Thư mục BuddhaSasana

Lưu ý: Đọc với phông chữ CN-Times nâng cấp hay Arial Unicode MS


 

Trung A HÃ m Kinh
Mục Lục Tổng Quát
01. PHẨM BẢY PHÁP
02. PHẨM NGHIỆP TÆ¯Æ NG ƯNG
03. PHẨM XÁ-LÊ TỬ TÆ¯Æ NG ƯNG
04. PHẨM VỊ TẰNG HỮU PHÁP
05. PHẨM TẬP TÆ¯Æ NG ƯNG
06. PHẨM VÆ¯Æ NG TÆ¯Æ NG ƯNG
07. PHẨM TRƯỜNG THỌ VÆ¯Æ NG
08. PHẨM UẾ
09. PHẨM NHÂN
10. PHẨM LÂM
11. PHẨM ĐẠI (Phần đầu)
12. PHẨM PHẠM CHÍ (Phần đầu)
12. PHẨM PHẠM CHÍ (Phần sau) 
13. PHẨM CĂN BỔN PHÂN BIỆT
14. PHẨM TÂM
15. PHẨM SONG
182. Kinh Mã Ấp (I)
183. Kinh Mã Ấp (II)
184. Kinh Ngưu Giác Sa-La Lâm (I)
185. Kinh Ngưu Giác Sa-La Lâm (II)
186. Kinh Cầu Giải
187. Kinh Thuyết Trí
188. Kinh A-Di-Na
189. Kinh Thánh Ðạo
190. Kinh Tiểu Không
191. Kinh Đại Không
16. PHẨM ĐẠI (Phần sau)
17. PHẨM BÔ-ĐA-LỢI
18. PHẨM LỆ

 

Source: LotusMedia lotusmedia.net
 
中 阿 含 經
KINH TRUNG A HÀM
Hán Dịch: Phật Ðà Da Xá & Trúc Phật Niệm,
Việt Dịch & Hiệu Chú: Thích Tuệ Sỹ

15. PHẨM SONG

191. KINH ĐẠI KHÔNG[1]

Tôi nghe như vầy:

Một thời Đức Phật du hóa giữa những người họ Thích, ở trong thà nh Ca-duy-la-vệ, tại vườn Ni-câu-loại[02].

Bấy giờ Đức Thế Tôn sau khi đêm đã qua, và o buổi sáng sớm, đắp y cầm bát đi và o thà nh Ca-duy-la-vệ khất thực.

Sau khi ăn xong, sau buổi trưa, Ngà i đi đến tinh xá Gia-la-sai-ma Thích[03]. Lúc bấy giờ tại tinh xá Gia-la-sai-ma thích có sắp đặt rất nhiều giường chõng, có rất nhiều Tỳ-kheo trú nghỉ ở trong đó.

Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn từ trong tinh xá Gia-la-sai-ma Thích đi ra, đến Già -la Thích[04] tinh xá. Bấy giờ, Tôn giả A-nan và rất nhiều Tỳ-kheo ở trong tinh xá Già -la Thích đang là m y. Tôn giả A-nan từ xa trông thấy Phật sắp đến, bèn ra nghinh tiếp, rước y bát của Phật, trở và o trải giường ngồi, múc nước rửa chân.

Phật rửa chân rồi, ngồi trên chỗ ngồi của Tôn giả A-nan đã trải sẵn trong tinh xá Già -la Thích và nói rằng:

“Nà y A-nan, trong tinh xá Gia-la-sai-ma Thích có sắp đặt rất nhiều giường chõng, có rất nhiều Tỳ-kheo trú nghỉ ở trong đó chăng?”

Tôn giả A-nan bạch:

“Quả như vậy, bạch Thế Tôn, trong tinh xá Gia-la-sai-ma Thích có sắp đặt rất nhiều giường chõng, có rất nhiều Tỳ-kheo đang trú nghỉ trong đó. Vì sao? Vì chúng con hôm nay đang là m y.”

Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo A-nan rằng:

“Tỳ-kheo không nên ham muốn nói chuyện ồn à o, vui thích trong sự nói chuyện ồn à o, tụ tập để nói chuyện ồn à o, ham muốn đông người, vui thích với sự đông người, tụ tập đông người, không thích rời xa chỗ đông người, không thích sống cô độc ở nơi xa vắng.

