Thư mục BuddhaSasana

Lưu ý: Đọc với phông chữ CN-Times nâng cấp hay Arial Unicode MS


 

Trung A HÃ m Kinh
Mục Lục Tổng Quát
01. PHẨM BẢY PHÁP
02. PHẨM NGHIỆP TÆ¯Æ NG ƯNG
03. PHẨM XÁ-LÊ TỬ TÆ¯Æ NG ƯNG
04. PHẨM VỊ TẰNG HỮU PHÁP
32. Kinh Vị Tằng Hữu Pháp
33. Kinh Thị Giả
34. Kinh Bạc-Câu-La
35. Kinh A-Tu-La
36. Kinh Địa Ðộng
37. Kinh Chiêm-Ba
38. Kinh Úc-Già Trưởng Giả (I)
39. Kinh Úc-Già Trưởng Giả (II)
40. Kinh Thủ Trưởng Giả (I)
41. Kinh Thủ Trưởng Giả (II)
05. PHẨM TẬP TÆ¯Æ NG ƯNG
06. PHẨM VÆ¯Æ NG TÆ¯Æ NG ƯNG
07. PHẨM TRƯỜNG THỌ VÆ¯Æ NG
08. PHẨM UẾ
09. PHẨM NHÂN
10. PHẨM LÂM
11. PHẨM ĐẠI (Phần đầu)
12. PHẨM PHẠM CHÍ (Phần đầu)
12. PHẨM PHẠM CHÍ (Phần sau) 
13. PHẨM CĂN BỔN PHÂN BIỆT
14. PHẨM TÂM
15. PHẨM SONG
16. PHẨM ĐẠI (Phần sau)
17. PHẨM BÔ-ĐA-LỢI
18. PHẨM LỆ

 

Source: LotusMedia lotusmedia.net
 
中 阿 含 經
KINH TRUNG A HÀM
Hán Dịch: Phật Ðà Da Xá & Trúc Phật Niệm,
Việt Dịch & Hiệu Chú: Thích Tuệ Sỹ

4. PHẨM VỊ TẰNG HỮU PHÁP

40. KINH THỦ TRƯỞNG GIẢ (I)[1]

Tôi nghe như vầy:

Môt thời Phật du hóa tại A-la-bệ Già -la[02], trong Hòa lâm.

Bấy giờ Thủ Trưởng giả[03], cùng với năm trăm Đại trưởng giả đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lỠdưới chân Phật rồi ngồi sang một bên. Năm trăm Trưởng giả cũng cúi đầu đảnh lỠdưới chân Phật rồi ngồi sang một bên.

Đức Thế Tôn bảo rằng:

“Nà y Thủ Trưởng giả, nay ông có một chúng rất đông nà y, Trưởng giả, ông dùng phương pháp gì để nhiếp hóa đại chúng nà y?”

Bấy giờ Thủ Trưởng giả thưa rằng:

“Bạch Thế Tôn, có bốn sự nhiếp[04], như Đức Thế Tôn đã dạy. Một là huệ thí, hai là ái ngôn, ba là dĩ lợi, bốn là đẳng lợi[05]. Bạch Thế Tôn, con dùng bốn phương pháp ấy để nhiếp hóa đồ chúng nà y, hoặc là dùng bố thí, hoặc là dùng ái ngôn, hoặc là dùng lợi, hoặc là dùng đẳng lợi.

Đức Thế Tôn khen rằng:

“Là nh thay! Là nh thay! Nà y Thủ Trưởng giả, ông có thể bằng như pháp ấy mà nhiếp hóa đại chúng, lại bằng như môn ấy mà nhiếp hóa đại chúng, lại bằng như nhân duyên mà nhiếp hóa đại chúng[06]. Nà y Thủ Trưởng giả, nếu trong quá khứ có Sa-môn, Phạm chí nà o[07], bằng như pháp mà nhiếp hóa đại chúng, tất cả những sự nhiếp hóa đấy đều hoà n toà n[08] ở trong bốn sự nhiếp nà y. Nà y Thủ Trưởng giả, nếu trong vị lai có Sa-môn, Phạm chí nà o bằng như pháp nhiếp hóa đại chúng, tất cả những sự nhiếp hóa ấy hoà n toà n ở trong bốn sự nhiếp nà y. Nà y Thủ Trưởng Giả, nếu trong hiện tại có Sa-môn, Phạm chí nà o bằng như pháp nhiếp hóa đại chúng, tất cả những pháp ấy đều hoà n toà n ở trong bốn sự nhiếp nà y.

