BuddhaSasanaHome Page
This document is written in Vietnamese, with Unicode Times font


Những cái vui trong Ðạo Phật

Hòa thượng Thich Thanh Từ


Trong nhà Phật, ngà y mùng một Tết là ngà y vía Ðức Di Lặc. Ðức Di Lặc hiện là Bồ Tát, nhưng tương lai sẽ thà nh Phật. Thế nên lỠNgà i chúng ta xưng "Ðương lai hạ sanh Di Lặc Tôn Phật". Chúng tôi gọi Ngà i là Phật vì Ngà i là Phật sẽ thà nh, còn gọi Ngà i là Bồ tát vì Ngà i là vị Bồ tát hiện tại. Ða số các chùa thuộc hệ Bắc tông đến ngà y mùng Một Tết đều cử lỠvía Ngà i. Ðó là một thông lệ nhưng mang nhiều ý nghĩa quan trọng. Người thế gian ai cũng quan trọng ngà y đầu năm, cho ngà y đầu năm là ngà y chứa đựng đầy đủ ý nghĩa trong một năm. Vì vậy, mọi hà nh động, mọi ngôn ngữ, mọi ý nghĩ đều được dè dặt để giữ gìn một năm đầy tốt đẹp.

Ðức Di Lặc là hình ảnh đẹp đẽ vui tươi mà ai cũng thích. Gương mặt Ngà i lúc nà o cũng nở nụ cười hoan hỷ gọi là nụ cười Di Lặc. Nụ cười Di Lặc không bị thời gian chi phối, lúc nà o Ngà i cũng cười; thưở bé cũng thấy Ngà i cười, đến già cũng thấy Ngà i cười, sắp tắt thở cũng thấy Ngà i cười. Ðó là nụ cười Di Lặc.

Ðón mừng Bồ tát Di Lặc - một vị Phật sẽ thà nh - là hình thức bên ngoà i của buổi lỠ, còn ý nghĩa bên trong là đón mừng những người con Phật mai kia sẽ thà nh Phật. Ngà y vía Ðức Di Lặc là ngà y vui của mọi người, cũng là ngà y hứa hẹn chúng ta sẽ toà n giác thà nh Phật.

Người đời cho rằng đạo Phật chán đời, yếm thế, không có niềm vui. Nói như thế là chủ quan, chưa hiểu gì đạo Phật. Thực tế đạo Phật trà n trề sức sống, trà n trề niềm vui, những niềm vui của đạo Phật phát xuất từ cạn tới sâu nơi tâm người qua năm giai đoạn tu tiến.

1. Niềm vui phát xuất từ tâm Tuỳ Hỷ

Tùy là theo, hỷ là vui mừng. Tùy hỷ là vui mừng theo. Khi thấy bạn hay người thân là m điều là nh hay việc tốt chúng ta phát tâm vui theo, đó là tùy hỷ. Người là m là nh vui bao nhiêu chúng ta vui bấy nhiêu. Người phát được niềm vui đó công đức bằng công đức người là m việc là nh. Thí dụ ông A đem mười đồng tới chùa cúng, chúng ta nghèo không có tiền cúng, thấy ông A cúng chuà ông vui sướng, chúng ta vui theo thì công đức của ông A cúng mười đồng với công đức tùy hỷ của chúng ta bằng nhau. Mới nghe qua thấy như bất công vô lý, chúng ta không cúng một xu nà o tại sao công đức bằng ông A cúng mười đồng được? Nhưng Phật nói công đức hai người bằng nhau.

Có người hỏi:

- Bạch Thế Tôn, tại sao công đức tùy hỷ và công đức bố thí bằng nhau?

Phật trả lời bằng một thí dụ: Cây đuốc thứ nhất đang cháy, có một người cầm cây đuốc thứ hai đến mồi. Khi mồi xong, cây đuốc thứ nhất cháy, cây đuốc thứ hai cũng cháy, ánh sáng hai cây đuốc đó không hơn kém nhau. Cây đuốc bị mồi, ánh sáng cũng không giảm bớt. Cũng vậy, người là m việc là nh, chính họ đã có công đức; và người phát tâm tùy hỷ công đức cũng ngang bằng với người là m là nh đó. Tu nhẹ nhà ng quá, không đợi chúng ta có nhiều tiền mới là m được việc công đức; chỉ thấy ai là m là nh chúng ta tùy hỷ tán thà nh là có công đức rồi.

Tại sao tùy hỷ có công đức lớn như vậy?

- Người có công có cá»§a đem ra giúp người là họ xả được tâm tham lam ích ká»·. Còn người phát tâm tùy há»· thì xả được tâm tật đố, vì thông thường người thế gian thấy ai hÆ¡n mình là sanh tâm đố kî. Thí dụ hai huynh đệ đi chùa, ông A có mười đồng cúng chùa, mình không có thì buồn rồi nói móc nói nghéo, chớ không có tâm tùy há»· vui theo. Thấy người là m được, mình là m không được sanh đố kî là tật xấu. Bây giờ chúng ta phát tâm tùy há»· là dẹp được tật đố xấu xa nÆ¡i mình rồi. Người bố thí xả được tâm tham lam ích ká»·, người tùy há»· xả được tâm tật đố thì công đức hai người bằng nhau.

