BuddhaSasana Home Page
This document is written in Vietnamese, with Unicode Times font


Những Ðạo Lý Căn Bản Của Phật Giáo

Tiến Sĩ Lê Hữu Tuấn


Ðạo Phật xuất hiện trên thế giới có chiều dà i lịch sử nhiều ngà n năm và phát triển ở Việt Nam cũng gần hai mươi thế kỷ.

Từ trước đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu để lý giải, tìm hiểu sâu sắc về đạo Phật được công bố và xuất bản. Song, tìm hiểu về đời sống và giáo huấn của Ðức Phật vẫn là những vấn đề còn nhiều điều mới mẻ. Với ý nghĩa đó, người viết bà i nà y xin được trình bà y: 1. Duyên khởi; 2. Tứ diệu đế.

1. Duyên Khởi

Duyên khởi nghĩa là sự nương tựa lẫn nhau mà sinh thà nh và tồn tại. Tất cả các sự kiện, những hiện tượng thuộc thế giới nà y đều theo luật duyên khởi mà sinh thà nh, tồn tại và tiêu hoại.

Duyên (Pratyaya) là những điều kiện. Sự sinh thà nh của một cái nhà chẳng hạn, tùy thuộc ở những điều kiện như gạch, xi măng, sắt thép, các vật liệu cần thiết, người thi công, người thiết kế v.v... Vậy gạch, xi măng, sắt, thép, thợ thiết kế, người thi công Ẩ là những duyên, cần thiết cho sự phát sinh của cái nhà . Sự sinh thà nh của một con người cũng tùy thuộc ở những duyên như tinh huyết của cha mẹ, các chất nuôi dưỡng, thời gian v.v... Sự sinh thà nh của một nền dân chủ cũng tùy thuộc ở những Duyên như ý thức về quyền lợi và bổn phận của người dân, sự tranh thủ chính trị, sự bảo vệ hiến pháp v.v... Bất cứ một hiện tượng nà o trong vũ trụ, tinh thần hay vật chất đều do tập hợp của các Duyên mà thà nh. Sự vật nương và o nhau mà sinh thà nh và tồn tại: Không có sự vật nà o có thể tự mình sinh ra mình và tự mình tồn tại độc lập với những sự vật khác. Ðó là yếu lý duyên khởi của đạo Phật.

Duyên, theo đạo Phật có 4 loại:

Thứ nhất, Nhân Duyên có thể gọi là điều kiện gần gũi nhất, ví như hạt lúa là nhân duyên của cây lúa, xi măng, sắt, thép là nhân duyên của cái nhà Ẩ

Thứ hai, Tặng thượng Duyên tức là những điều kiện trợ lực cho nhân duyên, ví như người thiết kế, người thi công là tăng thượng duyên cho gạch, xi măng, sắt, thép trở thà nh cái nhà , nước và phân bón là tăng thượng duyên cho hạt lúa trở thà nh cây lúa.

Thứ ba, Sở duyên duyên tức là những điều kiện là m đối tượng cho nhận thức, như hình sắc phát sinh ra cái thấy, âm thanh phát sinh ra cái nghe và tư tưởng phát sinh ra ý thức.

Thứ tư, Ðẳng vô gián duyên tức là sự liên tục, không gián đoạn cần thiết cho mọi sự phát sinh, trưởng thà nh và tồn tại.

Các loại nhân duyên trên tương tác nhau lai tạo nên mọi vạn vật trong vũ trụ. Theo đạo lý duyên sinh, vạn vật trong vũ trụ nương nhau mà phát sinh. Trong kinh A Hà m, Phật dạy: "vì cái nà y có cho nên cái kia có, vì cái nà y không cho nên cái kia không, vì cái nà y sinh cho nên cái kia sinh, vì cái nà y diệt cho nên cái kia diệt" (Trung Bộ Kinh, Bản của hội văn học Pali, T3, tr. 63)

Theo nguyên tắc duyên sinh nà y mà đạo Phật quan niệm một nhân đơn độc không bao giờ có khả năng sinh ra quả, và một nhân bao giờ cũng đóng vai trò quả cho một nhân khác. Trên thực tế, không có một nhân đơn độc nà o có thể sinh ra quả, và cũng chưa bao giờ có một nhân mà không phải là một quả cho một nhân khác.

Ðạo lý duyên khởi của đạo Phật là một cái nhìn khoa học và khách quan về thế giới thực tại. Ðạo lý nà y nói rõ bộ mặt của thực hữu, tránh được những ngộ nhận sai lầm về thế giới, giúp cho những người tu Phật thà nh đạt trong phạm vi trí tuệ tu dưỡng cũng như trong phạm vi hà nh động thực tiỠn. Ðạo lý duyên khởi là đạo lý căn bản phá trừ vô minh, cố chấp, đồng thời cũng là một đạo lý căn bản cho hà nh động nhập thế.

Theo đạo lý duyên khởi, vạn vật nương và o nhau mà sinh khởi, tồn tại, và tiêu hoại. Như thế vạn vật phải là vô thường, bởi vì nếu không vô thường thì vạn vật sẽ bất sinh, bất diệt.

Vô thường là tính cách thay đổi của vạn sự, vạn vật. Không có sự vật nà o nằm yên bất biến, tất cả các hiện tượng trên đời nà y không có cái gì hiện hữu trong một hiụnh thái cố định.

