Thư mục BuddhaSasana

Lưu ý: Đọc với phông chữ CN-Times nâng cấp hay Arial Unicode MS


 

Trung A HÃ m Kinh
Mục Lục Tổng Quát
01. PHẨM BẢY PHÁP
02. PHẨM NGHIỆP TÆ¯Æ NG ƯNG
03. PHẨM XÁ-LÊ TỬ TÆ¯Æ NG ƯNG
04. PHẨM VỊ TẰNG HỮU PHÁP
05. PHẨM TẬP TÆ¯Æ NG ƯNG
06. PHẨM VÆ¯Æ NG TÆ¯Æ NG ƯNG
07. PHẨM TRƯỜNG THỌ VÆ¯Æ NG
08. PHẨM UẾ
09. PHẨM NHÂN
10. PHẨM LÂM
11. PHẨM ĐẠI (Phần đầu)
12. PHẨM PHẠM CHÍ (Phần đầu)
12. PHẨM PHẠM CHÍ (Phần sau) 
13. PHẨM CĂN BỔN PHÂN BIỆT
14. PHẨM TÂM
172. Kinh Tâm
173. Kinh Phù-Di
174. Kinh Thọ Pháp (I)
175. Kinh Thọ Pháp (II)
176. Kinh Hà nh Thiền
177. Kinh Thuyết
178. Kinh Lạp Sư
179. Kinh Ngũ Chi Vật Chủ
180. Kinh Cù-Ðà m-Di
181. Kinh Đa Giới
15. PHẨM SONG
16. PHẨM ĐẠI (Phần sau)
17. PHẨM BÔ-ĐA-LỢI
18. PHẨM LỆ

 

Source: LotusMedia lotusmedia.net
 
中 阿 含 經
KINH TRUNG A HÀM
Hán Dịch: Phật Ðà Da Xá & Trúc Phật Niệm,
Việt Dịch & Hiệu Chú: Thích Tuệ Sỹ

14. PHẨM TÂM

181. KINH ĐA GIỚI[1]

Tôi nghe như vầy:

Một thời Đức Phật du hóa tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng lâm, vườn Cấp cô độc.

Bấy giờ, Tôn giả A-nan một mình trong tịnh thất, tĩnh tọa tư duy, tâm khởi lên ý nghĩ nà y: “Những ai có sợ hãi, tất cả chúng đều từ ngu si mà sanh chứ không từ trí tuệ. Những ai vướng tai hoạn, ưu não, tất cả chúng đều từ ngu si mà sanh, chứ không phải từ trí tuệ[02].”

Rồi Tôn giả A-nan và o lúc xế chiều, từ tĩnh tọa dậy, đi đến chỗ Phật, cúi đầu lỠsát chân Phật, rồi đứng sang một bên, bạch rằng:

“Bạch Thế Tôn, hôm nay con một mình trong tịnh thất, tĩnh tọa tư duy, tâm khởi lên ý nghĩ nà y: “Những ai có sợ hãi, tất cả chúng đều từ ngu si mà sanh chứ không từ trí tuệ. Những ai vướng tai hoạn, ưu não, tất cả chúng đều từ ngu si mà sanh, chứ không phải từ trí tuệ”.

Thế Tôn nói rằng:

“Thật vậy, A-nan, những ai có sợ hãi, tất cả chúng đều từ ngu si mà sanh chứ không từ trí tuệ. Những ai vướng tai hoạn, ưu não, tất cả chúng đều từ ngu si mà sanh, chứ không phải từ trí tuệ.

“Nà y A-nan, cũng như lửa dậy từ bụi lau, bụi cỏ, cháy luôn cả lầu các, điện đường. Nà y A-nan, cũng vậy, những ai có sợ hãi, tất cả chúng đều từ ngu si mà sanh chứ không từ trí tuệ. Những ai vướng tai hoạn, ưu não, tất cả chúng đều từ ngu si mà sanh, chứ không phải từ trí tuệ.

“Nà y A-nan, trong quá khứ, nếu những ai có sợ hãi, tất cả chúng đều từ ngu si mà sanh chứ không từ trí tuệ. Nếu những ai vướng tai hoạn, ưu não, tất cả chúng đều từ ngu si mà sanh, chứ không phải từ trí tuệ.

