BuddhaSasanaHome Page
This document is written in Vietnamese, with Unicode Times font 


Phương Pháp Trau Giồi Thiền Tập

Thiền Sư Acharn Thoon Khippananno

Dịch giả Phạm Kim Khánh


A. Thiền Hà nh (Cankama)

1. Chuẩn Bị Thiền Hà nh

Con đường kinh hà nh (cankama) nên được trải rộng lối 1 thước bề ngang và dà i lối 15 thước. Mặt đất nên bằng phẳng không lồi lõm, tránh cho hà nh giả khỏi lo phải vấp váp hay hụt chân trong khi thiền hà nh. Người hà nh thiền đứng ở một đầu con đường, mặt hướng về phía đầu kia; chắp hai tay trước ngực hoặc trước trán, tỏ lòng tôn kính Ðức Phật, và chú nguyện :

"Giờ đây con xin nguyện thá»±c tập Thiền hà nh. Con hết lòng thà nh kính cúi đầu đảnh lá» Phật Bảo, Pháp Bảo và Tăng Bảo. Con cÅ©ng xin đảnh lá» cha mẹ, các bậc Thầy Tổ và những vị ân nhân. ­Æ¡c mong rằng con sẽ có thể phát triển chú niệm, tÄ©nh lặng, và nhận thấy Chân lý một cách rõ rà ng. Ngưỡng mong hà nh động trong sạch nà y cá»§a con sẽ là nguồn gợi hứng cho tất cả chúng sanh, ước mong tất cả mọi chúng sanh mở lượng khoan hồng tha thứ cho nhau, không gây oan trái lẫn nhau. ­Æ¡c mong tất cả đều được an vui hạnh phúc."

Rồi hà nh giả buông xuôi hai tay dà i xuống bụng, tay mặt úp trên lưng tay trái, nghiêm chỉnh đứng yên. Giữ tâm bình thản, không thỏa thích cũng không bất mãn và chú nguyện:

"Kể từ giờ phút nà y tôi quyết tâm thực tập thiền hà nh và gác bỏ qua một bên mọi vọng tưởng."

Rồi hà nh giả khởi niệm :

1) Chậm rãi thở và o, giữ tâm theo dõi hơi thở và niệm thầm "Bud" (Bút).

Chậm rãi thở ra, giữ tâm theo dõi hơi thở và niệm thầm "dho" (thô).

Chậm rãi thở và o, giữ tâm theo dõi hơi thở và niệm thầm "Dham" (Tham).

Chậm rãi thở ra, giữ tâm theo dõi hơi thở và niệm thầm "mo" (mô).

Chậm rãi thở và o, giữ tâm theo dõi hơi thở và niệm thầm "Sang" (Xẳng).

Chậm rãi thở ra, giữ tâm theo dõi hơi thở và niệm thầm "gho" (khô).

[Chú Thích:
Buddho (Bút-thô) = Phật bảo; Dhammo (Thăm-mô) = Pháp Bảo; Sangho (Xẳng-khô) = Tăng Bảo]

2) Niệm như thế độ 10 lần, thỉnh Phật, Pháp, Tăng vững và ng nhập và o tâm.

3) Rồi, không niệm Dhammo và Sangho nữa mà chỉ niệm "Bud-dho", và bắt đầu bước chân theo một trong những phương pháp sau đây :

2. Phương Pháp Thiền Hà nh Thứ Nhất

Bước một bước, trong khi bước giữ tâm theo dõi và niệm thầm "Bud" (Bút); bước một bước nữa và niệm thầm "dho" (thô). Cứ thế đi dà i theo đường kinh hà nh (cankama). Mỗi khi sự chú tâm của mình không ở trong bước đi hà nh giả biết rằng mình đã thất niệm, và phải kéo chú niệm (sati) trở về bước đi cho đến khi tâm vững chắc theo dõi mỗi bước. Không nên quá mau hoặc quá chậm, đi như bình thường.

Ðây là phương pháp nhằm khai triển sự gom tâm trong khi đi. Khi đến mút đầu đường kinh hà nh, hà nh giả quay trở lai, luôn luôn quay mình về phía tay mặt. Và cứ thế, đi tới đi lui.