Khoa học hiện đạĩi đã chứng minh rằng tất cả mọi sự vật, hiện tượng đang biến đổi và o mọi lúc. Thân thể con người cũng không nằm ngoà i qui luật đó. Tế bà o con người đang sinh ra và chết đi thay thế theo từng chu kỳ cứ bảy năm một lần. Mọi tế bà o của thân thể con người đang thay đổi liên tục . Và mọi người đều từ kinh nghiệm mà biết rằng khổ đau, sầu bi, hoan hỷ, hay khoái lạc mà chúng ta cảm thọ có thể thay đổi như thế nà o trong chốc lát. Qui luật tất cả các sự vật là vô thường duy những người Phật tử cần phải chú ý đến bản chất đổi thay của tất cả các sự vật và do đó đừng để bị ngạc nhiên hay dao động vì những đổi thay, trong các hiện tượng hay hoà n cảnh.

Khi người Phật tử hiểu qui luật tất cả các sự vật đều vô thường thì họ sẽ nhận ra rằng cái năng lực là con người thật là lớn lao, và cuối cùng sẽ hiểu rõ tại sao con người phải sống theo cách như thế để lớn mạnh và để cải tiến một cách vững và ng. Con người cũng sẽ trở nên sắc bén trong việc lưu tâm đến sự cần thiết bà y tỏ lòng biết ơn đối với nhau và cần thiết sống với nhau một cách hà i hòa với tình yêu bình đẳng đối với kẻ khác và bằng một cảm nhận đoà n kết.

Hà ng tỉ năm trước, trái đất chưa có đời sống; núi lửa tuôn ra những dòng thác dung nham, hơi nước và khí chiếm đầy bầu không khí. Khi trái đất đủ mát, sinh vật xuất hiện. Những sinh vật đầu tiên nà y là những sinh thể vi mô đơn bà o giản dị. Dù những hình thái sống nhỏ bé nà y phải đặt mình trong những cơn lũ à o ạt, những trận động đất dữ dội, những trận phun của núi lửa cực nóng, chúng vẫn không bị tiêu diệt, mà gia tăng thật nhiều và dần phát sinh thà nh những hình thức sống phức tạp hơn. Trong quá trình tiến hóa đó con người đã xuất hiện rồi đã vượt thắng nhiều thử thách và khó khăn, từng bước tiến lên. Tiến lên là con đường sống thích hợp nhất của con người. Ðời sống chính là sự liên tục, không ngừng nghỉ, tiến đến trạng thái lý tưởng của con người.

Ðịnh lý vô thường hà m chứa ý nghĩa một sự thay đổi từ trạng thái nà y qua trạng thái khác. Như vậy, vô thường ngự trị và chi phối toà n thể thế giới , không có sự vật cá nhân gì có thể thường còn bất biến. Thời gian di động tất cả, di động cả con người, dù muốn hay không. Con người sống trong một thế giới vô thường, biến dịch và chính dao mạng căn và sắc mạng căn của con người thay đổi biên dịch từng sát na, từng giây phút. Sabbe sankhara aricca: Tất cả pháp hữu vi là vô thường.

Sự vật là vô thường, biến dịch, thay đổi từ trạng thái nà y qua trạng thái khác. Chất cứng có thể trở thà nh chất lỏng, chất lỏng có thể trở thà nh chất hơi nhưng không một chất nà o mất hẳn. Các năng lực mà những chất nà y là những hình thức hiện hữu, vẫn tiếp tục dầu hình thức của những chất nà y có thay đổi. Như vậy, năng lực là liên tục. Chính vì có sự liên tục, nên khó mà nêu rõ giữa một trạng thái nà y qua một trạng thái khác. Và như vậy, con người cũng bị chi phối bởi luật nà y. Ðời sống là một quá trình liên tục không ngừng nghỉ. Sự chết không có nghĩa là mất hẳn mà chỉ là mở đầu cho một đời sống mới. Vô thường là tính cách thay đổi không ngừng của vạn sự, vạn vật. Không có sự vật nà o nằm yên bất biến, do đó không có sự vật nà o giữ được tính cách đồng nhất tuyệt đối của nó: đó là vô ngã.

Theo lý duyên khởi, trên thế gian nà y không có một sự vật nà o mang tính tuyệt đối. Mỗi một sự vật đều do nhân duyên hòa hợp (điều kiện cấu thà nh), cùng dựa và o nhau mà tồn tại.

Tất cả sinh vật, thực vật, đất, đá, mây, không khí v.v... đều cần thiết cho sự sống của con người. Nếu không có chúng thì con người không thể sống được. Con người có liên hệ mật thiết với các sự vật trong thế giới. Các sự vật hiện hữu trong quan hệ lẫn nhau, phụ thuộc lẫn nhau. Hiển nhiên rằng mối liên hệ giữa con người với nhau cà ng mạnh mẽ hơn nhiều. Kinh tế học đã chứng minh mối liên hệ giữa con người với con người trong quá trình sản xuất vật chất là hết sức sâu đậm. Thuế mà chúng ta trả, tiền bảo hiểm v.v.. thể hiện những mối liên hệ rà ng buộc với nhau, và tất cả con người được thấm nhuần bởi cùng một năng lực sống.

Theo lời Phật dạy, trong vũ trụ không bao giờ tồn tại cái gọi là cá nhân ta với tư cách tuyệt đối. Trong Kinh Pháp cú, Phật dạy: "Hết thảy các pháp đều không có "Ta" [Kinh Pháp Cú (nguyên văn tiếng Pali), câu 279].

