Unicode Fonts]


       

ANUBUDDHAPPAVATTI

Thinh văn sử

Hòa thượng Hộ Giác soạn dịch


1 - Ngà i Annà kondanna
(A-nhã Kiều-trần-như)


Khoảng một trăm ngà n kiếp trái đất về trước, Ðức Phật Jadumuttara (Liên Hoa Phật) giáng trần. Ngà i có tông hiệu như vậy là vì lúc nà o cũng có liên hoa hiện lên đỡ chân ngà i. Ðặt biệt là liên hoa ấy biến và hiện rất nhịp nhà ng. Nghĩa là liên hoa hiện lên đỡ chân mặt thì liên hoa ở chân trái biến và ngược lại. Tóm lại, chân Ngà i không bao giờ chạm đất. Hiện tượng đặc biệt nà y có ngay khi Ngà i vừa bước chân rời khỏi bồ đoà n trong ngà y thà nh Phật.

Trên đường hoằng pháp, Ngà i trở về tế độ Hamsavati (Hăm-sa-va-ti) để độ vua cha hoà ng tộc và trà o thân. Ða số đều được đắc đạo chứng quả tùy quá trình công đức. Ðức vua cung thỉnh Phật và một trăm ngà n vị thánh Tăng theo hầu thọ trai tại triều trong một thời gian hữu hạn.

Lúc bấy giờ ngà i Annà kondanna là con trai của một gia đình đại phú tại kinh đô nà y. Trong ngà y Ðức Phật chính thức ấn chứng pháp vị Trưởng Lão đệ nhất cho một vị Tỳ-kheo, vì vị nà y hội đủ điều kiện căn bản là : được Ðức Phật đặc truyền đại giới bằng phương thức Thiện-lai Tỳ-kheo trước nhất, được liỠu đạo trước nhất, được gặp và nghe chánh pháp trước nhất. Chứng kiến sự kiện quan trọng nà y, chà ng thanh niên phát bồ đề tâm cung thỉnh Ðức Phật và Thánh chúng về tư gia thiết lỠtrai tăng cúng dường bảy ngà y. Ngà y đầu, chà ng cúng dường vải hảo hạng để may y cho Ðức Phật. Ðúng ngà y thứ bảy, chà ng cúng dường vải may y đến toà n thể một trăm ngà n thánh tăng hiện diện và chính thức phát nguyện: "do phước báu cúng dường thanh tịnh trong suốt bảy ngà y, xin cho đệ tử được xuất gia trong chánh pháp của Ðức Phật Tổ vị lai và được đắc ngộ trước nhất."

Ðức Thế Tôn Padumuttara, với thiện nhãn thuần tịnh, nhận thấy không có chướng duyên ngăn ngại, Ngà i hoan hỉ thọ ký: "Trong một chu kỳ là một trăm ngà n kiếp trái đất về sau sẽ có một vị Phật tôn hiệu là Gotama giáng trần hóa đạo, lúc bấy giờ đại nguyện của ngươi sẽ được thà nh tựu".

Sau khi Ðức Phật Padumuttara niết bà n, chà ng kiến tạo một ngôi nhà nhỏ bằng ngọc để tôn trí xá lợi an vị bên trong bảo tháp và thực hiện nhiều thiện sự nhất là hạnh bố thí suốt một trăm ngà n tuổI. Khi thân hoại mạng chung, chà ng được sanh thiên. Suốt chín muôn chín ngà n chín trăm chín mươi chín kiếp, chà ng đều được hưởng phước nhuận thiên. Ðến kiếp thứ chín, muôn chín ngà n chín trăm lẻ một, Ðức Phật Vipassi (Tì-bà -thi ) giáng trần. Lúc bấy giờ, chà ng sanh là m phú hộ tại là ng Rà magà ma (Ra-ma-ga-ma) nước Bandhumati (Banh-thu-ma-ti) tên Mahà kà la và vẩn tiếp tục thực hiện mọi thiện sự. Một hôm, chà ng rủ người em trai tên Cullakà la thực hiện đại thế bằng cách lấy tinh chất trong hạt lúa non vừa ngậm sửa để cúng dường Ðức Phật và chúng Tăng, nhưng người em không hoan hỉ. Chà ng bèn chia đôi lúa ruộng và thực hiện hạnh đại thí theo sở nguyện. Ngoà i ra, chà ng còn tổ chức đại thí tám lần tiếp theo từ lúc chắc hột đến khi vô bồ. Sau khi thân hoại mạng chung, chà ng lại được sanh thiên.