3. Phương Pháp Thiền Hà nh Thứ Nhì

Trong phương pháp nà y, hà nh giả theo dõi hơi thở thay vì gom tâm và o bước chân đi. Niệm "Bud" khi thở và o, và "dho" khi thở ra. Hà nh giả thực hà nh pháp an trụ tâm bằng cách chăm chú theo dõi hơi thở và dùng hai chữ "Bud-dho" như danh từ parikamma, đề mục hà nh thiền, hay một chữ là m đối tượng để chú tâm và o. Ðến lúc mệt mỏi hà nh giả dừng chân lai, đúng yên và tiếp tục chăm chú thầm niệm "Bud-dho", "Bud-dho"như trước.

4. Phương Pháp Thiền Hà nh Thứ Ba

Theo phương pháp nà y, hà nh giả gom tâm và o bất luận phần nà o của thân mà mình thấy dỠdà ng có thể tập trung chú niệm, rồi dùng điểm ấy là m đề mục hà nh thiền. Niệm và bản chất "hiểu biết" của tâm (sati và sampajanna, niệm và hay biết rõ rà ng) cùng ở chung ở đó.

Ðối với hà nh giả sơ cơ, hãy tưởng tượng hình dáng của phần ấy: mà u sắc như thế nà o, nơi đó bằng phẳng, trơn bóng, sần sùi hay sao, nằm ở đâu v.v.. Tưởng tượng, nghĩ tới lui như vậy ít lâu hà nh giả có thể chú tâm và o nơi đó dỠdà ng hơn, dầu nhắm hay mở mắt. Khi đã đủ thuần thục, hà nh giả có thể di chuyển điểm chú tâm ấy dến một nơi nà o khác trong thân và nhìn thấy rằng tất cả những phần trong thân đều có đặc tính căn bản giống nhau. Sự kiện nà y sẽ giúp là m nền tảng cho trí tuệ, hay tuệ minh sát (vipassana), phát sanh. Phương pháp nà y không gom tâm theo dõi bước đi, tức không dùng cử động của chân là m đối tượng để chú tâm. Thay vì thế, dùng tên của một phần trong thân như "taco" da, "atthi" xương, là m danh từ parikamma, đề mục hà nh thiền.

5. Phương Pháp Thiền Hà nh Thứ Tư.

Theo phương pháp nà y hà nh giả gom tâm và o những đối tượng tinh thần -- thô thiển hay vi tế, vừa ý hay là m cho ta bất mãn -- sanh khởi trong tâm. Hãy hay biết sự sanh khởi của những đối tượng tâm linh, nhưng không suy tư nghĩ ngợi về nguồn gốc của nó, vì như vậy cảm giác cà ng trở nên sâu đậm hơn. Mỗi đối tượng tâm linh đều có nguyên nhân. Hà nh giả phải đủ thận trọng để nhận thấy rõ rà ng nguyên nhân của đối tượng tâm linh và trông chừng xem nó bà nh trướng như thế nà o.

Nguyên nhân ở đây là nguyên nhân bên trong, vốn đã ở tâm. Nhiên liệu đã có sẵn trong tâm: đó là lòng tham, khát khao ham muốn ngũ trần và nhục dục. Từ xa xưa, rất xa xưa trong vô số tiền kiếp, tâm khát khao mong tìm dục lạc trong hình sắc, âm thanh, mùi , vị, và những xúc chạm vừa lòng. Cùng thế ấy, trong kiếp hiện tại tâm thiết tha mong muốn những đối tượng tinh thần "sống động" trong mắt, tai, mũi, lưỡi và thân. Cho đến nay hình sắc, âm thanh, mùi, vị và những xúc chạm của thân gây cảm kích sâu đậm trong tâm và là nguyên nhân từ bên trong đưa đến hà nh động bằng thân khẩu ý. Khi ta cảm nhận một đối tượng xuyên qua giác quan thì tâm có chiều hướng giữ nó lại và suy tư về điều ấy, cho đến khi nó dính chặt và o tâm.

Ðối tượng tâm linh cùng ở chung với tâm. Như vậy, khi ta gom tâm và o đối tượng tâm linh (pháp), trong thực tế là ta nhìn chính cái tâm của mình. Trong khi quán chiếu nội tâm, ta phải hay biết dúng lúc khi nà o tham, sân, si sanh khởi. Phải đủ giác tỉnh để nhận ra ngay kẻ "xâm lăng" nà o lẻn và o tâm mình. Là m cho nó dần dần suy nhược và tan biến. Tuy nhiên điều quan trọng là không nên để tâm suy tư về nguyên nhân của đối tượng tâm linh, vốn có thể là hình sắc, âm thanh, mùi, vị hay xúc chạm của thân, bở i vì suy tưởng đến nó có thể là m cho cảm giác cà ng tăng trưởng mạnh mẽ và có thể gây tổn hại cho tâm nhiều hơn. Phương cách đúng là chỉ gom tâm và o đối tượng (pháp) vừa sanh khởi trong tâm. Chăm chú lưu tâm đến nó cho đến khi nhận thấy rõ rà ng thật sự nó là gì. Nó sẽ sớm suy giảm và dần dần tan biến. Ðó là "trận chiến bên trong nội tâm" hay cuộc xung đột giữa niệm và pháp, sự chú niệm và đối tượng tâm linh. Ta sẽ thắng hay bại tùy theo niệm lực của tâm.