“Tỳ-kheo nà o ham muốn nói chuyện ồn à o, vui thích trong sự nói chuyện ồn à o, tụ tập để nói chuyện ồn à o, ham muốn đông người, vui thích với sự đông người, tụ tập đông người, không thích rời xa chỗ đông người, không thích sống cô độc ở nơi xa vắng; vị ấy nếu có hoan lạc nơi sự hoan lạc của bậc Thánh, hoan lạc vô dục, hoan lạc viỠn ly, hoan lạc tịch tịnh, hoan lạc chánh giác, hoan lạc không tà i sản, hoan lạc phi sanh tử, đối với những hoan lạc ấy mà được dỠdà ng không khó, trường hợp nà y không thể xảy ra.

“Nà y A-nan, Tỳ-kheo nà o không ham muốn nói chuyện ồn à o, không hoan lạc trong sự nói chuyện ồn à o, không tụ tập để nói chuyện ồn à o, không ham muốn đông người, không hoan lạc với sự đông người, không tụ tập đông người, muốn rời xa chỗ đông người, thường hoan lạc trong sự sống cô độc nơi xa vắng; vị ấy nếu có sự hoan lạc của bậc Thánh, hoan lạc vô dục, hoan lạc viỠn ly, hoan lạc tịch tịnh, hoan lạc chánh giác, hoan lạc không tà i sản, hoan lạc phi sanh tử, đối với những hoan lạc nà y mà được dỠdà ng không khó, trường hợp nà y tất có thể xảy ra.

“Nà y A-nan, Tỳ-kheo không nên ham muốn nói chuyện ồn à o, hoan lạc trong sự nói chuyện ồn à o, tụ tập để nói chuyện ồn à o, ham muốn đông người, hoan lạc với sự đông người, tụ tập đông người, không thích rời xa chỗ đông người, không thích sống cô độc ở nơi xa vắng.

“Tỳ-kheo nà o ham muốn nói chuyện ồn à o, hoan lạc trong sự nói chuyện ồn à o, tụ tập để nói chuyện ồn à o, ham muốn đông người, hoan lạc với sự đông người, tụ tập đông người, không thích rời xa chỗ đông người, không thích sống cô độc ở nơi xa vắng. Nếu vị ấy chứng đắc thời ái tâm giải thoát[05] và bất thời bất di động tâm giải thoát[06], trường hợp nà y hoà n toà n không xảy ra.

“Nà y A-nan, Tỳ-kheo nà o không ham nói chuyện ồn à o, không hoan lạc trong sự nói chuyện ồn à o, không tụ tập để nói chuyện ồn à o, không ham muốn đông người, không hoan lạc với sự đông người, không tụ tập đông người, muốn rời xa chỗ đông người, thường hoan lạc trong sự sống cô độc nơi xa vắng; vị ấy chứng đắc thời ái tâm giải thoát và bất thời bất di động tâm giải thoát, trường hợp nà y tất có xảy ra.

“Vì sao vậy? Nà y A-nan, Ta không thấy có một sắc nà o khiến Ta ham muốn hoan lạc. Sắc ấy bại hoại, biến dịch, và khi nó đổi khác thì sanh ra sầu bi, khóc lóc, ưu khổ, ảo não. Vì vậy, Ta an trụ nơi một trú xứ khác mà thà nh tựu Chánh đẳng Chánh giác. Đó là vượt qua tất cả sắc tưởng, an trụ nơi ngoại không.

“Nà y A-nan, Ta an trụ nơi trụ xứ nà y rồi, phát sanh sự hoan duyệt. Sự hoan duyệt nà y Ta cảm thọ trong toà n thân với chánh niệm chánh trí, rồi phát sanh hỷ, phát sanh khinh an[07], phát sanh lạc, phát sanh định. Định nà y Ta cảm thọ toà n thân với chánh niệm chánh trí.

“Nà y A-nan, nếu có Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà -tắc hay Ưu-bà -di nà o tìm đến Ta, Ta bèn vì họ mà an trụ trong tâm như vậy như vậy, viỠn ly, an lạc, vô dục. Ta cũng vì họ mà thuyết pháp, khuyến khích, hỗ trợ họ.

“Nà y A-nan, Tỳ-kheo nà o muốn hằng an trụ trong không tánh[08], Tỳ-kheo ấy sẽ giữ vững nội tâm an trụ, tĩnh chỉ, khiến cho chuyên nhất và định[09] Vị ấy sau khi giữ vững nội tâm an trụ, tĩnh chỉ, khiến cho chuyên nhất và định rồi, hãy suy niệm về nội không.

“Nà y A-nan, nếu Tỳ-kheo nói như vầy: “Tôi không giữ vững nội tâm an trụ, tĩnh chỉ, không khiến cho chuyên nhất và định”, thì nà y A-nan, nên biết vị ấy tự là m cho mình rất phiền nhọc[10].