Ở thế gian, chúng ta thường thấy, thậm chí anh em ruột trong nhà , em là m ăn thất bại nghèo thiếu thấy anh là m ăn phát đạt được già u sang thì có mặc cảm đố kî với anh. Do đó tình anh em phai nhạt xa cách. Tại vì sao? Vì cái tâm tật đố không muốn ai hÆ¡n mình, thấy người hÆ¡n mình là sanh tâm đố kî. Ðó là cái bệnh chung cá»§a con người. Thế nên chúng ta học đạo phải tập phát tâm tùy há»·. Không phải đợi mình là m việc công đức mới vui, mà thấy ai là m được việc tốt đẹp, sống hạnh phúc, chúng ta đều phát tâm vui mừng theo.

Một thí dụ nữa. Chúng ta nghèo ăn cÆ¡m hẩm với muối hột, bạn chúng ta già u ăn cÆ¡m gạo lúa thÆ¡m với thịt cá đầy bà n. Thấy như vậy chúng ta tùy há»· nói: "Anh sung sướng quá, tôi mừng cho anh được đầy đủ sung túc". Thấy chúng ta tùy há»· người bạn già u đó có ghét chúng ta hay không? - Không ghét mà thương, có thể còn giúp đỡ chúng ta nữa. Nhưng ở đời chúng ta có chịu là m như vậy không? Hay mình ăn cÆ¡m hẩm với muối hột, bạn mình ăn cÆ¡m gạo lúa thÆ¡m với cá thịt đầy bà n, thì mình không vui, rồi kiếm chuyện nói xa nói gần, khiến cho tình bạn phai nhạt, dần dần xa cách? Mình đố kî người ta, người ta thương mình sao được ! Từ đó mà sanh ra ngăn cách, bạn trở thà nh thù do đố kî mà ra. Từ hoà n cảnh ăn ở, cách xá»­ sá»±, cho đến là m việc thiện v.vẨ tất cả chúng ta đều tập phát tâm tùy há»·. Người là m được việc mà chúng ta không đủ khả năng là m, chúng ta nên vui mừng theo.

Một thí dụ khác. Hồi thưở bé đi học ở trường, khi thầy giáo kêu trả bà i, hôm nà o mình không thuộc bà i bị điểm nhỏ, bạn mình thuộc bà i được điểm lớn thì mình đố kî ghét bạn. Bạn siêng học, học giỏi được điểm lớn, mình lười biếng học dở thua bạn, taị sao mình lại ganh ghét đố kî? Học cuối năm học, những bạn học giỏi được khen thưởng những món qua xứng đáng, còn mình học dở, khi thấy bạn lãnh quà , mình vui lây hay ganh ghét rồi kiếm chuyện để thách đố? Cái tâm đố kî có từ thưở bé, chớ không phải bây giờ mới có, chúng ta mang sẵn nó từ thÆ¡ ấu. Giờ đây biết tu, chúng ta phải bỏ tâm tật đố, vì nó tương đương với tham lam; tham lam có thì tật đố cÅ©ng có. Người biết là m phước họ xả được lòng tham, người biết tùy há»· bỏ được tâm tật đố. Như vậy mỗi người bỏ được một tật cho nên Ðức Phật nói:"Công đức ngang nhau". Về sau, huynh đệ đi chùa, họ có tiền cá»§a cúng Phật, cúng Tăng, mình không có cÅ©ng vui theo, mừng cho bạn có tiền cá»§a cúng chùa, được như vậy thì cả hai đều được công đức như nhau. Ðừng mặc cảm mình ngheò không có tiền cá»§a cúng chùa không cùng đi chung. NghÄ© như vậy là trái đạo lý. Học hiểu ứng dụng đúng với lời Phật dạy chúng ta mới thấy Phật pháp công bằng, không thiên người già u, không bỏ người nghèo. Ai cÅ©ng có phước hết, chỉ cần có tâm là nh là được.