Quan niệm tạo thà nh cái "ta" là một thứ cảm giác mơ hồ về "sự tồn tại của ta". Giáo huấn "vô ngã" của Phật đã xua tan bóng tối của sự tin tưởủng "sự tồn tại của cái ta". Ðây là lý do quan trọng khiến các Phật tử phải thể nghiệm cái sự thật rằng không có cái gì có một ngã. Khi có một cái thấy sâu xa hơn về các sự vật, Phật tử hiểu ra rằng cuộc sống của con người có liên hệ với đời sống mọi người khác. Hà nh vi tốt, xấu của một người nhất định sẽ ảnh hưởng đến những người khác.

Bất cứ sắc pháp nà o, thọ pháp nà o, quá khứ tương lai hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, tất cả các pháp ấy là "cái nà y không phải của tôi, không phải là tôi, không phải tự ngã của tôi". Cần phải như thật quán với trí tuệ. Nhờ quán như vậy, thấy như vậy, vị Thanh văn nhà m chán đối với sắc, nhà m chán đối với thọ, nhà m chán đối với tưởng, nhà m chán đối với hà nh, nhà m chán đối với thức. Do nhà m chán nên ly tham, do ly tham nên được giải thoát. Trong sự giải thoát có trí khởi lên biết được "ta đã giải thoát". Vị ấy biết "Sanh đã tận, phạm hạnh đã thà nh, những gì nên là m đã là m, không còn trở lại đời nà y nữa".

Theo đạo lý duyên khởi, vạn vật nương và o nhau mà sinh khởi, tồn tại và tiêu hoại. Như thế vạn vật phải vô thường, bởi vì nếu không vô thường thì vạn vật sẽ bất sinh, bất diệt. Vạn vật cũng vô ngã, bởi vì mỗi vật là do sự tập hợp của nhiều vật (duyên) mà thà nh. Vạn vật cũng là không, bởi vì đã do các duyên mà thà nh, thì trong tự thân vạn vật không có một thực thể thường còn và đồng nhất.

2. Tứ Diệu Ðế

Tứ Diệu đế theo tiếng Pali là Ariya Saccani (Thánh đế). Ariya có nghĩa là cao quí hay thánh. Saccani có nghĩa là cái gì thật sự có. Gọi như vậy vì đây là những chân lý mà bực hoà n toà n trong sạch, bực thánh vĩ đại nhất là Ðức Phật đã tìm ra.

Thánh đế đầu tiên (khổ đế) đề cập đến dukkha - một danh từ khó có thể phiên dịch chính xác ra một ngôn ngữ nà o khác - mà ta thường gọi là đau khổ hay phiền não. Ðứng về phương diện cảm giác, dukkha là cái gì là m cho ta khó chịu đựng ("du" là khó, "kha" là chịu đựng). Hiểu như một chân lý trừu tượng "du" là cái gì đáng khinh miệt, không đáng bám víu. "Kha" là hư vô, trống rỗng. Thế gian nằm trong sự đau khổ và như vậy là không đáng cho ta bám víu. Dukkha là sự vô thường không bám víu được.

Những người bình thường chỉ thấy lớp ngoà i của sự vật. Bậc thánh nhân nhận ra chân tường của sự vật. Ðối với các Ngà i, tất cả đời sống đều là khổ não và các Ngà i nhận thấy rằng không thể có hạnh phúc thật sự, hoà n toà n bền vững, trong một thế gian vô thường. Không thể có hạnh phúc trường tồn vĩnh cửu trong một thế gian luôn luôn biến đổi. Hạnh phúc vật chất chỉ là sự thỏa mãn của một và i ước vọng. Nhưng "khi ta vừa đạt được thì nó đã "vội lìa ta". Dục vọng không khi nà o được thỏa mãn trọn vẹn, không bao giờ ta cho là đủ.

Mọi người đều phải trải qua giai đoạn (jà ti) sanh và do nơi sanh, có già (jarà ), bệnh (vyà dhi) và cuối cùng là chết (marana). Không ai tránh được bốn nguyên nhân ấy của sự đau khổ.

Ðiều mong ước không được toại nguyện là m cho ta đau khổ. Chúng ta không muốn sống chung với người ta không ưa thích mà cũng không muốn xa lìa những người thân yêu. Những điều thiết tha mong mỏi không phải lúc nà o cũng được thà nh tựu như ý muốn. Trái lại những hoà n cảnh nghịch lòng lắm lúc xảy đến đột ngột là m cho ta vô cùng khốn khổ. Ðôi khi một và i trường hợp khó khăn trở thà nh không thể chịu đựng nổi, và đau khổ đến mức có người suy nhược và kém hiểu biết phải nghĩ đến cái chết, tưởng chừng như sẽ giải quyết được mọi vấn đề.

Hạnh phúc thật sự nằm bên trong chúng ta và không thể định nghĩa bằng những danh từ như tà i sản, quyền thế, danh vọng, hay chinh phục, chiếm đoạt. Nếu sự nghiệp vật chất ấy được chiếm đoạt bằng bạo lực hay bằng một phương tiện bất công nà o khác, hoặc giả, nếu sự nghiệp vật chất ấy hướng theo một chiều lầm lạc, hay nếu ta đem lòng luyến ái , thì đó là một nguồn đau khổ và phiền não cho người là m chủ nó.