“Nà y A-nan,Thế nà o là Tỳ-kheo giữ vững nội tâm an trụ, tĩnh chỉ, khiến cho chuyên nhất và định? Tỳ-kheo đối với thân nà y có hỷ lạc do ly dục phát sanh, thấm ướt khắp tất cả, thấm ướt nhuần một cách phổ biến sung mãn; hỷ lạc do ly dục sanh không chỗ nà o không biến mãn. Nà y A-nan, cũng như một người tắm gội, đựng đầy bột tắm trong nhà rồi đổ nước và o khuấy rất đều cho nổi bọt lên, thấm ướt thấm nhuần khắp tất cả, phổ biến sung mãn, trong ngoà i kín đáo không có chỗ nà o rỉ ra. Cũng vậy, nà y A-nan, Tỳ-kheo nơi thân nà y có hỷ lạc do ly dục phát sanh, thấm ướt khắp tất cả, thấm ướt nhuần một cách phổ biến sung mãn. Hỷ lạc do ly dục sanh không chỗ nà o không biến mãn.

“Nà y A-nan, như vậy, Tỳ-kheo giữ vững nội tâm an trụ, tĩnh chỉ, khiến cho chuyên nhất và định rồi[11], hãy tác ý về nội không. Vị ấy sau khi tác ý về nội không rồi, mà tâm bèn di động, không hướng đến gần, không được trong vắt, không an trụ, không giải thoát đối với nội không, Tỳ-kheo ấy hãy tác ý về ngoại không. Vị ấy sau khi tác ý về ngoại không rồi, tâm bèn di động, không hướng đến gần, không được trong vắt, không an trụ, không giải thoát đối với ngoại không.

“Nà y A-nan, nếu Tỳ-kheo trong lúc quán, biết rằng mình đang tác ý về ngoại không mà tâm di động, không hướng đến gần, không an trụ, không giải thoát đối với ngoại không, Tỳ-kheo ấy hãy tác ý về nội ngoại không. Vị ấy sau khi suy niệm về nội ngoại không rồi mà tâm bèn di động, không hướng đến gần, không trong vắt, không an trụ, không giải thoát đối với nội ngoại không. Nà y A-nan, nếu Tỳ-kheo trong lúc lúc quán mà biết rằng mình đang suy niệm về nội ngoại không mà tâm di động, không hướng đến gần, không được trong vắt, không an trụ, không giải thoát đối với nội ngoại không, Tỳ-kheo ấy hãy tác ý về sự không di động.

“Vị ấy sau khi suy niệm về sự không di động mà tâm di động, không hướng đến gần, không được trong vắt, không an trụ, không giải thoát đối với sự bất di động. Nà y A-nan, nếu Tỳ-kheo nà o trong lúc quán sát biết được rằng mình đang suy niệm về sự không di động mà tâm di động, không hướng đến gần, không được trong vắt, không an trụ, không giải thoát đối với sự bất di động, Tỳ-kheo ấy có tâm như thế nà y hay thế khác, bằng định như thế nà y hay thế khác mà điều phục, liên tục điều phục, tu tập, liên tục tu tập, là m nhu nhuyến rồi lại nhu nhuyến, rất hân hoan trong sự nhu hòa, rất tịnh lạc trong sự viỠn ly.

“Nếu vị ấy có tâm như thế nà y hay thế khác bằng định như thế nà y hay thế khác mà điều phục rồi lại điều phục, tu tập rồi lại tu tập, nhu nhuyến rồi lại nhu nhuyến, rất hân hoan trong sự nhu hòa, rất tịnh lạc trong sự viỠn ly rồi, hãy bằng nội không mà thà nh tựu an trụ.

“Vị ấy sau khi nội không thà nh tựu an trụ, tâm không di động, hướng đến gần, được trong vắt, an trụ, giải thoát đối với nội không. Nà y A-nan, Tỳ-kheo trong lúc quán thì biết nội không thà nh tựu an trụ, tâm không di động, hướng đến gần, được trong vắt, an trụ, giải thoát đối với nội không, đó là chánh tri.

“Nà y A-nan, Tỳ-kheo hãy bằng ngoại không thà nh tựu an trụ. Vị ấy sau khi ngoại không thà nh tựu an trụ, tâm không di động, hướng đến gần, được trong vắt, an trụ, giải thoát đối với ngoại không. Nà y A-nan, như vậy Tỳ-kheo trong lúc quán thì biết ngoại không thà nh tựu an trụ, tâm không di động, hướng đến gần, được trong vắt, an trụ, giải thoát đối với ngoại không. Đó gọi là chánh tri.