Chấm dứt buổi thiền hà nh, hà nh giả đứng ở cuối con đường kinh hà nh (cankamana), quay mặt về phiá cuối đường kia. Rồi chắp hai tay đảnh lỠÐức Thế Tôn như lúc mới bắt đầu và niệm thầm.

"Con vừa đi kinh hà nh xong để tỏ lòng trong sạch tri ân Ðức Phật, Ðức Pháp, và Ðức Tăng. Ngưỡng nguyện rằng pháp hà nh nà y của con sẽ đem lại phước báu cho con, cho cha mẹ con, thầy tổ con và những thân bằng quyến thuộc của con. Con cũng xin hồi hướng công đức nà y đến chư Thiên, những con thú lớn nhỏ và tất cả những ai xem con là thù nghịch."

Sau đó hà nh giả vẫn giữ chánh niệm, từ từ tiếp tục đi đến nơi ngồi lại Thiền Tọa.

B. Thiền Tọa

1. Chuẩn Bị Ngồi Thiền

Tọa cụ để ngồi phải gọn ghẽ và sạch sẽ, nhằm giúp hà nh giả khỏi e ngại trong khi ngồi thiền. Ðể bắt đầu, hà nh giả đảnh lỠÐức Thế Tôn và đọc một và i bà i kinh, dà i hay ngắn tùy ý. Ðọc kinh xong, hồi hướng công đức ấy đến chính mình rồi đến tất cả mọi chúng sanh, ước mong rằng tất cả đều an vui hạnh phúc. Sau đó người tại gia cư sĩ đọc kinh thọ ngũ giới, tự thanh lọc thân khẩu để vững lòng gom tâm an trụ.

Ðây là phương cách nhằm loại trừ mọi lo âu về những hà nh động và lời nói bất thiện của mình trong quá khứ. Và o lúc bấy giờ hà nh giả phải tin chắc nơi công phu nghiêm trì giới luật của mình và hãy quên đi những hà nh động bất thiện trong quá khứ. Hà nh giả nên hồi nhớ những nghiệp thiện mà mình đã tạo như bố thí, trì giới, hay có ý nghĩ đại độ khoan hồng với kẻ khác v. v... để đặt tâm và o trạng thái an lạc.

2. Chú Nguyện Nghiêm Trì Tam Quy và Ngũ Giới.

Tự nguyện nghiêm trì Ngũ giới bằng cách đọc lại những câu Pali như sau:

Namo tassa Bhagavato Arahato Sammasambudhassa
Namo tassa Bhagavato Arahato Sammasambudhassa
Namo tassa Bhagavato Arahato Sammasambudhassa

Buddham saranam gacchami
Buddham saranam gacchami
Buddham saranam gacchami

Dutiyampi Buddham saranam gacchami
Dutiyampi Buddham saranam gacchami
Dutiyampi Buddham saranam gacchami

Tatiyampi Buddham saranam gacchami
Tatiyampi Buddham saranam gacchami
Tatiyampi Buddham saranam gacchami

Panatipata veramani sikkhapadam samadiyami
Adinnadana veramani sikkhapadam samadiyami
Kamesu micchacara veramani sikkhapadam samadiyami
Musavada veramani sikkhapadam samadiyami
Sura meraya-majja pamadatthana veramani sikkhapadam samadiyami

Những vị không quen thuộc với tiếng Pãli có thể đọc như sau :

Lạy Phật:

Con đem hết lòng thà nh kính là m lỠÐức Thế Tôn. Ngà i là bậc A La Hán cao thượng, chứng quả Chánh Biến Tri do Ngà i tự ngộ, không thầy chỉ dạy. (3 lần)

Quy Y Tam Bảo:

Con đem hết lòng thà nh kính quy y Phật
Con đem hết lòng thà nh kính quy y Pháp
Con đem hết lòng thà nh kính quy y Tăng

Con đem hết lòng thà nh kính quy y Phật, lần thứ nhì
Con đem hết lòng thà nh kính quy y Pháp, lần thứ nhì
Con đem hết lòng thà nh kính quy y Tăng, lần thứ nhì