Ðối với những người bình thường, thọ hưởng dục lạc là hạnh phúc tốt đẹp nhất. Chắc chắn rằng có hạnh phúc nhất thời trong khi mơ ước, lúc thọ hưởng và khi hồi nhớ lại những khoái lạc vật chất tương tự, nhưng quả thật là mong manh. Theo Ðức Phật, không luyến ái (virà gatà ), tức vượt lên trên mọi dục lạc, là hạnh phúc cao thượng hơn.

Tóm lại, Dukkha trong đạo Phật có một nghĩa rất rộng,vừa mang ý nghĩa của từ khổ thông thường, nhưng nó còn bao gồm cả những gì bất toà n, những gì không như ý, những gì đổi thay v.vẨ. Trong kinh pháp luân, Phật dạy: " Sự chấp lấy thân nà y là khổ ".

Dukkha không có gì khác ngoà i việc không thỏa mãn những gì trong cuộc sống và tình cảm của chúng ta.

Thánh đế thứ hai đề cập đến nguyên nhân của đau khổ. Theo đạo lý duyên khởi thì có nhiều nguyên nhân dẫn đến khổ đau. Nhưng nguyên nhân trực tiếp nhất, dỠnhận biết nhất là ái dục hay luyến ái, bám víu là cội nguồn của khổ đau.

Kinh Pháp Cú ghi nhận:" Do ái dục phát sinh lo âu, do ái dục phát sinh sợ sệt. Người đã trọn vẹn thoát khỏi ái dục không còn lo âu, cà ng ít sợ sệt (câu 216).

Aùi dục là một năng lực tinh thần hết sức hùng mạnh, luôn ngủ ngầm trong tất cả mọi người, mọi chúng sinh và cội nguồn của bao điều khổ đau trong đời. Chính ái dục dưới mọi hình thức là tự nhiên và không do bất cứ ai hay bất cứ một thế lực nà o tạo ra cả. Trong mọi thà nh phần và hình thức của năng lượng, sự va chạm, mâu thuẫn, mất cân đối hay sự thay đổi đều liên tục xảy ra, như khoa học đã khẳng định tất cả mọi vật thể hữu hình đều tồn tại do sự vận động va chạm và điều đó sẽ đưa đến sự thay đổi, vậy nên, thay đổi là đặc trưng của cuộc sống. Khi tình trạng thay đổi liên tục nà y mà chúng ta trải nghiệm về mặt thể chất và tinh thần trong từng giây phút, có liên quan đến tình cảm và lòng khát khao của con ngừơi, thì chúng ta trải nghiệm sự không thỏa mãn hay sự khổ.

Nguyên nhân của sự khổ không phải là tội lỗi từ căn nguyên hay là do lời nguyền hay ảnh hưởng của bất cứ vị thần, quỷ hay ma nà o như một và i tôn giáo đã tin như vậy, mà là do lòng khát khao muốn tồn tại và các thú vui về giác quan (lục dục) của chúng ta. Con người thấy khổ khi họ không hiểu biết (vô minh) và cố gắng thỏa mãn các đòi hỏi tham lam, vô hạn độ của ngũ quan, những điều chỉ đưa đến lo lắng, sợ hãi và thất vọng.

Thánh đế thứ ba - Dút khổ (diệt đế): Diệt khổ chính là mục tiêu mà con người hướng đến. Ta phải biết là ta muốn gì. Từ lúc mới sinh ra, mọi người đều muốn được hạnh phúc và không muốn khổ đau, Chúng ta là những sinh vật có ý thức đang hiệu hữu trên quả địa cầu nà y, phải đương đầu với việc tạo ra một cuộc sống hạnh phúc cho chính mình. Nhưng ta không nên lầm hạnh phúc chân thực với những hình thái mới nhìn qua thì trông như hạnh phúc mà kỳ thực chỉ là những nguyên nhân của khổ đau. Hạnh phúc chân thật được diỠn tả trong đạo Phật như là sự vắng mặt của những khổ đau, là sự giải phóng con người ra khỏi tham dục, hận thù và tối tăm, là sự đạt tới các đức vô úy, trầm tĩnh, đại hùng, khiến cho ta không còn là nạn nhân của sự sợ hãi, của những thà nh bại đắc thất tầm thường. Trên căn bản của sự giải phóng đó, hạnh phúc phải là chân thực và bền vững. Sức khỏe, tà i năng, sản nghiệp, tự do, dân chủ v.v... chỉ có thể trở nên những hình thái hạnh phúc thật sự trên nền tảng giải phóng đó. Hạnh phúc thật sự chỉ có thể có được khi vật chất và tinh thần của con người phát triển hà i hòa, là m cho đời sống đạt tới trạng thái hoà n mỹ thống nhất giữa tinh thần và thể xác. Con người có thể giải thoát khỏi khổ đau, đạt được sự an bình và hạnh phúc.

Hầu hết các tôn giáo, cảnh giới chí thiện (hết sức tốt đẹp hoà n thiện) chỉ có thể đạt tới sau khi người ta đã chết. Trái lại, theo đạo Phật con người có thể đạt được hạnh phúc thật sự ngay trong cuộc đời nà y. Những người đã chứng ngộ chân lý đạo Phật là những người thật hạnh phúc. Họ không còn bị trói buộc của bất cứ trạng thái tâm lý lo, buồn, khổ não đã gây biết bao đau khổ cho con người. Sự khoẻ mạnh về tâm lý của họ là hoà n mỹ. Họ sống một cuộc đời hiện tại một cách hồn nhiên phác thực (Tạp bộ Kinh, Bản Hội Văn học Pali, T1, tr.5). Vì vậy họ có thể thưởng thức và hưởng thụ một đời sống vật chất không chút phiền muộn ưu tư, tâm linh thanh thản yên tĩnh (Trung Bộ kinh, Bản Hội Văn học Pali, T2, tr.121). Nguời Phật tử phải nhận thức rằng theo đuổi sự nghiệp giải thoát không phải là từ bỏ mọi hạnh phúc của cuộc đời, trái lại chính là để xây dựng một nền tảng vững chắc cho hạnh phúc. Nếu không đạt tới căn bản giải thoát thì dù có mắt cũng không biết nhìn, có tai cũng không biết nghe, có cuộc đời cũng không biết sống, có những điều kiện hạnh phúc cũng không biết hạnh phúc.

