Thư mục BuddhaSasana

Lưu ý: Đọc với phông chữ CN-Times nâng cấp hay Arial Unicode MS


 

Trung A HÃ m Kinh
Mục Lục Tổng Quát
01. PHẨM BẢY PHÁP
02. PHẨM NGHIỆP TÆ¯Æ NG ƯNG
03. PHẨM XÁ-LÊ TỬ TÆ¯Æ NG ƯNG
04. PHẨM VỊ TẰNG HỮU PHÁP
05. PHẨM TẬP TÆ¯Æ NG ƯNG
06. PHẨM VÆ¯Æ NG TÆ¯Æ NG ƯNG
07. PHẨM TRƯỜNG THỌ VÆ¯Æ NG
08. PHẨM UẾ
09. PHẨM NHÂN
097. Kinh Đại Nhân
098. Kinh Niệm Xứ
099. Kinh Khổ Ấm (I)
100. Kinh Khổ Ấm (II)
101. Kinh Tăng Thượng Tâm
102. Kinh Niệm
103. Kinh Sư Tử Hống
104. Kinh Ưu-Ðà m-Bà -LÃ
105. Kinh Nguyện
106. Kinh Tưởng
10. PHẨM LÂM
11. PHẨM ĐẠI (Phần đầu)
12. PHẨM PHẠM CHÍ (Phần đầu)
12. PHẨM PHẠM CHÍ (Phần sau) 
13. PHẨM CĂN BỔN PHÂN BIỆT
14. PHẨM TÂM
15. PHẨM SONG
16. PHẨM ĐẠI (Phần sau)
17. PHẨM BÔ-ĐA-LỢI
18. PHẨM LỆ

 

Source: LotusMedia lotusmedia.net
 
中 阿 含 經
KINH TRUNG A HÀM
Hán Dịch: Phật Ðà Da Xá & Trúc Phật Niệm,
Việt Dịch & Hiệu Chú: Thích Tuệ Sỹ

9. PHẨM NHÂN

105. KINH NGUYỆN[1]

Tôi nghe như vầy.

Một thời Đức Phật du hóa tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng, vườn Cấp cô độc.

Bấy giờ có một Tỳ-kheo sống cô độc tại một nơi xa vắng, ẩn dật ở chỗ yêân tĩnh, thiền tọa tư duy, trong tâm khởi lên ý nghĩ: “Đức Thế Tôn thăm hỏi ta, nói chuyện với ta, thuyết pháp cho ta nghe để được giới cụ túc[02] mà không phế bỏ thiền định, thà nh tựu quán hạnh[03], ở nơi không tịnh.[04]“

Bấy giờ và o lúc xế, sau khi suy nghĩ như vậy rồi, vị Tỳ-kheo ấy liền từ chỗ thiền tọa đứng dậy, đi đến Đức Phật. Đức Thế Tôn nhìn thấy vị Tỳ-kheo ấy từ xa đi đến, nhân nơi Tỳ-kheo ấy, Ngà i bảo các vị Tỳ-kheo:

“Các ngươi hãy ước nguyện rằng: ‘Đức Thế Tôn thăm hỏi ta, nói chuyện với ta, thuyết pháp cho ta nghe’. Vậy hãy thà nh tựu giới cụ túc và không phế bỏ thiền định, thà nh tựu quán hạnh, ở nơi không tịnh.

“Nà y Tỳ-kheo, hãy ước nguyện rằng: ‘Ta có thân tộc. Mong sao kia nhờ ta mà khi thân hoại mạng chung chắc chắn họ được lên chỗ là nh, sanh và o cõi trời’. Vậy hãy thà nh tựu được giới cụ túc và không phế bỏ thiền định, thà nh tựu quán hạnh, ở nơi không tịnh.

“Nà y Tỳ-kheo, hãy ước nguyện rằng: ‘Các thí chủ cung cấp cho ta y phục, đồ ăn uống, giường chõng, thuốc thang, đủ mọi thứ để nuôi thân. Mong cho kia nhờ sự bố thí nà y mà có nhiều công đức, có đại quang minh, được nhiều phước báo’. Vậy hãy thà nh tựu được giới cụ túc và không phế bỏ thiền định, thà nh tựu quán hạnh, ở nơi không tịnh. “Nà y Tỳ-kheo, hãy ước nguyện rằng: ‘Mong ta có thể nhẫn chịu được sự đói, khát, nóng, lạnh, muỗi mòng châm chích, sự áp bức của gió, của mặt trời; bị tiếng xấu, bị đánh đập cũng có thể nhẫn chịu; bản thân bị tật bệnh rất là đau khổ, cho đến mạng sống sắp tuyệt, các sự không được vui, ta cũng đều có thể kham nhẫn’. Vậy hãy thà nh tựu được giới cụ túc và không phế bỏ thiền định, thà nh tựu quán hạnh, ở nơi không tịnh.

“Nà y Tỳ-kheo, hãy ước nguyện rằng: ‘Mong ta kham nhẫn được điều không hoan lạc. Nếu sanh tâm không hoan lạc, không bao giờ để đắm trước’. Vậy hãy thà nh tựu được giới cụ túc và không phế bỏ thiền định, thà nh tựu quán hạnh, ở nơi không tịnh.