Bấy giờ Đức Thế Tôn thuyết pháp cho Thủ Trưởng giả, khuyến giáo, khích lệ, là m cho hoan hỷ. Sau khi bằng vô lượng phương tiẹân thuyết pháp cho ông, khuyến giáo, khích lệ, là m cho hoan hỷ rồi, Ngà i ngồi im lặng.

Bấy giờ, sau khi được Đức Thế Tôn thuyết pháp cho, khuyến giáo, khích lệ, là m cho hoan hỷ rồi, Thủ Trưởng giả liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lỠĐức Phật, nhiỠu quanh ba vòng rồi ra đi.

Trở về nhà , khi từ cổng ngoà i, nếu có gặp người nà o, ông đều thuyết pháp cho, khuyến giáo, khích lệ, là m cho hoan hỷ. Khi đến trong cổng ngõ giữa, cổng nhỏ trong nhà và đến bên trong nhà , nếu gặp người nà o ông đều thuyết pháp cho, khuyến giáo, khích lệ, là m cho hoan hỷ. Sau khi và o nhà , trải giường, ngồi kiết già , tâm câu hữu với từ, biến mãn một phương, thà nh tựu và an trụ. Cũng vậy, hai, ba, bốn phương, tứ duy, thượng hạ, biến khắp tất cả, tâm câu hữu với từ, không kết, không nhuế, không oán, không tránh, rộng lớn bao la vô lượng, khéo tu tập, biến mãn tất cả thế gian, thà nh tựu và an trụ. Cũng vậy, với bi và hỷ; tâm câu hữu với xả, không kết, không oán, không nhuế, không tránh, rộng lớn bao la, khéo tu tập biến mãn tất cả thế gian thà nh tựu và an trụ.

Bấy giờ chư Thiên ở cõi Tam thập tam thiên tập trung tại pháp đường xuýt xoa khen ngợi Thủ Trưởng giả.

“Nà y chư Hiền, Thủ Trưởng giả có đại thiện lợi, đại công đức. Vì sao thế? Nà y chư Hiền, Thủ Trưởng giả ấy, sau khi được Đức Phật thuyết pháp, khuyến giáo, khích lệ, là m cho hoan hỷ rồi, ông liền từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lỠPhật, nhiỠu quanh ba vòng rồi ra đi. Trở về nhà , khi từ cổng ngoà i, nếu có gặp người nà o, ông đều thuyết pháp cho, khuyến giáo, khích lệ, là m cho hoan hỷ. Khi đến trong cổng ngõ giữa, cổng nhỏ trong nhà và đến bên trong nhà , nếu gặp người nà o ông đều thuyết pháp cho, khuyến giáo, khích lệ, là m cho hoan hỷ. Sau khi và o nhà , trải giường, ngồi kiết già , tâm câu hữu với từ, biến mãn một phương, thà nh tựu và an trụ. Cũng vậy, hai, ba, bốn phương, tứ duy, thượng hạ, biến khắp tất cả, tâm câu hữu với từ, không kết, không nhuế, không oán, không tránh, rộng lớn bao la vô lượng, khéo tu tập, biến mãn tất cả thế gian, thà nh tựu và an trụ. Cũng vậy, với bi và hỷ; tâm câu hữu với xả, không kết, không oán, không nhuế, không tránh, rộng lớn bao la, khéo tu tập, biến mãn tất cả thế gian thà nh tựu và an trụ.”

Bấy giờ, Tỳ-sa-môn Đại thiên vương, sắc tượng nguy nga, ánh sáng rực rỡ, lúc đêm gần về sáng, đi đến nhà Thủ Trưởng giả, nói rằng:

“Nà y Trưởng giả, ông có đại thiện lợi, có đại công đức. Vì sao thế? Hôm nay ở cõi Tam thập tam thiên vì Trưởng giả mà tập trung tại pháp đường xuýt xoa khen ngợi: ‘Thủ Trưởng giả ấy có đại thiện lợi, có đại công đức. Vì sao thế? Nà y chư Hiền, vì Thủ Trưởng giả ấy, sau khi được Đức Phật thuyết pháp, khuyến giáo, khích lệ, là m cho hoan hỷ rồi, ông liền từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lỠPhật, nhiỠu quanh ba vòng rồi ra đi. Trở về nhà , khi từ cổng ngoà i, nếu có gặp người nà o, ông đều thuyết pháp cho, khuyến giáo, khích lệ, là m cho hoan hỷ. Khi đến trong cổng ngõ giữa, cổng nhỏ trong nhà và đến bên trong nhà , nếu gặp người nà o ông đều thuyết pháp cho, khuyến giáo, khích lệ, là m cho hoan hỷ. Sau khi và o nhà , trải giường, ngồi kiết già , tâm câu hữu với từ, biến mãn một phương, thà nh tựu và an trụ. Cũng vậy, hai, ba, bốn phương, tứ duy, thượng hạ, biến khắp tất cả, tâm câu hữu với từ, không kết, không nhuế, không oán, không tránh, rộng lớn bao la vô lượng, khéo tu tập, biến mãn tất cả thế gian, thà nh tựu và an trụ. Cũng vậy, với bi và hỷ; tâm câu hữu với xả, không kết, không oán, không nhuế, không tránh, rộng lớn bao la, khéo tu tập biến mãn tất cả thế gian thà nh tựu và an trụ’.”

Bấy giờ Thủ Trưởng giả im lặng không nói gì cả; không ngắm, không nhìn Tỳ-sa-môn Đại thiên vương. Vì sao thế? Vì tôn trọng định tâm và để thủ họâ định tâm của mình.

Bấy giờ Đức Thế Tôn ở giữa vô lượng trăm nghìn đại chúng, khen ngợi Thủ Trưởng giả:

“Thủ Trưởng giả có bảy pháp vị tằêng hữu. Sau khi Ta thuyết pháp cho Thủ Trưởng giả ấy, khuyến giáo, khích lệ, là m cho hoan hỷ rồi, ông liền từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lỠTa, nhiỠu quanh ba vòng rồi ra đi. Trở về nhà , khi từ cổng ngoà i, nếu có gặp người nà o, ông đều thuyết pháp cho, khuyến giáo, khích lệ, là m cho hoan hỷ. Khi đến trong cổng ngõ giữa, cổng nhỏ trong nhà và đến bên trong nhà , nếu gặp người nà o ông đều thuyết pháp cho, khuyến giáo, khích lệ, là m cho hoan hỷ. Sau khi và o nhà , trải giường, ngồi kiết già , tâm câu hữu với từ, biến mãn một phương, thà nh tựu và an trụ. Cũng vậy, hai, ba, bốn phương, tứ duy, thượng hạ, biến khắp tất cả, tâm câu hữu với từ, không kết, không nhuế, không oán, không tránh, rộng lớn bao la vô lượng, khéo tu tập, biến mãn tất cả thế gian, thà nh tựu và an trụ. Cũng vậy, với bi và hỷ; tâm câu hữu với xả, không kết, không oán, không nhuế, không tránh, rộng lớn bao la, khéo tu tập biến mãn tất cả thế gian thà nh tựu và an trụ.

“Hôm nay chư Thiên ở Tam thập tam thiên vì Trưởng già ấy mà tập trung ở pháp đường để khen ngợi: ‘Thủ Trưởng giả có đại thiện lợi, đại công đức. Vì sao thế? Nà y chư Hiền, Thủ Trưởng giả ấy, sau khi được Đức Phật thuyết pháp, khuyến giáo, khích lệ, là m cho hoan hỷ rồi, ông liền từ chỗ ngồi dứng dậy đảnh lỠPhật, nhiỠu quanh ba vòng rồi ra đi. Trở về nhà , khi từ cổng ngoà i, nếu có gặp người nà o, ông đều thuyết pháp cho, khuyến giáo, khích lệ, là m cho hoan hỷ. Khi đến trong cổng ngõ giữa, cổng nhỏ trong nhà và đến bên trong nhà , nếu gặp người nà o ông đều thuyết pháp cho, khuyến giáo, khích lệ, là m cho hoan hỷ. Sau khi và o nhà , trải giường, ngồi kiết già , tâm câu hữu với từ, biến mãn một phương, thà nh tựu và an trụ. Cũng vậy, hai, ba, bốn phương, tứ duy, thượng hạ, biến khắp tất cả, tâm câu hữu với từ, không kết, không nhuế, không oán, không tránh, rộng lớn bao la vô lượng, khéo tu tập, biến mãn tất cả thế gian, thà nh tựu và an trụ. Cũng vậy, với bi và hỷ; tâm câu hữu với xả, không kết, không oán, không nhuế, không tránh, rộng lớn bao la, khéo tu tập biến mãn tất cả thế gian thà nh tựu và an trụ’.