Phải nhận thức rằng diệt khổ là một thực tế có thể đạt được. Sự an lạc hạnh phúc mà chúng ta đạt được do thực hiện những phương pháp Phật giáo là điều có thể kiểm chứng được. Bất cứ một nhân nà o gieo xuống đều có thể đưa đến kết quả; Không một nỗ lực nà o của ta có thể gọi là vô ích. Nếu chúng ta kiểm điểm để nhận thấy kết quả và tính cách hữu hiệu của những nỗ lực hà nh đạo hà ng ngà y của chúng ta, chúng ta sẽ có thêm đức tin về Diệt khổ.

Thánh đế thứ tư - Ðạo đế: Ðạo đế là con đường, là phương pháp hà nh động. Ðể đạt tới một đời sống an lạc hạnh phúc cho bản thân và cho xã hội, ta phải biết tỉm đường, ta phải biết phương pháp hà nh đạo. Ðạo đế không phải là một số giáo điều hoặc giáo luật để có thể học thuộc lòng, trái lại là kết quả của những chiêm nghiệm sâu sắc về khổ đế, tập đế, diệt đế cùng những kinh nghiệm sống của chúng ta và các thánh đế.

Tam học, thất bồ đề, bát chính đạo v.v... là những giáo lý thuộc về con đường, phương pháp có thể đem áp dụng và o đời sống để tiêu diệt khổ đau, kiến tạo an lạc hạnh phúc. Những giáo lý nà y chỉ có giá trị và hiệu lực khi đem chúng áp dụng một cách thông minh và o sự sống. Trái lại nếu chỉ đọc tụng niệm hoặc chiêm nghiệm mà không đem chúng áp dụng và o đời sống hà ng ngà y thì sự bổ ích sẽ không có được bao nhiêu.

Con đường dẫn đến dứt khổ đau, theo đạo Phật là Trung đạo. Trung đạo "có khả năng sản sinh tri kiến, dẫn đến yên tĩnh, chứng ngộ bên trong, Chính giác, Niết bà n". Trung đạo nà y, thường gọi là Bát chính đạo. Bát chính đạo là con đường của tám nguyên tắc hà nh động chân chính (astamaga). Tám nguyên tắc hà nh động ấy có liên hệ nhân quả rất mật thiết với nhau như sau: 1. Chính kiến: thấy đúng; 2. Chính tư duy: nghĩ đúng; 3. Chính ngữ: nói đúng; 4. Chính nghiệp: hà nh động đúng; 5. Chính mệnh: phương tiện mưu sinh chân chính; 6. Chính tinh tiến: cần mẫn và nỗ lực chân chính; 7. Chính niệm: ý thức chân chính; 8. Chính định: Thiền định chân chính.

Tất cả các nguyên tắc trên đều liên hệ với nhau, bồi đắp cho nhau một cách thân thiết đến nỗi trong tám chi của Bát chính đạo, mỗi chi đều bao gồm tám chi. Chi nà o cũng là m nhân và đồng thời là m quả cho bảy chi khác. Chính kiến không phải là bước đầu cũng như chính định không phải là bước cuối v.vẨ

Theo đạo Phật, một con người hoà n thiện cần phải có đủ hai phẩm tính: Bi và Tuệ. Bi đại diện cho ái, từ, thiện và những tình cảm cao thượng khác, cũng tức là phẩm chất của tâm. Còn Tuệ đại diện cho lý trí hoặc những phẩm chất về tư tưởng. Chỉ phát triển tình cảm mà coi nhẹ lý trí thì sẽ trở thà nh kẻ ngu ngốc mà có lòng tốt. Nếu phát triển lý trí mà coi nhẹ tình cảm thì sẽ biến thà nh nhà tư tưởng lòng dạ sắt đá, không có chút tình cảm nà o đối với con người. Do đó muốn trở thà nh con người hoà n thiện tất phải vun đắp cả hai phẩm tính đó. Ðó chính là mục đích phương thức sống của Phật giáo. Bi và Tuệ là m cơ sở bao quát tám chi của Bát chính đạo.

Nội dung của Bát chính đạo là :

(1) Chính kiến

Chính kiến là cái thấy về sự thực, sự thực bản thân cũng như sự thực xã hội, sự thực tâm lý cũng như sự thực về vũ trụ. Chính kiến cuối cùng sẽ trở thà nh tri kiến đối với thực tướng cuối cùng của hết thảy sự vật. Theo lời Phật dạy, tri kiến có hai loại: Loại tri thức hiểu, biết được tích lũy do lý tính đạt được gọi là sự kiến; Những tri kiến chân chính thâm nhập sâu sắc và o bản chất sự vật gọi là lý kiến. Loại kiến thức đạt được nà y chỉ có thể đạt được nhờ quá trình tu tập Thiền định liên tục trong đời sống. Ðối với người tu Phật, chính kiến cần phải được khai mở và phát triển mãi mãi bằng học tập và thực hà nh. Quán sát đạo lý duyên khởi và áp dụng đạo lý ấy trong mọi lĩnh vực của sự sống, ta sẽ nâng cao dần dần tâm chính kiến của ta.