“Nà y A-nan, trong thời vị lai, nếu những ai có sợ hãi, tất cả chúng đều từ ngu si mà sanh chứ không từ trí tuệ. Nếu những ai vướng tai hoạn, ưu não, tất cả chúng đều từ ngu si mà sanh, chứ không phải từ trí tuệ.

“Nà y A-nan, trong thời hiện tại, những ai có sợ hãi, tất cả chúng đều từ ngu si mà sanh chứ không từ trí tuệ. Những ai vướng tai hoạn, ưu não, tất cả chúng đều từ ngu si mà sanh, chứ không phải từ trí tuệ.   “Nà y A-nan, đó gọi là , ngu si có sợ hãi, trí tuệ không sợ hãi; ngu si có vấp ngã, tai hoạn, ưu não; trí tuệ không có vướng tai hoạn, ưu não.

“Nà y A-nan, những ai có sợ hãi, vướng tai hoạn, ưu não, tất cả chúng có thể tìm thấy nơi ngu si chứ không phải nơi trí tuệ.

Lúc bấy giờ, Tôn giả A-nan buồn rầu, khóc lóc, nước mắt chảy, chấp tay hướng về Đức Phật, bạch rằng:

“Bạch Thế Tôn, thế nà o là Tỳ-kheo ngu si, không phải trí tuệ[03]?”

Thế Tôn đáp rằng:

“Nà y A-nan, nếu có Tỳ-kheo nà o không biết giới, không biết xứ, không biết nhân duyên, không biết thị xứ phi xứ[04]. A-nan, Tỳ-kheo như vậy là ngu si, không phải trí tuệ.

Tôn giả A-nan bạch rằng:

“Bạch Thế Tôn, Tỳ-kheo như vậy là ngu si, không phải là trí tuệ. Nhưng bạch Thế Tôn, thế nà o là Tỳ-kheo trí tuệ, không phải ngu si?”

Thế Tôn đáp rằng:

“A-nan, nếu Tỳ-kheo nà o biết giới, biết xứ, biết nhân duyên, biết thị xứ phi xứ; A-nan, Tỳ-kheo như vậy là trí tuệ, không phải ngu si”.

Tôn giả A-nan bạch rằng:

“Bạch Thế Tôn, Tỳ-kheo như vậy là trí tuệ, không phải ngu si. Nhưng bạch Thế Tôn, thế nà o là Tỳ-kheo biết giới?”

Thế Tôn nói:

“Nà y A-nan, nếu Tỳ-kheo nà o thấy và biết như thật về mười tám giới: nhãn giới, sắc giới, nhãn thức giới; nhĩ giới, thanh giới, nhĩ thức giới, tỷ giới, hương giới, tỷ thức giới; thiệt giới, vị giới, thiệt thức giới; thân giới, xúc giới, thân thức giới; ý giới, pháp giới, ý thức giới. A-nan, thấy và biết như thật về mười tám giới nà y.

“Lại nữa, A-nan, thấy và biết như thật về sáu giới: địa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới, không giới, thức giới. A-nan, thấy và biết như thật về sáu giới nà y.

“Lại nữa, A-nan, thấy và biết như thật về sáu giới: dục giới, nhuế giới, hại giới, vô dục giới, vô nhuế giới, vô hại giới. A-nan, thấy và biết như thật về sáu giới nà y.

“Lại nữa, A-nan, thấy và biết như thật về sáu giới: lạc giới, khổ giới, hỷ giới, ưu giới, xả giới, vô minh giới. A-nan, thấy và biết như thật về sáu giới nà y.

“Lại nữa, A-nan, thấy và biết như thật về bốn giới: thọ giới, tưởng giới, hà nh giới, thức giới. A-nan, thấy và biết như thật về bốn giới nà y.

“Lại nữa, A-nan, thấy và biết như thật về ba giới: dục giới, sắc giới, vô sắc giới. A-nan, thấy và biết như thật về ba giới nà y.

“Lại nữa, A-nan, thấy và biết như thật về ba giới: sắc giới, vô sắc giới, diệt giới. A-nan, thấy và biết như thật về ba giới nà y.