 â€œHôm nay Tỳ-sa-môn Đại thiên vương, sắc tượng nguy nga, ánh sáng rá»±c rỡ, lúc đêm gần về sáng, đi đến nhà Thá»§ Trưởng giả, nói:

“– Nà y Trưởng giả, ông có đại thiện lợi, có đại công đức. Vì sao thế? Hôm nay ở cõi Tam thập tam thiên vì Trưởng giả mà tập trung tại pháp đường xuýt xoa khen ngợi: ‘Thủ Trưởng giả ấy có đại thiện lợi, có đại công đức. Vì sao thế? Nà y chư Hiền, vì Thủ Trưởng giả ấy, sau khi được Đức Phật thuyết pháp, khuyến giáo, khích lệ, là m cho hoan hỷ rồi, ông liền từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lỠPhật, nhiỠu quanh ba vòng rồi ra đi. Trở về nhà , khi từ cổng ngoà i, nếu có gặp người nà o, ông đều thuyết pháp cho, khuyến giáo, khích lệ, là m cho hoan hỷ. Khi đến trong cổng ngõ giữa, cổng nhỏ trong nhà và đến bên trong nhà , nếu gặp người nà o ông đều thuyết pháp cho, khuyến giáo, khích lệ, là m cho hoan hỷ. Sau khi và o nhà , trải giường, ngồi kiết già , tâm câu hữu với từ, biến mãn một phương, thà nh tựu và an trụ. Cũng vậy, hai, ba, bốn phương, tứ duy, thượng hạ, biến khắp tất cả, tâm câu hữu với từ, không kết, không nhuế, không oán, không tránh, rộng lớn bao la vô lượng, khéo tu tập, biến mãn tất cả thế gian, thà nh tựu và an trụ. Cũng vậy, với bi và hỷ; tâm câu hữu với xả, không kết, không oán, không nhuế, không tránh, rộng lớn bao la, khéo tu tập biến mãn tất cả thế gian thà nh tựu và an trụ’.”

Bấy giờ có một Tỳ-kheo, sau khi đêm đã qua, và o lúc sáng sớm, khoác y ôm bát đến nhà Thủ Trưởng giả. Thủ Trưởng giả từ xa trông thấy Tỳ-kheo, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, chắp tay hướng về thầy Tỳ-kheo mà thưa:

“Kính chà o Tôn giả! Tôn giả đã lâu không đến đây. Mời ngồi trên giường nà y.”

Lúc đó Tỳ-kheo liền ngồi trên giường đó. Thủ Trưởng giả đảnh lỠdưới chân Tỳ-kheo, rồi ngồi sang một bên. Tỳ-kheo nói:

“Nà y Trưởng giả, ông có đại thiện lợi, đại công đức. Vì sao thế? Đức Thế Tôn vì ông ở giữa vô lượng trăm ngà n đại chúng mà khen ngợi Thủ Trưởng giả: ‘Thủ Trưởng giả có bảy pháp vị tằêng hữu. Sau khi Ta thuyết pháp cho Thủ Trưởng giả ấy, khuyến giáo, khích lệ, là m cho hoan hỷ rồi, ông liền từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lỠTa, nhiỠu quanh ba vòng rồi ra đi. Trở về nhà , khi từ cổng ngoà i, nếu có gặp người nà o, ông đều thuyết pháp cho, khuyến giáo, khích lệ, là m cho hoan hỷ. Khi đến trong cổng ngõ giữa, cổng nhỏ trong nhà và đến bên trong nhà , nếu gặp người nà o ông đều thuyết pháp cho, khuyến giáo, khích lệ, là m cho hoan hỷ. Sau khi và o nhà , trải giường, ngồi kiết già , tâm câu hữu với từ, biến mãn một phương, thà nh tựu và an trụ. Cũng vậy, hai, ba, bốn phương, tứ duy, thượng hạ, biến khắp tất cả, tâm câu hữu với từ, không kết, không nhuế, không oán, không tránh, rộng lớn bao la vô lượng, khéo tu tập, biến mãn tất cả thế gian, thà nh tựu và an trụ. Cũng vậy, với bi và hỷ; tâm câu hữu với xả, không kết, không oán, không nhuế, không tránh, rộng lớn bao la, khéo tu tập biến mãn tất cả thế gian thà nh tựu và an trụ.