(2) Chính tư duy

Chính tư duy là nghĩ đúng, và nghĩ đúng ở đây có nghĩa là suy tư phù hợp với đạo lý duyên khởi.

Trong bát chính đạo, chính tư duy còn bao hà m một nghĩa là tạo những tâm sở thiện. Tâm là m cho con người có thể dơ bẩn hay trong sạch. Tâm hình thà nh nên bản chất của con người. Tư tưởng thấp hèn là m cho con người trở nên bần tiện. Trái lại, tư tưởng trong sạch nâng đỡ con người đến chỗ thanh cao siêu thoát.

Trong Kinh "chuyển pháp luân", Phật dạy: "tư tưởng không tham lam, không hiểm độc, không tà n bạo được gọi là Thánh tư duy (Nyanatiloka Maha Thera, Chuyển Pháp Luân, Huỳnh Văn Niệm soạn dịch, Nxb, TP HCM 2026, tr.193)

Trong thế gian nà y , tham, sân, si, là nguồn cội của tất cả tội lỗi. Kẻ thù hiểm độc nhất của con người là lòng tham tức sự luyến ái, bám víu bà o cái được gọi là "ta" hay là "của ta". Tất cả nghiệp dữ đều có thể xảy ra do lòng tham gây nên. Khi bị trở ngại,lòng tham tức giận, thù hằn.

Xu hướng của con người là vui thích với những gì vừa ý, ghét bỏ cái gì phật lòng. Vừa ý thì luyến ái, bám víu. Trái lòng bất mãn, xua đuổi, sân hận, chán ghét. Lòng tham thường thúc dục con người bám víu và o dục lạc và tìm mọi phương cách để thỏa mãn nó.

Chỉ khi nà o diệt được tự ngã, không còn chấp cái "ta" nữa thì tham và sân tự tiêu tan. Phật dạy: "Trên thế gian nà y, không luyến ái là hạnh phúc. Và vượt hẳn lên khỏi mọi hình thức dục lạc là hạnh phúc".

Hòa đồng với tất cả, con người tự chan hoà trong toà n thể, thấy vạn vật và mình là một. Trong tâm không còn một điểm vị kỷ, vượt lên mọi hình thức của sự chia rẽ, riêng tư, con người đồng thể hoá với tất cả chúng sinh, rãi tâm từ đến tất cả. Ðó chính là những yếu tố của chính tư duy.

Tư duy đúng còn bao hà m nghĩa tâm bi. Tâm bi hay lòng bác ái là một đức độ êm dịu có đặc tính là là m rung động những tâm hồn trắc ẩn cao thượng trước cảnh khổ của người khác.

Người có tâm bi mềm dịu, nhưng lắm khi muốn giúp người khác thoát ra khỏi cảnh khổ, thì tâm bi cũng có thể cứng rắn như một tảng đá. Ngà y nà o chưa cứu giúp được người đau khổ, tâm bi cũng không thể thỏa mãn. Lắm khi, để là m êm dịu sự đau khổ của kẻ khác người có tâm bi không ngần ngại hy sinh đến cả sinh mạng của mình, Người có tâm bi thường tìm mọi phương thức là m cho con người đỡ đau khổ. Họ không bao giờ hà nh hung và là m hại ai. Hà nh tâm bi đúng mức con người có thể diệt mọi hình thức hung bạo tà n ác.

Kẻ thù trực tiếp của tâm bi là lòng độc ác, hung tợn, tà n bạo. Kẻ thù gián tiếp của tâm bi là âu sầu, ủ dột, phiền muộn. Tâm bi trong Phật giáo không phải là những giọt nước mắt chảy suông trước sự đau khổ của kẻ khác.

Tâm từ thì bao trùm tất cả, tá»±a hồ như ánh sáng mặt trời bao trùm vạn vật, tâm từ có cội là m cho mọi người được yên vui. Người có tâm từ luôn cố gắng tạo an là nh cho tất cả chúng sinh, chỉ thấy những gì tốt đẹp nÆ¡i mọi người. Ðức Phật khuyên các đệ tá»­ như sau: "Nà y hỡi các Tỳ Khưu dầu có người bình phẩm các con như thế nà o, đúng hay sai, hợp thời hay ở ngoà i lề, lỠđộ hay thô bỉ, hợp lý hay điên rồ, ngay thẳng hay gian xảo, các con hãy cố gắng tu luyện tâm tánh, phải giữ tâm luôn luôn trong sạch, không khi nà o thốt ra một lời xấu: luôn luôn niềm nở và bi mẩn đối với những người ấy. Các con nên rãi tâm từ bao trùm cả cà n khôn vạn vật, dồi dà o phong phú, vô lượng vô biên. Không bao giờ thù oán, không sân hận. Các con hãy cố gắng tá»± trau dồi"  (Narada Maha Thera, Ðức Phật và Phật pháp, Sđđ, tr. 292).

Người có tư duy đúng là đã thanh lọc mọi tham vọng ích kỷ, mọi thù hận, mọi tư tưởng hung ác, tà n bạo và đượm nhuần tinh thần vị tha từ ái và ôn hòa sẽ thấy đời sống mình được an là nh hạnh phúc.