Con đem hết lòng thà nh kính quy y Phật, lần thứ ba
Con đem hết lòng thà nh kính quy y Pháp, lần thứ ba
Con đem hết lòng thà nh kính quy y Tăng, lần thứ ba

Ngũ Giới:

1. Con nguyện vâng giữ điều học là cố ý tránh xa sự sát sanh.
2. Con nguyện vâng giữ điều học là cố ý tránh xa sự trộm cắp.
3.Con nguyện vâng giữ điều học là cố ý tránh xa sự tà hạnh.
4.Con nguyện vâng giữ điều học là cố ý tránh xa sự nói dối, nói lời đâm thọc, nói lời nói dữ, chửi rủa mắng nhiếc, nói lời vô ích.
5.Con nguyện vâng giữ điều học là cố ý tránh xa sự dỠduôi uống rượu, và dùng các chất say.

Hà nh giả phải thà nh thật với chính mình và thật lòng chú nguyện. Ðó là thọ giới theo đúng phương cách. Sau đó hà nh giả đọc câu kinh Pãli sau đây ba lần :

Imãni panca sikkhãpadãni samãdiyãmi cetanãham sĩlam vadãmi. (3 lần)

(Con thà nh tâm nghiêm trì năm điều giới luật)

Rồi khấu đầu lạy ba lạy để tỏ lòng tôn kính Ðức Phật, Ðức Pháp và Ðức Tăng. Ðối với hà ng xuất gia, Tỳ khưu và Sa di, hãy vững chắc trong sạch theo giới luật (vinaya). Không nên để cho điều nà y là m cho mình bà ng hoà ng lo sợ trong khi hà nh thiền.

Giờ đây, hà nh giả đã sẵn sà ng ngồi lại hà nh Thiền. Nhớ rằng thiền tọa có thể được thực hà nh trước, hoặc sau thiền hà nh. Hoặc giả, nếu không thuận tiện, có thể chỉ ngồi Thiền mà không kinh hà nh cũng được.

Ðối với nam giới, có thể đặt chân mặt lên vế trái trong khi ngồi Thiền. Nữ giới có thể ngồi giống như Nam giới cũng được, hoặc ngồi bỏ hai chân ra phiá sau (như lối ngồi thông thường của người phụ nữ Thái). Ðiều quan trọng là chọn tư thế ngồi thoải mái.

Giờ đây thong thả và chắp hai tay lên trước ngực hay trước trán để tỏ lòng tôn kính Ðức Thế Tôn và thà nh tâm chú nguyện :

"Giờ đây con xin nguyện thá»±c tập Thiền Tọa. Con hết lòng thà nh kính đảng lá» Phật Bảo, Pháp Bảo và Tăng Bảo. Con cÅ©ng xin đảnh lá» cha mẹ, các bậc cha mẹ, các bậc Thầy Tổ và những vị ân nhân. ­Æ¡c mong rằng con sẽ có thể phát triển chú niệm, tÄ©nh lặng, và nhận thấy Chân lý một cách rõ rà ng. Ngưỡng mong hà nh động trong sạch nà y cá»§a con sẽ là nguồn gợi hứng cho tất cả chúng sanh, ước mong tất cả mọi chúng sanh mở lượng khoan hồng tha thứ cho nhau, không gây oan trái lẫn nhau. ­Æ¡c mong tất cả đều được an vui hạnh phúc."

Rồi đặt ngửa hai bà n tay lên vế, tay mặt trên tay trái. Giữ thân mình ngay ngắn. Chăm chú nhìn thẳng và o nội tâm. Không nên để tâm phóng ra ngoại cảnh bởi vì nhìn ra ngoà i nó sẽ mở đường cho tham vọng, oán hờn, sân hận v.v... xâm nhập và o tâm, gây tình trạng chán nản, mất tinh thần, bất mãn và áy náy bồn chồn. Hãy niệm thầm: "Giờ đây ta nguyện ngưng tất cả mọi suy tư về những sự việc bên ngoà i và luôn luôn giữ tâm trong hiện tại".

3. Phương Pháp Tọa Thiền Thứ Nhất

1) Chậm rãi thở và o, giữ tâm theo dõi hơi thở và niệm thầm "Bud" (Bút).

Chậm rãi thở ra, giữ tâm theo dõi hơi thở và niệm thầm "dho" (thô).

Chậm rãi thở và o, giữ tâm theo dõi hơi thở và niệm thầm "Dham" (Tham).