“Lại nữa, A-nan, thấy và biết như thật về ba giới: quá khứ giới, vị lai giới, hiện tại giới. A-nan, thấy và biết như thật về ba giới nà y.

“Lại nữa, A-nan, thấy và biết như thật về ba giới: diệu giới, bất diệu giới, trung giới. A-nan, thấy và biết như thật về ba giới nà y.

“Lại nữa, A-nan, thấy và biết như thật về ba giới: thiện giới, bất thiện giới, vô ký giới. A-nan, thấy và biết như thật về ba giới nà y.

“Lại nữa, A-nan, thấy và biết như thật về ba giới: học giới, vô học giới, phi học vô học giới. A-nan, thấy và biết như thật về ba giới nà y.

“Lại nữa, A-nan, thấy và biết như thật về hai giới: hữu lậu giới, vô lậu giới. A-nan, thấy và biết như thật về hai giới nà y.

“Lại nữa, A-nan, thấy và biết như thật về: hữu vi giới, vô vi giới. A-nan, thấy và biết như thật về hai giới nà y.

“Nà y A-nan, thấy và biết như thật về sáu mươi hai giới nà y. A-nan, Tỳ-kheo thấy và biết như thật về giới như vậy”.

Tôn giả A-nan bạch rằng:

“Bạch Thế Tôn, Tỳ-kheo biết giới như vậy. Nhưng bạch Thế Tôn, thế nà o là Tỳ-kheo biết xứ?”

Thế Tôn đáp:

“Nếu Tỳ-kheo nà o thấy và biết như thật về mười hai xứ: nhãn xứ, sắc xứ, nhĩ xứ, thanh xứ, tỷ xứ, hương xứ, thiệt xứ, vị xứ, thân xứ, xúc xứ, ý xứ, pháp xứ. A-nan, thấy và biết như thật về mười hai xứ nà y. Nà y A-nan, Tỳ-kheo biết xứ như vậy.

Tôn giả A-nan bạch rằng:

“Tỳ-kheo biết xứ như vậy. Nhưng bạch Thế Tôn, thế nà o là Tỳ-kheo biết nhân duyên[05]?”

Thế Tôn đáp:

“Nếu Tỳ-kheo nà o thấy và biết như thật về nhân duyên và pháp khởi từ nhân duyên, rằng ‘Nhân cái nà y có, cái kia có; cái nà y không, cái kia không. Cái nà y sanh, cái kia sanh; cái nà y diệt cho nên cái kia diệt’. Tức là duyên vô minh có hà nh..., cho đến duyên sanh có già , chết. Nếu vô minh diệt thì hà nh diệt, cho đến sanh diệt thì già , chết diệt. A-nan, Tỳ-kheo biết nhân duyên như vậy.

Tôn giả A-nan bạch rằng:

“Bạch Thế Tôn, Tỳ-kheo biết nhân duyên như vậy. Nhưng, bạch Thế Tôn, thế nà o là Tỳ-kheo biết thị xứ phi xứ[06]?”

Thế Tôn đáp:

“Nếu Tỳ-kheo nà o thấy và biết như thật về xứ là xứ, phi xứ là phi xứ. Nà y A-nan, nếu trong đời có hai vị Chuyển luân vương cùng cai trị, trường hợp nà y hoà n toà n không có. Nếu trong đời có một Chuyển luân vương cai trị, trường hợp nà y tất có.

“Nà y A-nan, nếu trong đời có hai Đức Như Lai, trường hợp nà y hoà n toà n không. Nếu trong đời nà y có một Đức Như Lai, trường hợp nà y tất có.

“Nà y A-nan, nếu một người đã thấy đế lý[07] mà có ý sát hại cha mẹ, giết A-la-hán, phá hoại Thánh chúng, ác tâm với Phật, là m Như Lai đổ máu, trường hợp nà y hoà n toà n không có. Nếu một người phà m phu cố ý hại cha mẹ, giết A-la-hán, phá hoại Thánh chúng, ác tâm với Phật, là m Như Lai đổ máu, trường hợp nà y tất có xảy ra.

“A-nan, nếu một người đã thấy đế lý mà cố tình phạm giới, xả giới, bỏ đạo, trường hợp nà y hoà n toà n không có. Nếu một người phà m phu cố ý phạm giới, xả giới, bỏ đạo, trường hợp nà y tất có.