“Nà y A-nan, Tỳ-kheo hãy bằng nội ngoại không thà nh tựu an trụ. Vị ấy sau khi nội ngoại không thà nh tựu an trụ, tâm không di động, hướng đến gần, được trong vắt, an trụ, giải thoát đối với nội ngoại không. Nà y A-nan, như vậy Tỳ-kheo trong lúc quán thì biết nội ngoại không thà nh tựu an trụ, tâm không di động, hướng đến gần, được trong vắt, an trụ, giải thoát đối với nội ngoại không. Đó gọi là chánh tri.

“Nà y A-nan, hãy bằng bất di động thà nh tựu an trụ. Vị ấy sau khi bất di động thà nh tựu an trụ, tâm không di động, hướng đến gần, được trong vắt, an trụ, giải thoát đối với bất di động. Nà y A-nan, như vậy Tỳ-kheo trong lúc quán thì biết bất di động thà nh tựu an trụ, tâm không di động, hướng đến gần, được trong vắt, an trụ, giải thoát đối với bất di động. Đó gọi là chánh tri.

“Nà y A-nan, vị Tỳ-kheo ấy với tâm an trụ trên trụ xứ nà y, nếu muốn kinh hà nh, Tỳ-kheo ấy từ thiền thất đi ra, đi kinh hà nh trên khoảng đất trống, trong bóng mát của thiền thất, các căn hướng và o trong tâm, không hướng ra ngoà i, lấy phía sau tác ý là m phía trước. Kinh hà nh như vậy rồi, trong tâm không sanh tham lam, ưu sầu, ác bất thiện pháp. Đó gọi là chánh tri.

“Nà y A-nan, Tỳ-kheo với tâm an trụ trên trụ xứ nà y, nếu muốn tọa định, Tỳ-kheo ấy rời khỏi chỗ kinh hà nh, đến cuối con đường kinh hà nh, trải ni-sư-đà n, ngồi kiết già . Sau khi ngồi như vậy vững và ng rồi, trong tâm không sanh tham lam, ưu sầu, ác bất thiện pháp. Đó gọi là chánh tri.

“Nà y A-nan, Tỳ-kheo với tâm an trụ trong trụ xứ nà y, nếu muốn có suy niệm[12], thì Tỳ-kheo ấy đối với ba sự suy niệm về ác bất thiện nà y là niệm dục, niệm nhuế và niệm hại, đừng suy niệm đến ba suy niệm ác bất thiện ấy. Đối với ba suy niệm thiện là : niệm vô dục, niệm vô nhuế, niệm vô hại, hãy suy niệm trên ba suy niệm thiện ấy. Sau khi suy niệm như vậy rồi, trong tâm không sanh tham lam, ưu sầu, ác bất thiện pháp, đó gọi là chánh tri.

“Nà y A-nan, Tỳ-kheo ấy đối với những luận bà n không phải là Thánh luận, không tương ưng nghĩa[13], tức là luận bà n về những vấn đề vua chúa, vấn đề đạo tặc, vấn đề đấu tranh, vấn đề ẩm thực, vấn đề đà n bà , vấn đề đồng nữ, vấn đề dâm nữ, vấn đề thế gian, vấn đề tà đạo, vấn đề trong biển. Vị ấy không bà n luận các loại súc sanh luận như vậy. Nếu có những vấn đề thuộc Thánh luận, tương ưng nghĩa, khiến tâm nhu hòa, không có những sự che đậy[14], tức là vấn đề thí, vấn đề giới, vấn đề định, vấn đề giải thoát, vấn đề giải thoát tri kiến, vấn đề tiệm giảm[15], vấn đề không tụ hội, vấn đề thiểu dục, vấn đề tri túc, vấn đề vô dục, vấn đề đoạn, vấn đề diệt, vấn đề tĩnh tọa, vấn đề duyên khởi. Sau khi luận bà n những vấn đề mà Sa-môn luận bà n như vậy rồi, trong tâm không sanh tham lam, ưu sầu, ác bất thiện pháp. Đó gọi là chánh tri.

“Lại nữa, nà y A-nan, có năm công đức của dục, khả lạc, khả ý, khả niệm, sắc ái lạc tương ưng với dục; đó là , sắc được biết bởi mắt, tiếng được biết bởi tai, hương được biết bởi mũi, vị được biết bởi lưỡi, xúc được biết bởi thân. Tỳ-kheo với tâm chuyên chuù[16] mà quán[17] năm diệu dục nà y, tùy theo diệu dục ấy mà có hà nh ấy trong tâm[18]. Vì sao vậy? Không trước, không sau, năm dục công đức nà y tùy theo dục công đức nà o mà có hà nh ấy trong tâm.