Chậm rãi thở ra, giữ tâm theo dõi hơi thở và niệm thầm "mo" (mô).

Chậm rãi thở và o, giữ tâm theo dõi hơi thở và niệm thầm "Sang" (Xẳng)

Chậm rãi thở ra, giữ tâm theo dõi hơi thở và niệm thầm "gho" (khô).

[Chú Thích:
Buddho (Bút-thô) = Phật bảo, Dhammo (Tham-mô) = Pháp Bảo, Sangho (Xẳng-khô) = Tăng Bảo]

2) Rồi, không niệm Dhammo và Sangho nữa mà chỉ niệm "Bud-dho". Thở tự nhiên như thường, không dà i hay ngắn hơn cũng không mạnh hay yếu hơn thường.

Chú tâm và o hai chữ "Bud" và "dho" và hơi thở. Luôn luôn giữ chánh niệm. Không nên để tâm phóng nhảy hoang dại. Hãy ghi nhớ: Thở và o niệm "Bud" (Bút); thở ra niệm "dho" (thô).

Phải theo dõi, niệm ngay trong lúc thở và o hay thở ra, luôn luôn sống trong hiện tại. Bất luận lúc nà o ta không thận trọng chú niệm -- thí dụ như chưa thở và o mà đã niệm trước "Bud" -- là đã thất niệm. Mỗi khi thở ra mà không đặt hết tâm theo dõi và không niệm cùng lúc "dho" là chú niệm bị gián đoạn. Như vậy ta phải vững chắc chú tâm và o hơi thở cùng với danh từ parikamma thích nghi. Hãy lặp đi lặp lại nhiều lần cho đến khi trở nên thuần thục. Một hà nh giả đã thuần thục có thể giữ tâm niệm và o hơi thở và danh từ parikamma khá lâu.

Ðây là một phương pháp có hiệu nghiệm. Mỗi khi thất niệm là hà nh giả hay biết liền. Và o lúc ban sơ có thể xem hình như khó, nhưng khi thực hà nh thương xuyên sẽ thấy dỠdà ng. Ðây là phương cách tăng cuờng chú niệm và bản chất "hay biết" của tâm, dùng hơi thở là m đối tượng của sự chú tâm. Khi đã thuần thục, hà nh giả có thể bỏ hai danh từ parikamma và chỉ giữ tâm theo dõi hơi thở. Tâm được rèn luyện bằng cachnầy sẽ kinh nghiệm trạng thái vắng lặng cà ng lúc cà ng nhiều, và niệm ngà y cà ng cũng chắc.

4. Phương Pháp Tọa Thiền Thứ Nhì.

Theo phương pháp nà y hà nh giả không dùng hai danh từ parikamma "bud" và "dho" nữa. Chỉ gom tâm chăm chú và o hơi thở mà thôi. Hay biết luồng hơi thở, lúc ban đầu nặng, và theo dõi xem chừng cho đến khi cảm nghe nó nhẹ. Hay biết khi hơi thở nhẹ và theo dõi, cà ng lúc cà ng nhẹ hơn cho đến khi thật vi tế. Và o lúc nà y tâm đã đạt đến trạng thái ekaggata, nhất điểm. Hơi thở nhẹ là dấu hiệu tâm vi tế. Khi ở và o trạng thái nà y hà nh giả có thể kinh nghiệm nhiều ấn chứng tâm của vắng lặng, như cảm thấy thân mình, tay chân mình, hay đầu, hình như to lên. Nếu thấy vậy, không nên lo sợ. Hãy cứ tiếp tục gom tâm niệm hơi thở vi tế -- không cần niệm gì khác hơn là hơi thở của mình. Khoảng năm phút, cảm giác thấy mình phình lên sẽ tan biến. Trong những trường hợp khác, và i hà nh giả cảm nghe mình cao lên, và i người thấy mình lùn xuống; và i người thấy mình quay tròn, cũng có người thấy mình nghiêng ngửa bên nà y hay bên kia. Chỉ cột tâm gắn bó và o hơi thở. Hãy lờ đi những hình thức biểu lộ khác nhau của tâm. Nó phát sanh rồi sẽ hoại diệt.