“Hôm nay chư Thiên ở Tam thập tam thiên vì Trưởng già ấy mà tập trung ở pháp đường để khen ngợi: ‘Thủ Trưởng giả có đại thiện lợi, đại công đức. Vì sao thế? Nà y chư Hiền, Thủ Trưởng giả ấy, sau khi được Đức Phật thuyết pháp, khuyến giáo, khích lệ, là m cho cho hoan hỷ rồi, ông liền từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lỠPhật, nhiỠu quanh ba vòng rồi ra đi. Trở về nhà , khi từ cổng ngoà i, nếu có gặp người nà o, ông đều thuyết pháp cho, khuyến giáo, khích lệ, là m cho hoan hỷ. Khi đến trong cổng ngõ giữa, cổng nhỏ trong nhà và đến bên trong nhà , nếu gặp người nà o ông đều thuyết pháp cho, khuyến giáo, khích lệ, là m cho hoan hỷ. Sau khi và o nhà , trải giường, ngồi kiết già , tâm câu hữu với từ, biến mãn một phương, thà nh tựu và an trụ. Cũng vậy, hai, ba, bốn phương, tứ duy, thượng hạ, biến khắp tất cả, tâm câu hữu với từ, không kết, không nhuế, không oán, không tránh, rộng lớn bao la vô lượng, khéo tu tập, biến mãn tất cả thế gian, thà nh tựu và an trụ. Cũng vậy, với bi và hỷ; tâm câu hữu với xả, không kết, không oán, không nhuế, không tránh, rộng lớn bao la, khéo tu tập biến mãn tất cả thế gian thà nh tựu và an trụ’.

 â€œHôm nay Tỳ-sa-môn Đại thiên vương, sắc tượng nguy nga, ánh sáng rá»±c rỡ, lúc đêm gần về sáng, đi đến nhà Thá»§ Trưởng giả, nói:

“– Nà y Trưởng giả, ông có đại thiện lợi, có đại công đức. Vì sao thế? Hôm nay ở cõi Tam thập tam thiên vì Trưởng giả mà tập trung tại pháp đường xuýt xoa khen ngợi: ‘Thủ Trưởng giả ấy có đại thiện lợi, có đại công đức. Vì sao thế? Nà y chư Hiền, vì Thủ Trưởng giả ấy, sau khi được Đức Phật thuyết pháp, khuyến giáo, khích lệ, là m cho hoan hỷ rồi, ông liền từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lỠPhật, nhiỠu quanh ba vòng rồi ra đi. Trở về nhà , khi từ cổng ngoà i, nếu có gặp người nà o, ông đều thuyết pháp cho, khuyến giáo, khích lệ, là m cho hoan hỷ. Khi đến trong cổng ngõ giữa, cổng nhỏ trong nhà và đến bên trong nhà , nếu gặp người nà o ông đều thuyết pháp cho, khuyến giáo, khích lệ, là m cho hoan hỷ. Sau khi và o nhà , trải giường, ngồi kiết già , tâm câu hữu với từ, biến mãn một phương, thà nh tựu và an trụ. Cũng vậy, hai, ba, bốn phương, tứ duy, thượng hạ, biến khắp tất cả, tâm câu hữu với từ, không kết, không nhuế, không oán, không tránh, rộng lớn bao la vô lượng, khéo tu tập, biến mãn tất cả thế gian, thà nh tựu và an trụ. Cũng vậy, với bi và hỷ; tâm câu hữu với xả, không kết, không oán, không nhuế, không tránh, rộng lớn bao la, khéo tu tập biến mãn tất cả thế gian thà nh tựu và an trụ.

“Bấy giờ Thủ Trưởng giả im lặng không nói gì cả, không ngắm, không nhìn Tỳ-sa-môn Đại thiên vương. Vì sao thế? Vì tôn trọng định tâm và để thủ hộ địng tâm của mình.”