Suốt chín mươi mốt kiếp (91) chà ng đều hưởng phước nhơn thiên. Ðến kiếp cuối thứ 91, chà ng sanh là m đại phú gia trong là ng Donavatthu (Ðô-na-oach-thu) gần Kapilavatthu (Ca-bì-la-vệ) tên là Kondanna (Côn-đanh-nha, Kiều-trần-như). Lớn lên, chà ng suốt thông toà n bộ giáo hệ Phệ-đà và là một vị trong số tám vị Bà -la-môn tiên đoán hậu vận của Thái-tử Sỉ-Ðạt-Ta. Chính nhờ biết rỏ phước tướng và hậu vận của Thái-tử nên chà ng dứt khoát đi tu, lập nguyện sẽ là m đệ tử phục vụ ngà i và mọi việc đã diển tiến đúng như chà ng dự liệu: Tại vườn Lộc-giả, Kondanna được nghe Ðức-Phật thuyết bà i kinh chuyển Pháp-luân và đắc được pháp nhãn. Sau đó mấy hôm, nhờ nghe Ðức Phật thuyết bà i Anattalakkhana Sutta (Vô-ngã-tướng kinh) nên đắc A-la-hán, một quả vị cao nhất trong hà ng Tứ Thánh.

Ðên khi Phật Pháp được truyền bá sâu rộng khắp cõi Diêm-phù-đề, Ðức Bổn Sư chính thức ấn chứng pháp vị cho Ðại-đức là Trưởng lão Ðệ nhất của giới Tỳ-kheo.

Mỗi khi Ðức Phật thuyết pháp thì Ðại Ðức Xá-Lợi-Phất tọa vị bên mặt, Ðại Ðức Mục-Kiền-Liên bên trái, còn lại Ðại Ðức thì ngay sau lưng Ðức Phật và tiếp theo là chư vị Tỳ-kheo bao quanh. Trong những trường hợp như vậy, nhị vị Ðại Ðệ Tử xem Ðại Ðức như đại-phạm-thiên hoặc như bậc huynh-trưởng khả kính trong đạo trà ng, cho nên rất cẩn trọng và kiên dè mỗi khi ngồi gần Ðại Ðức. Trước cử chỉ cẩn trọng và kiên dè của nhị vị Ðại Ðệ Tử, Ðại Ðức tự nghĩ: Nhị vị Ðại Ðệ Tử đã phải lập nguyện tô bồi công đức và trì hà nh Ba-la-mật suốt một A tăng kỳ và một trăm ngà n kiếp để được ngồi gần hầu Phật, nay nguyện ước đã thà nh nhưng Nhị vị lại quá kiên dè ta. Vậy, ta phải tạo sự tự nhiên cho Nhị vị. Dùng thiên nhãn quán chiếu, nhận thấy người cháu trai tên Punna (Bun-na) có căn duyên xuất gia và sẽ trở thà nh một vị Pháp Sư lỗi lạc trong hà ng Tăng giới, Ðại Ðức bèn trở về quê tiếp độ cậu Punna xuất gia và , sau đó xin phép Ðức Thế Tôn đến tịnh cư tại bờ hồ Chaddanta nơi thường trú của chư Phật Ðộc-giác suốt mười hai năm dà i.