Ðôi khi hơi thở vi tế đến nỗi hình như tan biến đi. Có người đến giai doạn nà y thì sợ chết, xuất ra khỏi Thiền. Trong thực tế đây là dấu hiệu cho thấy rằng tâm đã an định đầy đủ. Không nên sợ. Chỉ tiếp tục gom tâm theo dõi hơi thở vi tế -- không có gì khác -- cho đến cuối cùng không còn nghe hơi thở gì hết. Và o thời điểm nà y hà nh giả cảm nghe như không còn thân nữa. Chỉ còn bản chất "hiểu biết" của tâm. Ðôi khi một ít ánh sáng phát hiện quanh mình, mặc dầu không có thân. Ánh sáng nà y phát lộ bản chất thật của tâm"hiểu biết". Ánh sáng và trạng thái thanh thoát nhẹ nhà ng của tâm và o lúc bấy giờ quả thật là kinh nghiệm vô cùng thần diệu trong đời. Trên thế gian nà y không gì có thể so sánh. Trạng thái tĩnh lặng nà y kéo dà i độ 10 phút, và hà nh giả nghe hơi thở trở lại. Hạnh phúc thanh bình an lạc của thân và tâm mà hà nh giả vừa chứng nghiệm, không có gì trong đời sống hà ng ngà y có thể tương tợ. Thân vắng lặng, tâm vắng lặng, hạnh phúc kỳ diệu nầy là m cho những vị hà nh giả kém trí tuệ có chiều hướng mê say, muốn lặp đi lặp lại chìm đắm trong đó. Nhưng người có được rèn luyện, có tu tập phân biện đầy đủ sẽ quán chiếu nó và suy niệm với trí tuệ, dùng trạng thái tâm định ấy là m nền tảng để phát triển trí tuệ, cà ng lúc cà ng thêm lên. Các vị nầy không luyến ái, bám níu và o hạnh phúc của tâm vắng lặng, mà dùng tâm định như một dụng cụ để phát triển thêm trí tuệ.

Nơi đây Sư muốn gợi ý quý vị đọc giả quyết tâm hà nh thiền vắng lặng với lòng ước mong rằng "Ðịnh" sẽ đương nhiên sanh "tuệ". Nếu quý vị chưa bao giờ suy niệm phân biện những sắc thái khác nhau của Giáo Pháp, dầu tâm định của quí vị đã được phát triển đến mức toà n hảo, nó chỉ đem lại hạnh phúc cho thân và tâm. Phát triển đến một mức độ nà o, và i người có thể đắc thần thông (abhinnã, những năng lực siêu phà m) như có khả năng biết những diỠn biến quá khứ và vị lai, khả năng thấy sự vật ở xa bằng "thiên nhãn", hay nghe được từ xa bằng "thiên nhĩ", hoặc có năng lực là m được những việc phi thường, như đọc tâm người khác hay đọc tâm loà i thú. Ðã có những năng lực phi thường ấy họ dỠdà ng có thể khoe khoang rằng mình đã đắc quả A La Hán.

Và o thời Ðức Phật có 30 vị Tỳ Khưu hà nh thiền đến mức toà n định. Các Ngà i chứng nghiệm hạnh phúc được thân và tâm thanh bình an lạc trong nhiều ngà y và chắc chắn rằng mình đã tận diệt mọi nhiỠm ô, ái dục và vô minh, đã trở thà nh A La Hán. Rồi các vị ấy muốn bạch lại cho Ðức Phật biết. Khi Ðức Phật hay các vị nầy đến thì bảo Ðức Ananda ra đón trước ngỏ, dặn các Ngà i rằng trước khi và o yết kiến Ðức Phật hãy và o nghĩa địa. Ðược lệnh, ba mươi vị tỳ khưu và o nghĩa địa (*). Lúc bấy giờ có một thiếu nữ xinh đẹp vừa mới chết và được bỏ lõa thể trong nghĩa địa. Xác chết xem hình như một phụ nữ đang ngủ. Lúc ban đầu, các nhà sư nhìn vì tánh tò mò, nhưng rồi dục vọng nổi dậy! Ðến đây các ngà i ngượng ngùng nhận thức rằng mình chưa phải là A La Hán, bởi vì tâm mình vẫn còn khát vọng, ái dục và vô minh. Rồi các Ngà i suy niệm về sự việc vừa xảy diỠn, lặp đi lặp lại cho đến khi tất cả 30 vị đều chứng đắc đạo quả A La Hán, ngay tại đó, trong nghĩa địa.

[ * Lời người dịch: Và o thời Ðức Phật không có phong tục chôn cất hay hỏa thiêu người chết, mà đem bỏ ở nghĩa địa. Chư Tăng thường và o bãi tha ma nhìn xác chết sình thúi, rục rã, bị giòi rỉa, đục khoét v..v.. lấy đó là m đề mục hà nh thiền, niệm về sự chết.]