(3) Chính ngữ

Chính ngữ là nói đúng và nói đúng ở đây có nghÄ©a là phát biểu thật sá»± căn cứ trên nguyên lý duyên sinh. Bất kỳ một lời nói nà o mà không phù hợp với nguyên lý duyên sinh đều không phải là chính ngữ. Lời nói là một hình thức cá»§a hà nh động, gọi là khẩu nghiệp. Lời nói là diá» n tả điều thấy và nghÄ©: nếu thấy sai và nghÄ© sai, thì nói cÅ©ng sai. Mà khi nói sai ta gây tác động lầm lạc cho chính ta và cho người khác. Lời nói không những cần phải diá» n tả thá»±c sá»± mà còn nhằm đến sá»± xây dá»±ng: ta phải thấy tất cả hậu quả cá»§a lời ta nói; chỉ khi nà o ta thấu được lý duyên sinh ta mới biết nói những lời có thể khai thi sá»± thá»±c, tạo nên hòa khí, là m tiêu tan không khí nghi kî, oán thù và sợ hãi quanh ta.

Trong kinh "Chuyển pháp luân" Phật dạy: "Chánh ngữ là không nói dối; không nói lời đâm thọc; không nói lời cọc cằn, thô lỗ; không nói lời vô ích".

Không nói dối, theo đạo Phật là cố tránh xa sự nói dối và ráng tự chế, chỉ nói lời chân thật, trau dồi phẩm hạnh trung thực.

Không nói lời đâm thọc là tránh xa sự nói xấu kẻ khác và ráng tự chế. Không được nói lời chia rẽ, gây hiện tượng mất đoà n kết. Trái lại, biết nói lời hòa hợp để đoà n kết lại những người vốn bị chia rẽ, và tăng cường đoà n kết hơn nữa đối với những người vốn đã hòa hợp.

Không nói lời cộc cằn thô lỗ là m đau lòng người khác. Kích bác người khác với lời chua cay, chửi rủa, mắng nhiếc người hay chế nhạo người với lời thâm độc đều là những điều ác. Chỉ dùng ngôn ngữ dịu dà ng, nghe êm tai, dỠthương, nhã nhặn duyên dáng hữu ích để gây thông cảm với phần đông.

Không nói lời vô ích nghĩa là chỉ nên nói chuyện nà o cần thiết, có lợi lạc, đối với người nghe. Mỗi lần nói, lời nói phải đúng thời, đúng lúc, với lý luận ôn hoà mang đầy ý nghĩa. Phật dạy: "Hiện tâm chí ta rất vững và ng. Chẳng có lời bất nhã nà o vượt ra khỏi miệng ta, Ta hãy ráng giữ thái độ thân hữu, thấm nhuần từ bi bác ái, không có ý nghĩa sâu độc bí ẩn nà o trong tâm. Và ta cố rãi tâm từ bi rộng lớn vô lượng vô biên chẳng lẫn lộn điều chi sân hận " (Nyanatiloka Maha Thera, Chuyển Pháp luân, - Huỳnh Văn Niệm dịch, Nxb TP HCM 2026, tr.200).

(4) Chính nghiệp

Chính nghiệp là hà nh động đúng, ở đây cũng có nghiõa là hà nh động phù hợp nguyên lý duyên sinh. Một hà nh động thuận theo lý duyên sinh là một hà nh động chắc chắn đem lại kết quả tốt.

Hà nh động đúng là những hà nh vi hợp với đạo nghĩa có danh dự mà hoà bình. Trong kinh "Chuyển pháp luân", Phật dạy: Chánh nghiệp là không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm".

Bảo vệ, tôn trọng , nâng cao giá trị của sự sống, đó là khái niệm trung tâm của đạo đức Phật giáo: Sự sống theo đạo Phật là có ở mọi dạng sống, chứ không phải chỉ riêng dạng sống loà i người. Ðó là sự thể hiện lòng từ bi bao quát tất cả mọi dạng sống trên trái đất nà y.

Không sát sinh còn bao hà m quí trọng, bảo vệ, là m phong phú thêm, nâng cao chất lượng của sự sống ở mọi cấp, trong tất cả các hình thức.

Không sát sinh là một phẩm chất của từ bi. Hà nh động đúng tinh thần ấy, con người có thể đạt tới an vui và hạnh phúc.

Hà nh động đúng còn với nghĩa tuyệt đối không xâm phạm tới tà i sản, của cải của người khác. Những gì không thuộc của mình thì không được chiếm đoạt.

Không tà dâm có nghĩ a là tuyệt đối tránh quan hệ tình dục bất chính. Ðạo Phật đã vạch ra cho con người một lối thoát ra khỏi cuộc sống đau khổ, là lối sống đạo đức, hướng thượng tránh xa khỏi đam mê dục vọng tầm thường.