“Nếu có một người đã thấy đế lý mà xả ly nội đạo nà y, tôn thờ ngoại đạo, mong cầu phước điền ở đó, trường hợp nà y hoà n toà n không có. Nếu một người phà m phu xả ly nội đạo nà y, tôn thờ ngoại đạo, mong cầu phước điền ở đó, trường hợp nà y tất có.

“Nà y A-nan, nếu một người đã thấy đế lý mà theo các Sa-môn, Phạm chí khác nói như vầy: ‘Các ngà i thấy điều đáng thấy, biết điều đáng biết’, trường hợp nà y hoà n toà n không có. Nếu người phà m phu theo các Sa-môn, Phạm chí khác, nói rằng: ‘Các ngà i thấy điều đáng thấy, biết điều đáng biết’, trường hợp nà y tất có.

“Nà y A-nan, nếu người đã thấy đế lý mà còn tin bói toán, hỏi cát hung, trường hợp nà y hoà n toà n không có. Nếu người phà m phu tin bói toán, hỏi cát hung, trường hợp nà y tất có.

“Nà y A-nan, nếu người đã thấy đế lý theo các Sa-môn, Phạm chí khác mà bói toán, hỏi cát hung, trường hợp nà y hoà n toà n không có. Nếu người phà m phu theo các Sa-môn, Phạm chí khác mà bói toán, hỏi cát hung, trường hợp nà y tất có.

“A-nan, nếu ngườøi thấy đế lý mà phát sanh sự cực khổ, rất khổ, trọng đại khổ, không thể ái, không thể lạc, không thể tư, không thể niệm, cho đến đoạn mạng, bèn xả ly nội đạo nà y, cầu cứu ở ngoại đạo. Hoặc có Sa-môn, Phạm chí trì một câu, hai câu, ba câu, bốn câu, nhiều câu, trăm ngà n câu, ‘Mong giải trừ sự khổ cho tôi’, đó là đi tìm sự khổ, tập khởi sự khổ, dẫn đến sự khổ mà nói là dứt khổ, trường hợp nà y hoà n toà n không có. Nếu một người phà m phu xả ly nội đạo nà y mà cầu cứu ngoại đạo, hoặc có Sa-môn, Phạm chí trì chú một câu, hai câu, ba câu, bốn câu, nhiều câu, trăm ngà n câu, ‘Mong giải trừ sự khổ cho tôi’, đó là đi tìm sự khổ, tập khởi sự khổ, dẫn đến sự khổ, mà nói là dứt khổ, trường hợp nà y tất có.

“A-nan, nếu người thấy đế lý mà tái sanh lần thứ tám, trường hợp nà y hoà n toà n không có. Nếu một người phà m phu tái sanh lần thứ tám, trường hợp nà y tất có.

“Nà y A-nan, nếu ai có thân ác hà nh, khẩu và ý ác hà nh, do duyên nà y thân hoại mạng chung đi đến thiện xứ, sanh lên cõi trời, trường hợp nà y hoà n toà n không có. Nếu ai có thân ác hà nh, khẩu và ý ác hà nh, do duyên nà y thân hoại mạng chung đi đến ác xứ, sanh trong địa ngục, trường hợp nà y tất có.

“A-nan, nếu ai có thân diệu hà nh, khẩu và ý diệu hà nh, do duyên nà y thân hoại mạng chung đi đến ác xứ, sanh trong địa ngục, trường hợp nà y hoà n toà n không có. Nếu ai có thân diệu hà nh, khẩu và ý diệu hà nh, do duyên nà y thân hoại mạng chung đi đến thiện xứ, sanh lên cõi trời, trường hợp nà y tất có.

“A-nan, nếu ai có thân ác hà nh, khẩu và ý ác hà nh mà thọ lạc báo, trường hợp nà y hoà n toà n không có. Nếu ai có thân ác hà nh, khẩu và ý ác hà nh mà thọ khổ báo, trường hợp nà y tất có.