Ðấy, quí vị cò thể thấy thiền vắng lặng có thể phỉnh lừa ta như thế nà o. Trong thời Ðức Phật có rất nhiều trường hợp tương tự như chuyện 30 vị Tỳ khưu. Nếu câu chuyện nà y xảy diỠn và o thời nay ắt ba mươi vị Tỳ Khưu không có cơ hội để sửa sai, và sẽ mang lốt A La Hán giả hiệu suốt kiếp sống. Ngà y nay không có xác chết còn tươi bỏ nằm trong nghĩa địa. Vậy, những ai nhẫn nại thực hà nh thiền vắng lặng với lòng mong chờ trí tuệ phát sanh đến tâm định hãy dừng chân lại, bình tâm suy gẫm. Và o thời Ðức Phật có vị sư nà o chỉ hà nh thiền vắng lặng mà chứng đắc Ðạo quả A La Hán không? Sự thật là tất cả các vị A La Hán trong quá khứ đều phải hà nh thiền Minh Sát để phát triển trí tuệ.

Ngà y nay vẫn còn nhiều vị thiền sư tà i giỏi. Các vị nà y thực hà nh xen kẽ Thiền Vắng Lặng (Samatha)Thiền Minh Sát (Vipassana). Sau khi xuất ra khỏi thiền vắng lặng, quán chiếu và minh sát sự vật đến Chân Lý cùng tột: tức đau khổ, vô thường và vô ngã. Các vị nà y không đợi chờ trí tuệ tự nó đương nhiên phát sanh. Vậy, quí vị phải nhận thức sự khác biệt giữa các phương pháp và tùy theo đó mà thực hà nh. Không có trái dừa ắt không thể nà o trồng cây dừa, dầu có chuẩn bị đất đai hoà n bị như thế nà o. Muốn có đúng cây phải gieo trồng đúng hột.

5. Phương Pháp Tọa Thiền Thứ Ba

Theo phương pháp nà y, hà nh giả gom tâm và o một điểm trong thân. Hãy chọn bất luận phần nà o dỠdà ng cho mình hình dung, rồi vững chắc đặt chú niệmvà bản chất "hiểu biết" của tâm và o nơi ấy. Hơi thở và những danh từ parikamma chỉ đóng vai trò tán trợ. Tập trung tâm và o một phần của thân cho đến khi tâm nhận thấy rõ rà ng và tường tận phần nà y. Nếu còn lưu tâm lo lắng về hơi thở và những danh từ parikamma, hà nh giả sẽ bị sao lãng và không thể thấy rõ đề mục. Phần trong thân được chọn có thể là cái thẹo, có thể ở phía trước hay phía sau lưng. Hoặc bất luận phần nà o mà hà nh giả cảm thấy dỠdà ng gom tâm và o. Trước tiên, nghĩ đến phần ấy nằm ở chỗ nà o trong thân, mà u gì và hình dáng ra sao. Nếu không thấy được rõ rà ng, đó là vì sự quyết tâm và chú niệm của hà nh giả chưa đủ vững chắc. Tốt hơn hết nên chọn một phần nhỏ để chỉ gom tâm và o điểm ấy, giống như ta chú tâm và o cái lỗ của cây kim để xỏ chỉ.

Trước tiên hà nh giả tưởng tượng một đốm nhỏ trong thân mình. Là m như vậy và lặp đi lặp lại nhiều lần cho đến khi tâm nhận thấy một cách tự nhiên và tức khắc. Giờ đây hà nh giả có thể suy niệm như thế nà o tùy ý: thí dụ như thấy nó hư thúi, mục nát, tách rời nó ra khỏi xương v..v... Ðây có thể là m nền tảng cho sự suy niệm nhằm phát triển trí tuệ. Phương pháp chú tâm và o một phần trong thân tạo cho tâm một điểm để nghỉ ngơi. Cũng giống như chim, sau khi bay đầu nầy đầu kia, cần một nhánh cây để dưỡng cánh. Tâm luôn luôn bay nhảy. Ðến lúc mệt mỏi cũng cần một điểm nà o trong thân để là m nơi an nghỉ.