“Nà y A-nan, Tỳ-kheo trong lúc quán thì biết năm công đức của dục nà y, tùy theo công đức dục nà o mà có hà nh ấy trong tâm. Tỳ-kheo ấy với công đức dục nà y hay công đức dục kia quán là vô thường, quán suy hao, quán vô dục, quán đoạn, quán diệt, quán đoạn xả ly. Nếu năm công đức dục nà y có dục, bị nhiỠm dục, chúng tức thì bị tiêu diệt. Nà y A-nan, nếu Tỳ-kheo khi quán như vậy thì biết năm công đức dục nà y có dục và bị nhiỠm dục, chúng đã bị đoạn trừ rồi. Đó gọi là chánh tri.

“Lại nữa, nà y A-nan, có năm thủ uẩn[19], sắc thủ uẩn, thọ, tưởng, hà nh, thức thủ uẩn. Tỳ-kheo như vậy mà quán sự hưng suy, quán sát rằng, đây là sắc, đây là sự tập khởi của sắc, đây là sự diệt tận của sắc. Đây là thọ, tưởng, hà nh và thức. Đây là sự tập khởi của thức, đây là sự diệt tận của thức. Nếu năm thủ uẩn nà y có ngã mạn[20], nó liền bị tiêu diệt. Nà y A-nan, nếu Tỳ-kheo khi quán như vậy thì biết trong năm thủ uẩn, ngã mạn đã bị diệt rồi. Đó gọi là chánh tri.

“Nà y A-nan! Pháp nà y tuyệt đối khả ý, tuyệt đối khả lạc, tuyệt đối ý niệm, vô lậu, không chấp thủ[21], ma không đến gần được, ác không thể đến gần được. Các pháp ác bất thiện ô uế là m gốc rỠcho sự hữu trong tương lai là phiền nhiệt, khổ báo, là nhân của sanh, già , bệnh, chết cũng không thể đến gần được; tức là thà nh tựu sự không phóng dật nà y. Vì sao vậy? Nhân không phóng dật mà Như Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác chứng đắc giác ngộ, nhân gốc rỠkhông phóng dật mà phát sanh vô lượng thiện pháp, cho đến các trợ đạo phẩm[22].

“Cho nên, nà y A-nan, ngươi phải học như vầy, ‘Ta cũng thà nh tựu nơi sự không phóng dật’. Hãy học như vậy.

“Nà y A-nan, do nghĩa lợi nà o mà một tín đồ đệ tử đi theo Thế Tôn mà hà nh phụng sự cho đến trọn đời?”

Tôn giả A-nan bạch Thế Tôn rằng:

“Thế Tôn là pháp bổn, Thế Tôn là pháp chủ, pháp do Thế Tôn. Cúi mong Thế Tôn thuyết giảng điều đó. Con nay sau khi nghe xong sẽ được biết rộng ý nghĩa ấy.”

Đức Phật bèn nói:

“Nà y A-nan, hãy lắng nghe. Hãy khéo tư niệm. Ta sẽ phân biệt đầy đủ cho thầy nghe.”

Tôn giả A-nan vâng lời, lắng nghe.

Đức Phật nói:

“Nà y A-nan, không phải chỉ vì chánh kinh, ca vịnh, ký thuyết mà một tín đệ tử đi theo Thế Tôn để hà nh phụng sự cho đến trọn đời. Nà y A-nan, hoặc từ lâu vị ấy đã từng nghe pháp nà y, tụng tập đến cả ngà n, chuyên ý tư duy quán sát, thấy rõ, thấu triệt sâu xa. Nếu vấn đề nà y là Thánh luận tương ưng với cứu cánh, khiến tâm nhu hòa, không có những che lấp, tức các vấn đề bố thí, vấn đề giới, vấn đề định, vấn đề tuệ, vấn đề giải thoát, vấn đề giải thoát tri kiến, vấn đề tiệm giảm, vấn đề không tụ hội, vấn đề thiểu dục, vấn đề tri túc, vấn đề vô dục, vấn đề đoạn, vấn đề diệt, vấn đề tĩnh tọa, vấn đề duyên khởi. Những vấn đề mà Sa-môn luận bà n như vậy, được dỠdà ng chứ không khó. Do ý nghĩa nà y mà một tín đệ tử đi theo Thế Tôn để hà nh phụng sự cho đến trọn đời. Nà y A-nan, như vậy là phiền lụy[23] cho Tôn sư, phiền lụy cho đệ tử, phiền lụy cho các vị đồng phạm hạnh.

“Nà y A-nan, thế nà o là phiền lụy cho Tôn sư?