Bấy giờ Thủ Trưởng giả thưa với thầy Tỳ-kheo rằng:

“Bạch Tôn giả lúc bấy giờ không có người bạch y nà o chăng?”

Tỳ-kheo đáp:

“Không có người bạch y nà o.”

Và hỏi lại:

“Nếu có người bạch y thì sẽ có sai lầm gì?”

 Trưởng giả đáp:

 â€œBạch Tôn giả, hoặc có người không tin lời cá»§a Đức Thế Tôn; người ấy sẽ ấy sẽ vÄ©nh viá» n bất nghÄ©a, bất nhẫn[09], sanh và o chỗ cá»±c ác, thọ vô lượng khổ. Nếu kẻ nà o tin lời Đức Thế Tôn người ấy do việc đó sẽ cung kính lá» bái con. Bạch Tôn giả, con cÅ©ng không thích được như vậy. Bạch Tôn giả, mời ở lại đây thọ thá»±c.”

Tỳ-kheo ấy im lặng nhận lời. Sau khi biết Tỳ-kheo đã im lặng nhận lời, Trưởng giả Úc-già liền từ chỗ ngồi đứng dậy, tự mình múc nước rửa tay, rồi đem tất cả rất nhiều món ăn cứng và mềm rất mỹ diệu tinh khiết, ngon là nh, tự tay hầu sớt, để cho Tỳ-kheo ăn được no đủ. Ăn xong, dọn cất đồ đạc và dùng nước rồi, lấy một giường nhỏ ngồi riêng để nghe pháp.

Thầy Tỳ-kheo thuyết pháp cho Trưởng giả, khuyến giáo, khích lệ, là m cho hoan hỷ. Sau khi bằng vô lượng phương tiện thuyết pháp cho ông, khuyến giáo, khích lệ, là m cho hoan hỷ rồi, Tỳ-kheo liền từ chỗ ngồi đứng dậy mà đi. Đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lỠdưới chân Phật rồi ngồi sang một bên, rồi đem trình bà y đầy đủ lại cuộc thảo luận giữa thầy và Thủ Trưởng giả lên Đức Phật.

Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các thầy Tỳ-kheo rằng:

“Ta vì cớ ấy mà khen Thủ Trưởng giả có bảy pháp vị tằng hữu. Lại nữa, Thủ Trưởng giả có pháp vị tằng hữu thứ tám là Thủ Trưởng giả vô cầu, vô dục.

Phật thuyết như vậy. Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hà nh.

-ooOoo-

Chú thích:

[01] Tương đương Pāli: A. viii. 24 Hatthaka.
[02] A-la-bệ Già -la 阿 邏 鞞 伽 邏. Pāli: Āḷaviyaṃ viharati Aggaḷave cetiye, trú ở Āḷavi, trong miếu Aggaḷava. Aggaḷava, mọât ngôi miếu tại Āḷavi, Phật thường dừng chân tại đây, và cũng tại đây Phật thiết lập một số điều khoản trong giới bổn Tỳ-kheo. Āḷavi là một thị trấn cách Sāvatthi 30 do-tuần.
[03] Thá»§ Trưởng giả 手 長 è€ . Pāli: Hattaka, cÅ©ng gọi là Āḷavaka, con trai cá»§a vua xứ Āḷavi.
[04] Tứ sự nhiếp 四 事 攝, hay Tứ nhiếp pháp 四 攝 法. Pāli: Cattāri saṠgahavatthūni: dānaṃ, peyyavajjaṃ, atthacariyā, samānattatā.
[05] Huệ thí, ái ngôn, dÄ© lợi, đẳng lợi æƒ æ–½ 愛 言 以 利 等 利. Thường nói là : Bố thí, ái ngữ, lợi hà nh, đồng sá»±. Xem giải thích Tập Dị 9 (DTK. 2026, tr.402c).
[06] Hán: như pháp, như môn, như nhân duyên 如 法 如 門 如 å› ç·£.
[07] Pāli: ye hi keci… bất cứ ai…
[08] Hán: hoặc hữu dư 或 有 餘.
[09] Hán: bất nghĩa, bất nhẫn; có lẽ phải hiểu là : không được lợi ích, không được an ổn; Pāli: na attha, na khema.

-ooOoo-

trang trước

đầu trang

trang kế


[Thư mục BuddhaSasana]