6. Phương Pháp Tọa Thiền thứ Tư

Theo phương pháp nà y, hà nh giả gom tâm và o những đối tượng của tâm, giống như trong phương pháp thiền hà nh thứ tư, chỉ khác ở chỗ là lần nà y hà nh giả ngồi, thay vì đi, thân mình không có cử động và không là m cho tâm sao lãng như khi thiền hà nh. Tâm có thể tập trung và o đề mục dỠdà ng hơn nhiều. Hà nh giả giác tỉnh hay biết khi tâm hạnh phúc, đau khổ hay vô ký, hay biết khi khát vọng và ái dục khởi sanh. Biết trạng thái sanh diệt của những cảm giác (thọ). Hay biết cái gì là nhân và điều gì là quả. Ghi nhận rằng tất cả đều liên tục tiếp diỠn trong một vòng quanh, từ quá khứ đến hiện tại và vị lai. Nhân trổ quả, quả trở thà nh nhân, và cứ thế xoay vần vô cùng tận. Và i cảm thọ đã xưa cũ từ lâu mà ta vẫn còn xem như mới, bởi vì không hay biết vòng quanh tiếp diỠn của nhân và qua. Chúng ta thật sự bị kéo lôi, lăn trôi trong bánh xe của đời sống vì say mê lầm lạc trong những suy tư tưởng tượng nà y. Ô nhiỠm ái dục và vô minh là nguyên nhân là m phát sanh thương và ghét, tiềm tà ng ẩn hiện trong tâm.

Trau giồi chú niệm bằng cách dùng những đối tượng của tâm (pháp) là m đề mục hà nh thiền là một lối thực hà nh thích ứng để suy luận về định luật nhân sanh quả trong những sự việc xẩy ra trong đời sống. Ðã hiểu biết các đối tượng tâm linh phát sanh như thế nà o, ta có thể tìm phương cách để cắt đứt dòng trôi chảy của ô nhiỠm và ái dục, hay chận ngang nhịp cầu mở đường cho ái dục và ô nhiỠm xâm nhập và o tâm. Nếu không biết nguyên nhân ắt không biết là m thế nà o để ngăn ngừa hậu quả. Muốn dao được sắc bén, phải mà i dũa. Muốn không bị nóng phải dặp tắt ngọn lửa. Vậy, muốn loại trừ đau khổ, phải tận diệt nguyên nhân sanh ra nó.

Cũng như hơi nóng cùng ở với ngọn lửa, đối tượng tâm linh cùng ở chung với tâm. Vậy muốn thấy tâm mình, hãy nhìn các đối tượng tâm linh, Hãy niệm, theo dõi đối tượng tâm linh khi nó vừa sanh khởi. Hãy trông chừng nhìn đủ lâu, chí đến khi nhận ra nguyên nhân sanh ra nó. Rồi dừng lại không nhìn nữa, mà phân tích. Giống như ra trận địa: Khi chiến sĩ vừa nhận ra quân địch thì không còn đi tìm nữa mà tức khắc nổ súng. Khi người thợ săn nhìn thấy con mồi thì nhanh chóng nhắm bắn. Khi thấy vật gì bị cháy thì ta vội vã dặp tắt ngọn lửa.

Ðây là phương pháp phân tích và biện giải nhằm diệt trừ ô nhiỠm và ái dục -- vốn là nguyên nhân là m sanh khởi lòng khao khát nhục dục ngũ trần -- và giúp trí tuệ phá tan vòng luân hồi, sanh tử vô cùng tận. Phương pháp nà y giúp hà nh giả khám phá "tổng hà nh dinh" của ô nhiỠm và ái dục. Trí tuệ, ý chí cương quyết và hạnh tinh tấn chuyên cần cùng chung hợp lại, mở cuộc tấn công oanh tạc khủng khiếp và phá tan "trụ sở trung ương" nà y. Trong một trận đấu quyền thuật, người võ sĩ cố tìm nhược điểm của đối thủ dể tấn công. Nếu thua trận nà y, anh ta sẽ tìm cách đánh bại đối thủ trong một trận khác. Thực hà nh Giáo Pháp, ta phải quyết tâm trì chí, bền bỉ và vững chắc trau dồi trí tuệ; nếu không vậy ô nhiỠm và ái dục sẽ mãi mãi là kẻ chiến thắng.

Là người gia công thực hà nh Giáo Pháp, quý vị phải là chiến sĩ cang cường, dũng mãnh xông pha và o trận địa và diệt trừ tên địch thủ nguy hiểm nhất: Ô nhiỠm. Hãy hướng pháp hà nh và nội tâm, nhìn thẳng các đối tượng tâm linh và quyết chí quét sạch mọi bợn nhơ.

(Trích: Acharn Thoon Khippananno, "Cắt Ðứt Dòng Ðời",
Phạm Kim Khánh chuyển dịch,
Trung Tâm Narada, Seattle, USA, 2026)