“Ở đây, một vị Tôn sư xuất thế, có sách lự tư duy, bằng tâm trạng sách lự mà quán sát các loại phà m nhân. Có biện tà i, vị ấy đi đến nơi rừng vắng, trong rừng sâu, dưới gốc cây, hoặc ở trên sườn cao, vắng bặt không tiếng động, xa lánh, không có sự dữ, không có bóng người, tùy thuận mà tĩnh tọa, hoặc sống tại nơi đó mà học sự viỠn ly, tinh cần, được tăng thượng tâm, sống an lạc ngay trong đời hiện tại.

“Vị ấy sau khi học sự viỠn ly, tinh cần, sống an ổn khoái lạc, rồi theo các đệ tử trở về với các Phạm chí, Cư sĩ, phong ấp, quốc nhân. Vị ấy sau khi theo đệ tử trở về, với các Phạm chí, Cư sĩ, phong ấp, quốc nhân, bèn tự cao mà trở về nhà . Như vậy là phiền lụy cho Tôn sư và cũng bị phiền lụy bởi các pháp ác bất thiện, ô uế, là gốc rỠcho sự hữu trong tương lai, phiền nhiệt, khổ báo, nhân của sanh-già -bệnh-chết; đó là phiền lụy cho Tôn sư.

“Nà y A-nan, thế nà o là sự phiền lụy cho đệ tử? Đệ tử của vị Tôn sư ấy học sự viỠn ly của vị ấy, vị ấy sống nơi rừng vắng, trong rừng sâu, dưới gốc cây, trên sườn non, vắng bặt không tiếng động, xa lánh, không có sự dữ, không có bóng người, tùy thuận mà tĩnh tọa, hoặc sống tại nơi đó mà học sự viỠn ly, tinh cần, được tăng thượng tâm, sống an lạc ngay trong đời hiện tại nà y. Vị ấy sau khi học sự viỠn ly, tinh cần, sống an ổn khoái lạc rồi, bèn theo đệ tử trở về với các Phạm chí, Cư sĩ, phong ấp, quốc nhân. Vị ấy sau khi theo đệ tử về với các Phạm chí, Cư sĩ, phong ấp, quốc nhân rồi, bèn tự cao mà trở về nhà . Như vậy là là m phiền lụy cho đệ tử, và cũng bị phiền lụy bởi các pháp ác, bất thiện, gốc rỠcủa sự hữu trong tương lai, phiền nhiệt, khổ báo, nhân của sanh-già -bệnh-chết. Đó là phiền lụy cho đệ tử.

“Nà y A-nan, thế nà o là phiền lụy cho các vị phạm hạnh? Ở đây Đức Như Lai xuất thế, Ngà i là Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Thà nh, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Ngà i sống nơi rừng vắng, trong rừng sâu, dưới gốc cây, trên sườn cao, vắng bặt không chút động, xa lánh, không có sự dữ, không có bóng người, tùy thuận mà tĩnh tọa.

“Nà y A-nan, Đức Như Lai vì nghĩa lợi nà o mà sống nơi rừng vắng, trong rừng sâu, dưới gốc cây, hoặc ở trên sườn cao, vắng bặt không tiếng động, xa lánh, không có sự dữ, không có bóng ngườøi, tùy thuận tĩnh tọa?”

“Tôn giả A-nan bạch Đức Thế Tôn rằng:

“Thế Tôn là Pháp bổn, Thế Tôn là Pháp chủ, Pháp do Thế Tôn. Cúi mong Thế Tôn thuyết giảng điều ấy, con nay sau khi nghe xong được biết rộng nghĩa ấy.”

Đức Phật bèn nói:

“Nà y A-nan, hãy lắng nghe, hãy khéo tư niệm. Ta sẽ phân biệt đầy đủ cho thầy nghe.”

Tôn giả A-nan vâng lời lắng nghe.

Đức Phật nói:

“Nà y A-nan, như Lai không phải vì để được những gì chưa được, thu hoạch những gì chưa thu hoạch, chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ mà sống nơi rừng vắng, trong rừng sâu, dưới gốc cây, hoặc ở trên sườn cao, vắng bặt không tiếng động, xa lánh, không có bóng người, tùy thuận mà tĩnh tọa. Nà y A-nan, vì hai ý nghĩa mà Như Lai sống nơi rừng vắng, trong rừng sâu, dưới gốc cây, hoặc ở trên sườn cao, vắng bặt không tiếng động, xa lánh, không có bóng người, tùy thuận mà tĩnh tọa. Một là sống an lạc ngay trong hiện tại cho chính mình. Hai là từ mẫn đối với những người đời sau.