Nguyên nhân Ðại Ðức đến định cư nơi đây là vì bản tánh không thích tiếp xúc và bận rộn mà cuộc sống tập thể rất khó tránh. Hơn nữa, Ðại Ðức có nhiều phúc đức gần như Ðức Phật. Phúc đức ấy lan rộng khắp một muôn thế giới sa-bà . Các hà ng thiên chúng mỗi khi bái kiến, cúng dường các loại hoa quí và các thứ hương liệu đến Ðức Phật thì họ cũng đến bái kiến và cúng dường Ðại Ðức khi còn sống chung tập thể. Do đó, sự bận rộn về phương diện giao tế cũng như giảng đạo không thể tránh được.

Sau mười hai năm định cư, Ðại Ðức trở về bái kiến Ðức Phật tại chùa Trúc-lâm vương xá. Ðại Ðức mọp sát chân Ðức Phật, vừa hôn vừa bóp chân vừa xưng tên: "Ðệ tử là Kondanna! Ðệ tử là Kondanna!". Trước cử chỉ vô cùng thương kính mà Ðại Ðức bộc lộ đối với Ðức Phật đã khiến Ðại Ðức Vangisa, một vị Ðệ nhất biện tà i, đang ngồi trong hội chúng liền đứng lên chấp tay tán thán: "Ðại Ðức Kondanna, bậc tinh tiến bất thối, bậc ẩn sĩ, bậc tinh giả, đã đạt được cứu cánh phạm hạnh, bậc có nhiều thần lực, đã đắc Tam Thông là bậc thừa tự chánh pháp đang đãnh lỠbà n chân phúc đức của Ðấng Bổn Sư Tư Phụ."

Tại bờ hồ Chaddanta, một đà n voi khoảng 8 muôn con, sinh sống tại đây. Chúng được Tượng chí phân công phục dịch chư Phật Ðộc giác về mặt ẩm thực và an ninh. Diện tích hồ khoản 50 do tuần.Từ trong bờ trở ra khoản 20 do tuần, nước rất cạn, có thể đứng được, cát hạt to, trắng như pha lê, không cặn bùn, không rong rêu. Ở chu vi cạn nà y, loại liên hoa như bạch-liên, hồng-liên, huỳnh-liên, xích-liên mọc rất thứ tự. Những nơi thật cạn thì có những loại lúa thơm mà u đỏ, những nơi tương đối ráo thì có các loại mía thật ngọt, thật mềm; những nơi ráo hơn thì có các loại chuối ngon,thơm,ngọt và dẻo; những nơi đất khô thì các loại cây ăn trái tự động mọc lên thứ tự, như mít, soà i, mận, cam, quít, vân vân và vân vân. Những yếu kiện nà y đã giúp các con voi có phương tiện dể dà ng phục dịch chư Phật Ðộc Giác.

Ngà y Ðại Ðức đến, đà n voi tỏ ra vô cùng hoan hỉ. Một cuộc họp mặt quan trọng đã diỠn ra dưới quyền chủ tọa của tượng chúa để phân công phục dịch Ðạị Ðức. Vì biết rỏ bản tánh Ðại Ðức không thích rộn rà ng nên các con voi được Tượng chúa dặn dò cẩn thận để tránh cho Ðại Ðức những phiền rộn không đáng.

Buổi sáng, Ðại Ðức đắp y mang bát bay đến khất thực tại cung điện của một vị tiên Nà gadanta (Na-ga-đanh-ta) trên ngọn núi Kelà sa (Kê-la-sa). Vị tiên nà y rất hoan hỉ cúng dường Ðại Ðức các thực phẩm của tiên. Quả phước đặc biệt nà y sở dĩ thà nh tựu riêng cho Ðại Ðức là do nhờ hạnh bố thí bằng cách bắt thăm mà Ðại đức đã thực hiện liên tục suốt hai muôn năm trong thời kỳ Ðức Phật Kassapa (Ca-Diếp).

Trong những ngà y cuối cùng, Ðại Ðức tự chọn nơi Ðại Ðức định cư suốt mười hai năm là m địa điểm Niết bà n vì nghĩ đến công quả phục dịch vô cùng tận tâm trong sạch của tám muôn con voi. Quyết định song, Ðại Ðức trở về Trúc-lâm xin phép Ðức Thế Tôn:

-- Bạch Thế Tôn, đệ tử kính xin Ðức Thế Tôn cho phép đệ tử Niết bà n.