“Nà y Tỳ-kheo, hãy ước nguyện rằng: ‘Nếu ta sanh khởi ba niệm ác bất thiện, niệm dục, niệm nhuế, niệm hại; mong ta không bao giờ để đắm trước với ba niệm ác bất thiện đó’. Vậy hãy thà nh tựu được giới cụ túc và không phế bỏ thiền định, thà nh tựu quán hạnh, ở nơi không tịnh.

“Nà y Tỳ-kheo, hãy ước nguyện rằng: ‘Mong ta ly dục, ly pháp ác bất thiện, cho đến chứng đắc đệ Tứ thiền, thà nh tựu và an trụ’. Vậy hãy thà nh tựu giới cụ túc và không phế bỏ thiền định, thà nh tựu quán hạnh, ở nơi không tịnh.

“Nà y Tỳ-kheo, hãy ước nguyện rằng: ‘Mong ta dứt hẳn ba kiết, chứng đắc quả Tu-đà -hoà n, không bị rơi xuống pháp ác, quyết định thú hướng đến quả vị Chánh giác, tối đa còn bảy lần ở cõi trời. Sau bảy lần qua lại rồi liền chứng đắc khổ biên’. Vậy hãy thà nh tựu giới cụ túc và không phế bỏ thiền định, thà nh tựu quán hạnh, ở nơi không tịnh.

“Nà y Tỳ-kheo, hãy ước nguyện rằng: ‘Mong ta đã dứt hết ba kết, là m mỏng dâm, nộ, si; chỉ còn một lần qua lại ở cõi trời, cõi người. Sau một lần qua lại rồi liền chứng đắc khổ biên’. Vậy hãy thà nh tựu giới cụ túc và không phế bỏ thiền định, thà nh tựu quán hạnh, ở nơi không tịnh.

“Nà y Tỳ-kheo, hãy ước nguyện rằng: ‘Mong ta dứt hết năm phần kiết, sanh và o thế gian kia mà chứng đắc Niết-bà n, được pháp bất thối, không trở lại thế gian nà y’. Vậy hãy thà nh tựu giới cụ túc và không phế bỏ thiền định, thà nh tựu quán hạnh ở nơi không tịnh.

“Nà y Tỳ-kheo, hãy ước nguyện rằng: ‘Mong ta được tịch tịnh giải thoát, ly sắc, chứng đắc vô sắc với định như vậy, tự thân chứng ngộ, thà nh tựu và an trụ, do tuệ quán mà đoạn trừ lậu và biến tri lậu’. Vậy hãy thà nh tựu giới cụ túc và không phế bỏ thiền định, thà nh tựu quán hạnh ở nơi không tịnh.

“Nà y Tỳ-kheo, hãy ước nguyện rằng: ‘Mong ta được như ý túc, thiên nhãn trí, tha tâm trí, túc mạng trí, sanh tử trí, các lậu đã dứt sạch, chứng đắc vô lậu, tâm giải thoát, tuệ giải thoát, ngay trong đời nà y tự tri tự giác, tự thân chứng ngộ, thà nh tựu và an trụ, biết một cách như thật rằng ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần là m đã là m xong, không còn tái sanh nữa’.’ Vậy hãy thà nh tựu giới cụ túc và không phế bỏ thiền định, thà nh tựu quán hạnh ở nơi không tịnh”.

Lúc bấy giờ, Tỳ-kheo ấy sau khi nghe Phật thuyết giảng, khéo thọ lãnh, khéo ghi nhớ, từ chỗ ngồi đứng dậy, cúi đầu đảnh lỠdưới chân Phật, đi nhiỠu quanh ba vòng rồi lui ra. Tỳ-kheo ấy lãnh thọ lời Phật dạy, ẩn dật nơi yên tĩnh, thiền tọa tư duy, tu hà nh tinh cần, tâm không phóng dật. Do ẩn dật những nơi yên tĩnh, thiền tọa tư duy, tu hà nh tinh cần, tâm không phóng dật để đạt đến mục đích mà thiện nam tử cạo bỏ râu tóc, khoác áo ca-sa, chí tín, lìa bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia học đạo, là đây chỉ mong thà nh tựu phạm hạnh vô thượng, ngay trong đời nà y mà tự tri tự giác, tự thân chứng ngộ, thà nh tựu và an trụ, biết một cách như thật rằng ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần là m đã là m xong, không còn tái sanh nữa’. Tôn giả ấy đã biết pháp rồi, liền chứng quả A-la-hán.

Phật thuyết như vậy. Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hà nh.

-ooOoo-

Chú thích:

[01] Tương đương Pāli, M. 6 ĀkaṠkheyyasuttaṃ. Tham chiếu, A. 10. 71 ĀkaṠkha.
[02] Đắc cụ túc giới 得 å · è¶³ 戒. Pāli: sampannasÄ«la, giới được thà nh tá»±u.
[03] Thà nh tựu quán hạnh. Pāli: vipassanāya samannāgato.
[04] Không tĩnh xứ 空 靜 處. Pāli: suññāgāra, chỗ trống không, trống trải.

-ooOoo-

trang trước

đầu trang

trang kế


[Thư mục BuddhaSasana]