“Hoặc giả, đời sau người người noi bóng Như Lai mà sống nơi rừng vắng, trong rừng sâu, dưới gốc cây, hoặc ở trên sườn cao, vắng bặt không tiếng động, xa lánh, không có sự dữ, không có bóng người, tùy thuận mà tĩnh tọa. Nà y A-nan, chính vì nghĩa lợi nà y mà Như Lai sống trong rừng vắng, trong rừng sâu, dưới gốc cây, hoặc ở trên sườn cao, vắng bặt không tiếng động, xa lánh, không có giận dữ, không có bóng người, tùy thuận tĩnh tọa. Hoặc sống ở nơi đó mà học sự viỠn ly, tinh cần, được tăng thượng tâm, sống an lạc ngay trong đời hiện tại.

“Như Lai sau khi học sự viỠn ly, tinh cần, sống an ổn khoái lạc rồi, theo các vị Phạm hạnh mà trở về với các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà -tắc, Ưu-bà -di. Như Lai sau khi theo các vị phạm hạnh trở về với các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà -tắc, Ưu-bà -di rồi, không tự cao mà trở về nhà .

“Nà y A-nan, nếu vị ấy chứng ngộ bất động tâm giải thoát, thì Ta không nói vị ấy có sự chướng ngại. Nhưng nếu vị ấy chứng đắc Bốn tăng thượng tâm[24], sống an lạc trong đời hiện tại, vốn do trước kia sống tinh cần, không phóng dật, thì ở đây, hoặc giả có thể bị thối thất vì sự tụ hội đông đảo nhiều đệ tử.

“Lại nữa, nà y A-nan, đệ tử của Tôn sư ấy noi theo Tôn sư mà sống nơi rừng vắng, trong rừng sâu, dưới gốc cây, hoặc ở trên sườn cao, vắng bặt không tiếng động, xa lánh, không có sự dữ, không có bóng người, tùy thuận tĩnh tọa. Hoặc sống tại nơi đó mà học sự viỠn ly, tinh cần, được tăng thượng tâm, sống an lạc ngay trong đời hiện tại. Vị ấy sau khi học sự viỠn ly, tinh cần, sống an ổn khoái lạc rồi theo các vị phạm hạnh mà trở về với các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà -tắc, Ưu-bà -di. Vị ấy sau khi theo các vị phạm hạnh trở về với các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà -tắc, Ưu-bà -di rồi bèn tự cao mà trở về nhà . Như vậy là phiền lụy cho các vị phạm hạnh và cũng bị phiền lụy bởi các pháp ác bất thiện, gốc rỠcủa sự hữu trong tương lai, phiền nhiệt, khổ báo, nhân của sanh-già -bệnh-chết. Đó gọi là phiền lụy cho các phạm hạnh.

“Nà y A-nan, trong sự phiền lụy Tôn sư và đệ tử, sự phiền lụy cho các phạm hạnh rất là bất khả, không khả lạc, không khả ái, rất là không khả ý, khả niệm. Cho nên, nà y A-nan, các ngươi hãy hà nh sự từ hòa đối với Ta, đừng gây sự oán hận.

“Nà y A-nan, thế nà o là đệ tử đối với Tôn sư mà gây sự oán hận, không hà nh sự từ hòa?

“Nếu Tôn sư thuyết pháp cho đệ tử, là vì thương yêu, lo lắng, mong cầu thiện lợi và phước là nh, mong cầu sự an ổn khoái lạc cho đệ tử mà phát khởi từ bi tâm, nói rằng, ‘Đây là điều hữu ích. Đây là sự an lạc. Đây là sự hữu ích an lạc’. Nếu đệ tử ấy mà không cung kính, cũng không tùy thuận theo, không an trụ nơi chánh trí, tâm không hướng đến pháp tùy, pháp hà nh, không thọ lãnh chánh pháp, trái phạm những điều Tôn sư dạy, không được định, đệ tử như vậy là đối với Tôn sư mà gây sự oán hận, không hà nh sự từ hòa.

“Nếu Tôn sư thuyết pháp cho đệ tử, thương yêu, lo lắng, mong cầu thiện lợi và an là nh, mong cầu sự an ổn khoái lạc cho đệ tử phát khởi từ bi tâm mà nói rằng, ‘Đây là điều hữu ích. Đây là sự an lạc. Đây là sự hữu ích an lạc’. Nếu đệ tử thuận hà nh theo, an lập nơi chánh trí, tâm quy hướng đến pháp tùy, pháp hà nh, thọ lãnh Chánh pháp, không trái phạm lời giáo huấn của Tôn sư, có thể được định. Vị đệ tử như thế là đối với Tôn sư mà hà nh sự từ hòa, không gây sự oán hận.