-- Kondanna, ngươi sẽ chọn nơi nà o là m địa điểm Niết bà n?

-- Bạch Ðức Thế Tôn, đệ tử chọn bờ hồ Chaddanta

-- Kondanna, hãy khế cơ, khế thời hà nh sự.

Ðược Ðức Thế Tôn tùy thuận và , vì có dụng ý bồi đấp đức tin của hà ng Phật tử, nên trên đường trở về địa điểm niết bà n, Ðại Ðức dùng thần thông bay từ từ thật chậm trên không trung để cho mọi người được chiêm ngưỡng. Trước thần lực phi thường nà y, tất cả đều phát bồ đề tâm qui ngưỡng chánh pháp.

Ngay chiều hôm ấy, Ðại Ðức xuống hồ Chaddanta tắm gội sạch sẽ, quét dọn tư thất, sắp xếp thứ tự các thứ giáo dụng, đắp y ngồi nhập định suốt đêm và an nhập Niết-bà n. Khi bình minh tỏ rạng, ngay lúc ấy hiện tượng lạ xảy ra: cây cối cuối đầu như tiển biệt một vị đại phúc đức. Sáng hôm ấy, con voi có bổn phận phục dịch Ðại Ðức, đứng chờ ngà i ở đầu đường kinh hà nh nhưng không thấy, bèn đến tư thất thò vòi và o sờ nhẹ bà n chân thì mới hay ngà i đã tịch diệt. Nó lập tức đút vòi vô miệng rống lên thật to. Tiếng rống bi thống, bất thần ấy vang vang bất tận khắp cả núi rừng. Nghe tiếng rống bất thường ấy, đà n voi lập tức tề tựu trong trật tự. Tiếng rống của đà n voi 2026 con là m chấn động đại sơn Hi-mã. Sau đó, chúng cung nghinh nhục thể Ðại Ðức nhiỠu khắp một vòng tuyết sơn và trở về an trí nguyên vị.

Ðức Thiên-vương Ðế-Thích sai một vị tiên tên Vissakamma xuống tận nơi, dùng thần lực biến ra một ngôi nhà bằng ngọc cao 9 do-tuần để an vị nhục thể Ðại Ðức. Chư thiên các tầng trời thứ bậc luân phiên cung nghinh nhục thể Ðại Ðức đi nhiểu tại các tầng trời sở hữu kể cả cỏi trời phạm thiên và cuối cùng nhục thể được cung nghinh trở về vị trí củ.

Một hỏa đà i bằng các loại trầm quí ky hương được dựng lên do thần lực của chư thiên. Ngay lúc ấy, bổng từ hư không xuất hiện 500 vị Thánh Tăng đến tụng những bà i kệ kinh-cảm và những bà i kinh liên quan định lý vô thường, khổ, vô-ngã và sự an vui tuyệt đối của Niết-bà n. Sau khóa lỠtưởng niệm, Ðại Ðức Anulaudda (A-nâu-lầu-đà ) thuyết pháp. Chư thiên được nghe pháp đắc đạo chứng quả nhiều vô số.

Xá lợi Ðại Ðức trắng đẹp như mà u hoa là i búp, được chư Thánh Tăng cung thỉnh đem về kính dâng lên Ðức Phật tại chùa Trúc-lâm. Một tấu xảo phi thường là hôm ấy, Ðức Thế Tôn từ hương thất quan lâm đến gần cá»­a Tam quan Trúc-lâm thì xá lợi cá»§a Ðại Ðức do chư vị Thánh Tăng cung nghinh cÅ©ng vừa đến. Ðức Thế Tôn trong tư thế đứng, đüa tay mặt nhận xá lợi, tay trái chỉ xuống đất. Lạ lùng thay! Ngay chổ ấy mọc lên một ngôi tháp bằng và ng và xá lợi Ðại Ðức được an trí trong ngôi tháp ấy.