“A-nan, nếu ai có thân diệu hà nh, khẩu và ý diệu hà nh mà thọ khổ báo, trường hợp nà y hoà n toà n không có. Nếu ai có thân diệu hà nh, khẩu và ý diệu hà nh mà thọ lạc báo, trường hợp nà y tất có.

“Nà y A-nan, nếu ai không đoạn trừ năm triền cái, những thứ là m tâm ô uế, tuệ yếu kém, mà tâm có thể an trụ vững và ng trên bốn niệm xứ, trường hợp nà y hoà n toà n không có. Nếu ai đoạn trừ năm triền cái, những thứ là m tâm ô uế, tuệ yếu kém mà tâm an trụ vững và ng trên bốn niệm xứ, trường hợp nà y tất có.

“A-nan, nếu ai không đoạn trừ năm triền cái, những thứ là m tâm ô uế, tuệ yếu kém, tâm không an trụ vững và ng trên bốn niệm xứ mà muốn tu bảy giác chi, trường hợp nà y hoà n toà n không có. Nếu ai đoạn trừ năm triền cái, những thứ là m tâm ô uế, tuệ yếu kém, tâm an trụ vững và ng trên bốn niệm xứ mà tu bảy giác ý, trường hợp nà y tất có.

“A-nan, nếu ai không đoạn trừ năm triền cái, những thứ là m tâm ô uế, tuệ yếu kém, tâm không an trụ vững và ng trên bốn niệm xứ, không tu bảy giác ý mà muốn chứng đắc Vô thượng chánh đẳng giác, trường hợp nà y hoà n toà n không có. Nếu ai đoạn trừ năm triền cái, những thứ là m tâm ô uế, tuệ yếu kém, an trụ vững và ng trên bốn niệm xứ, tu bảy giác ý, chứng đắc Vô thượng chánh đẳng giác, trường hợp nà y tất có.

“A-nan, nếu ai không đoạn trừ năm triền cái, những thứ là m tâm ô uế, tuệ yếu kém, tâm không an trụ vững và ng trên bốn niệm xứ, không tu bảy giác ý, không chứng đắc Vô thượng chánh đẳng giác mà đạt đến khổ biên, trường hợp nà y hoà n toà n không có. Nếu ai đoạn trừ năm triền cái, những thứ là m tâm ô uế, tuệ yếu kém, an trụ vững và ng trên bốn niệm xứ, tu bảy giác ý, chứng đắc Vô thượng chánh đẳng giác, đạt đến khổ biên, trường hợp nà y tất có.

“Nà y A-nan, Tỳ-kheo biết thị xứ, phi xứ như vậy”.

Lúc bấy giờ Tôn giả A-nan chấp tay hướng về Đức Phật bạch:

“Bạch Thế Tôn, kinh nà y tên gọi là gì? Nên phụng trì như thế nà o?”

Thế Tôn đáp:

“Nà y A-nan, hãy thọ trì pháp nà y, là đa giới, pháp giới, cam lộ giới, đa cổ, pháp cổ, cam lộ cổ, là pháp kính, là tứ phẩm[08]. Do đó kinh nà y được gọi là Đa Giới”.

Phật thuyết như vậy. Tôn giả A-nan và các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hà nh.

-ooOoo-

Chú thích:

[01] Tương đương Pāli, M.115 Bahudhātuka-sutta. Đối chiếu Pháp Uẩn 10 (No.2026, Đại 26 trang 501b - 505a).
[02] Bản Hán nà y và Pháp Uẩn tương đương. Bản Pāli, đây là lời Phật nói với các Tỳ-kheo.
[03] Pháp Uẩn và Pāli giống nhau về câu hỏi nà y: đến mức độ nà o để được liệt và o loại ngu phu?
[04] Thị xứ phi xứ: trường hợp đúng và trường hợp sai.
[05] Nhân duyên, đây chỉ duyên khởi. Pāli: paṭiccasamuppada.
[06] Xem cht.4 trên. Pāli: thānāthānakusala (xứ phi xứ thiện xảo).
[07] Kiến đế nhân, đây chỉ vị Tu-đà -hoà n.
[08] Tứ phẩm, Pháp Uẩn: tứ chuyển. Pāli: Catuparivatto.

-ooOoo-

trang trước

đầu trang

trang kế


[Thư mục BuddhaSasana]