“Cho nên nà y A-nan, các ngươi đối với Ta hãy hà nh sự từ hòa, không gây sự oán hận. Vì sao vậy? Nà y A-nan, Ta không nói như vầy ‘Như người thợ gốm là m ngói[25].’ Nhưng, nà y A-nan, Ta nói: ‘Nghiêm khắc, khắc khổ[26].’ Nghiêm cấp chí khổ. Cái gì chắc thật, cái ấy đứng vững[27].

Đức Phật thuyết như vậy, Tôn giả A-nan và các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật dạy xong, hoan hỷ phụng hà nh.

-ooOoo-

Chú thích:

[01] Tương đương Pāli M.122 Mahā-suññatā-suttṃ.
[02] Xem các kinh 12, 100, 116.
[03] Gia-la-sai-ma Thích tinh xá åŠ ç¾ å·® 摩 釋 ç²¾ 舍. Pāli: Kāḷakhemakassa Sakkassa vohāra, tinh xá cá»§a Kālakhema, người họ Thích.
[04] Già -la Thích ä¼½ ç¾ é‡‹, Pāli: Ghaṭāya-sakkassa.
[05] Xem các chú thích trong Kinh số 127. Pāli: sāmāyikā kantā cetovimutti.
[06] Xem các chú thích trong Kinh số 172. Pāli: asāmāyika akuppā cetovimutti.
[07] Chỉ, được hiểu là khinh an.
[08] Đa hà nh không. Như Kinh số 190 trên.
[09] Pāli: ajjhattameva cittaṃ saṇṭhapetabbaṃ sannisādetabbaṃ ekodi kātabbaṃ samādahātabbaṃ, nội tâm cần an định, tĩnh chỉ, sự chuyên nhất cận tập trung.
[10] Xem cht.7, Kinh 190.
[11] Nghĩa là sau khi chứng nhập Sơ thiền. Pāli nói: từ Sơ thiền đến Tứ thiền.
[12] Niệm, tức tầm, suy tầm hay toan tính. Có ba bất thiện tầm: dục tầm, nhuế tầm và hại tầm. Pāli: tayo akusala-vitkkā: kāma-vitakko, vyāpāda-vitakko, avihiṃs-vitakko. Xem, D.33 SaṠgītisuttanta.
[13] Không liên hệ đến mục đích của Thánh đạo.
[14] Pāli: cetovinīvaraṇasappayā, tâm được cởi mở, không bị che đậy.
[15] Tiệm tổn 漸 損, xem Kinh 91 ở trước.
[16] Nguyên Hán: chí đáo 至 到, có lẽ Pāli là abhikhaṇaṃ (thường xuyên) ở đây hiểu là abhikkantaṃ (vượt lên).
[17] Pāli: abhikkhaṇaṃ sakam cittam paccavekkhitabham, thường tự quán tâm, thường xuyên tự quán sát tâm mình.
[18] So Pāli: Atthi kho me imesu pañcasu kāmaguṇesu aññatarasmiṃ vā añnñtarasmiṃ vā āyatane upajjati cetaso samudācāroti, trong tâm tư ta có phát sinh tập quán gì trong xứ nà y hay xứ kia trong năm công đức của dục?
[19] Ngũ thạnh ấm.
[20] Ngã mạn, Pāli: asmimāna, phức cảm về “Tôi hiện hữu” hay “Tôi là ”.
[21] Vô thọ.
[22] Nhược hữu tùy đạo phẩm.
[23] Phiền sư, Pāli: ācariyūpaddava, bất hạnh, hay nguy hại cho thầy.
[24] Tứ tăng thượng tâm, ở đây chỉ Bốn tịnh lự hay Tứ thiền.
[25] Người thợ gốm bao giờ cũng phải nhẹ tay đối với ngói. Nhưng một vị Tôn sư không chỉ nuông chiều đệ tử. Như “đà o sư tác ngõa” 陶 師 作 瓦. Pāli: yathā kumbakāro āmake āmakamatte, như thợ gốm đối với đồ gốm chưa nung chín.
[26] Nghiêm cấp chí khổ 嚴 急 至 苦, Pāli: niggayha niggayha, pavayha pavagha, khiển trách khiển trách, tán thán tán thán.
[27] Nhược chân thật giả, tất năng vãng giả 若 真 實 è€ å¿ èƒ½ 往 也 . Pāli: yo sāro so thassati.

-ooOoo-

trang trước

đầu trang

trang kế


[Thư mục BuddhaSasana]