Trong Trưởng Lão kệ có nhiều bà i kệ của Ðại Ðức. Ở đây, chúng tôi xin ghi lại một và i bà i tượng trưng đỠcúng dường và niệm ân một vị thánh tăng Niên Trưởng. "Trên quả địa cầu nà y, có rất nhiều bảo vật. Thuận cảnh thích hợp với tham dục lúc nà o cũng chi phối nội tâm. Mưa trời là m sạch bụi trần cũng như chánh niệm về định lý vô thường, bất lạc và phi ngã sẽ chế phục được các tà niệm". Ðối với Ðại Ðức, những lời tán thán sau đây được phổ cập trong tăng chúng:

--"Ðại Ðức là bậc tinh cần bất thối, đã diệt được nguồn sinh tử, đã đạt cứu cánh phạm hạnh, đã khẻ mở vỏ cứng, đã cắt đứt mọi trói buộc, đã san bằng được đại sơn, đã cặp bến an toà n, đã vượt thoát ác ma, không phóng dật, cẩn ngôn, luôn luôn thúc liỠm các căn, có nhiều thiện hữu, có trí tuệ, đã diệt tận khổ đau, có tiết độ vật thực, chịu đựng muỗi mòng và các loại bò sát như tướng chiến lâm trận."

Thỉnh thoảng Ðại Ðức tá»± bà y tỏ cảm niệm: "Tôi không tham sống, không muốn chết mà chỉ chờ đợi thời cÆ¡. Tôi đã được phụng sá»± Ðức Như-lai, đã y cứ phụng hà nh chánh pháp, đã quăng bỏ gánh nặng, đã loại trừ mọi nhân duyên đüa đến hiện hữu, đã hoà n thà nh hạnh tư lợi cá»§a người xuất gia và tá»± thấy không cần thiết phải có bạn đồng trú."

Ðức Thiên vương Ðế Thích có lần đến cầu pháp, sau khi thính pháp, đã tán thán:

--"Tôi vô cùng hoan hỉ vì được nghe pháp-âm huyền diệu và được thưởng thức pháp vị thật tuyệt vờI. Ðại Ðức đã thuyết giảng pháp ly dục có khả năng đoạn diệt mọi chấp thủ".

Tóm lại, Ðại Ðức Annà kondanna đã phát đại nguyện và được Ðức Phật Padumuttara thọ ký. Suốt một trăm ngà n kiếp trái đất hưởng phước nhơn thiên, đến kiếp thứ một trăm ngà n lẽ một thì được sanh là m đại phú gia tại là ng Donowatthu, gần kinh đô Kapilavatthu được xuất gia cùng lúc với đoà n năm Tỳ-kheo và được đắc quả A-la-hán sau khi nghe Ðức Phật thuyết kinh chuyển pháp-luân và kinh vô-ngã-tướng tại vườn Lộc-uyển. Ðại Ðức định cư suốt 12 năm tại bờ hồ Chaddanta gần chân núi Hi-mã-lạp và niết bà n tại đây. Xá lợi được tôn trí tại tháp và ng do Ðức Bổn Sư dùng ngón tay thần hóa hiện gần Tam quan chùa Trúc Lâm, nước Vương-xá.

Ðệ tử thà nh tâm kính lỠngà i Trưởng Lão Annakondanna, một vị Thánh Tăng có phước lớn gần như Ðức Phật, vị Tỳ-kheo Niên-trưởng trong đạo trà ng của Ðức Bổn Sư. Cầu mong phúc đức vô lượng của Ngà i trợ duyên cho đệ tử đà y đủ nghị lực bước theo dấu chân Ngà i trong cung cách dung thông hữu lậu và vô lậu công đức.


Xem tiếp:
[Ngà i A-nhã Kiều-trần-như] [Ngà i Xá-lợi-phất] [Ngà i Mục-kiền-liên][Ngà i Ðại Ca-Diếp][Tựa]


[Main Index]

Last updated: 10-06-2026

Web master:[email protected]
[email protected]