(5) Chính mệnh

Chính mệnh là phương tiện sinh sống chân chính. Một nghề nghiệp lương thiện, đó là chính mệnh. Nghề nghiệp lương thiện chính là những phương tiện sinh sống không gây tai họa và khổ đau cho kẻ khác trong hiện tại cÅ©ng như trong tương lai. Những phương tiện sinh sống thẳng thắn, không lừa đảo, không gieo rắc lầm lạc, không bóc lột kẻ khác, không vi phạm quyền tá»± do và bình đẳng kẻ khác, không phá hoại môi trường sinh hoạt cá»§a con người v.v... đó là chính mệnh. Ðức Phật dạy: "Khi người Phật tá»­ cố tránh xa tội lỗi, tìm nuôi thân bằng phương thức chính đáng, hà nh động đó đem lại quả vui nÆ¡i cõi trần. Ðó gọi là ‘chánh mạng thế gian" (Nyanatiloka Maha Thera, Sđd, tr.205)

(6) Chính tinh tiến

Chính tinh tiến là nỗ lực chân chính, tức là sự cố gắng không ngừng trên mọi lĩnh vực tu tập. Ðây cũng là một phương diện của sự tu tập theo nguyên lý duyên sinh. Có khi nỗ lực của ta không được gọi là chính tinh tiến, chỉ vì những nỗ lực ấy không phải là chính nghiệp, được hướng dẫn bởi chính kiến. Những nỗ lực trên hướng vụ lợi, tham lam hay căm thù đều không được gọi là chính tinh tiến, bởi vì những kết quả của những nỗ lực nà y có thể là khổ đau cho những người khác và do đó là cho chính bản thân mình.

Trong mỗi con người đều có một kho tà ng đức hạnh cao thượng và một hầm tật xấu đê hèn. Chính tinh tiến là đè nén, tuyệt trừ tật xấu và cố gắng vun xới đắp bồi những tính tốt. Phật dạy: "Tinh tấn tránh xa (tội lỗi), tinh tấn lướt khỏi (tội lỗi). Tinh tấn là m cho phát triển (các điều là nh), tinh tấn bảo tồn (những pháp cao thượng) là bốn giai đoạn về tinh tấn mà bậc đại hiền đã chứng minh. Kẻ nà o cố bám dính và o các đức tánh đó sẽ kết liỠu được những điều thống khổ" (Sđđ, tr.212)

(7) Chính niệm

Chính niệm là sự nhớ nghĩ chân chính. Không nên lầm chính niệm với chính tư duy. Tư duy là sự suy tưởng trong khi đó niệm là nhớ nghĩ, trái với sự quên lãng. Chính niệm là một phương pháp tu luyện rất mầu nhiệm. Ðó là ý thức sáng tỏ về sự sống của chính bản thân mình. Người Phật tử chân chính là người biết tập, sống thường xuyên trong chính niệm, nghĩa là sống có ý thức, biết mình đanglà m gì, nói gì, và do đó có thể soi sáng mọi tư tưởng, ngôn ngữ, và hà nh động mình bằng nguyên lý duyên sinh. Sống trong sự quên lãng tự để cho mình bị kéo theo ngà y tháng và hoà n cảnh mà không tự chủ được, không thấy được mình đang sống, không thấy được sự sống là mầu nhiệm, đó không phải là sống nữa mà là trôi lặn trong sinh tử.

Chánh niệm là một phương pháp tiến tới tư cách hoà n toà n trong sạch, để vượt qua khỏi mối ưu phiền, chấm dứt niềm đau khổ và mở đường chân chính đi đến đạo quả Niết bà n.

Sống trong chính niệm, người Phật tử luôn trong tình trạng "Minh sát" về thân thể, trắc nghiệm những tình cảm và tinh tấn phân tích các hiện tượng (pháp) phát sinh. Người thường xuyên dũng mãnh, chăm chú biết mình, gạt bỏ một bên tất cả sự khát vọng và phiền muộn của thế gian (sống với hiện tại).

(8) Chính định

Chính định là một phương pháp thiền định chân chính. Chính định là sự tập trung tâm ý để đạt tới chính kiến tức là cái thấy chân chính. Ðịnh ở đây không có nghĩa là tư duy hay suy tưởng mà là những phương pháp tập trung tâm ý và thiền quán nhằm phát khởi trí tuệ. Những phương pháp nà y không nhắm đến sự tu luyện thôi miên, pháp thuật và trường sinh, mà nhắm đến sự phát hiện tuệ giác giác ngộ nên gọi là chính định.

Người Phật tử muốn đắc được quả trong bốn thánh thì phải thực hà nh bằng pháp "Minh Sát" (Vipassana) hay là minh tâm kiến tánh. Nghĩa là dùng trí tuệ soi sáng nội tâm để thấy rỗ đúng theo chân lý những trạng thái vô thường (Aniccata), khổ não (Dukkhata) và vô ngã (Anattata) của tất cả các pháp tạo ra đời sống.

Trên đây là đại cương các đạo lý duyên sinh, tứ diệu đế và bát chính đạo. Học hỏi và thực tập đạo lý nà y, người Phật tử xây dựng bản thân mình về ba mặt trí tuệ, tình thương và ý chí.

Cố công hà nh đạo, người Phật tử thêm hoà n hảo. Các tật xấu được thanh lọc tẩy trừ, giờ đây người đã sẵn sà ng bước lên đường Thánh vức, như nén và ng ròng được người thợ khéo là m ra nhiều món nữ trang. Người Phật tử tự do thong thả lướt gió tung mây, không gì ngăn cản như chim hạc bay thẳng cánh tận trời cao. Người Phật tử trở nên bình thản, an tịnh, lạnh lùng trước những pháp thế gian huyền ảo. Người Phật tử đã diệt trừ được điều trở ngại sẽ rất toại nguyện vừa lòng, tâm tư trà n ngập nguồn hạnh phúc.

(Tạp chí Nghiên cứu Phật học, số 4/2026)

-oOo-


Source: LotusNet production, https://www.lotuspro.net 


[Trở về trang Thư Mục]