Tóm lại trong gia đình, anh em ai được già u sang, ai được khá giả, ai được hạnh phúc, chúng ta đều vui mừng như chính chúng ta được. Ngoà i xã hội, từ bạn bè cho đến người láng giềng, ai được phú quý, ai có danh vị, chúng ta vui mừng như chính chúng ta được. Trong đạo, huynh đệ ai có cái gì hay, cái gì tốt, chúng ta vui mừng như chính chúng ta được thì không còn khổ, lúc nà o cÅ©ng có niềm vui; vui theo cái vui cá»§a người ! Chúng ta không bị tật đố là m cho cách biệt, là m mất tình anh em ruột thịt trong nhà , là m mất tình bạn bè ngoà i xã hội và là m mất tình đạo bạn ở trong chùa. Ðược như vậy đi đến đâu chúng ta cÅ©ng có niềm vui, dù tay không, không giúp ai được việc gì. Trái lại chúng ta nghèo mặc áo rách thấy người ta mặc áo là nh thì đố kî xụ mặt xuống, như vậy là m gì có vui ! Ði đâu cÅ©ng buồn vì thấy người hÆ¡n mình, buồn trà n trề. Ở đời là m sao mình bằng tất cả mọi người được ! Bây giờ chúng ta biết tùy há»·, thấy ai có cái gì hÆ¡n, chúng ta đều vui theo, mừng cho họ. Tâm niệm cá»§a người Phật tá»­ phải là tâm niệm là m cho mọi người hết khổ. Phật là vị cứu khổ chúng sanh, chúng ta là Phật tá»­, tức con Phật, phải có quan niệm là m cho chúng sanh hết khổ; nếu chưa hết khổ , ít ra cÅ©ng bớt khổ. Thấy mọi người bớt khổ về cái ăn, cái mặc, hoặc bớt khổ về cái gì là chúng ta vui mừng. Nếu chúng ta đố kî thì không phải con Phật. Vì vậy muốn được niềm vui đầu tiên, người Phật tá»­ phải phát tâm tùy há»·, ai có điều hay, cái tốt đều vui theo chớ không đố kî. Ðó là cái vui thứ nhất cá»§a người mới và o đạo.

2. Cái vui thứ hai sâu hơn, tế nhị hơn là Hỷ xả

Hỷ là mừng, xả là buông bỏ. Hỷ xả có hai mặt:

- Hỷ xả tà i vật bên ngoà i.
- Hỷ xả phiền não cố chấp trong lòng.

Nếu chúng ta có tà i vật dư dả nên giúp cho những người bần cùng đói rách. Của cải do mồ hôi nước mắt mình tạo, mình cảm thấy đủ hay dư thì vui xả cho những người nghèo thiếu hay những người ít ỏi hơn. Ðó là hỷ xả tà i vật bên ngoà i. Tuy vậy cũng hơi khó là m, vì có nhiều người, kẻ khác thấy họ dư mà bản thân họ lại thấy thiếu; có một đồng muốn hai đồng, có hai đồng muốn mười đồng, có mười đồng muốn ba mươi đồng, muốn cho đến ngaỳ tắt thở mà vẫn thấy chưa đủ. Như vậy là m sao xả được? Cho nên muốn hỷ xả chúngta phải học Phật; Phật dạy ít muốn, biết đủ. Chúng ta biết đủ thì mới xả được, không biết đủ thì không thể nà o xả được. Người không biết đủ giống như cái túi không đáy, bỏ và o bao nhiêu tuột hết bấy nhiêu, bỏ bao nhiêu cũng không đầy, do cái bệnh không biết đủ, như vậy là m sao mà xả?

Thí dụ: mỗi ngà y buổi trưa chúng ta ăn ba chén cơm là đủ no, dù có đồ ăn ngon, chúng ta cũng ăn ba chén, phần dư thì giúp cho người hoặc cho vật. Dù đấy là phần dư của mình, nhưng cũng là một lối xả. Chớ nên ăn ba chén vừa no, thấy đồ ăn ngon, ăn thêm nữa, như vậy là phí phạm, vì lượng thức ăn chừng đó là đủ, ăn thêm là dư. Ðó là về cái ăn, còn bao nhiêu cái khác, chẳng hạn như cái mặc, chúng ta có ba bộ đồ đủ để mặc, thêm bộ thứ tư là dư rồi; nhưng có thêm bộ thứ tư thấy chưa đủ, mua thêm bộ thứ năm cũng thấy chưa đủ nữa. Nhu vậy chừng bao nhiêu mới đủ để xả? Không biết đủ thì không bao giờ xả được, còn dư đem giúp người không một chút luyến tiếc. Ðó là tâm hỷ xả, vui vẻ giúp người chứ không bị bắt buộc.

Hỷ xả tà i vật tuy khó nhưng dỠhơn hỷ xả cố chấp phiền muộn ở tâm. Khi có người là m phiền mình, thì gương mặt buồn hoặc nhăn nhó. Muốn hết phiền phải tập xả; xả nà y là tha thứ, là bỏ qua. Phiền ở đây là phiền não và sân hận, hai thứ đó chất chứa trong lòng, mình phải buông xả nó đi. Người nà o ôm lòng phiền hận thì đau khổ, đau khổ từ hiện tại cho đến mai kia, chớ không phải đau khổ trong hiện tại thôi. Vì vậy, khi biết mình đang ôm lòng phiền hận người nà y kẻ khác, thì phải vui vẻ bỏ, nghĩa là bao nhiêu cái phiền muộn chứa chấp trong lòng phải hỷ xả hết.

Muốn xả của cải chúng ta phải biết đủ. Bây giờ muốn bỏ phiền hận phải là m sao? Bỏ bằng cách nà o?

- Muốn bỏ phiền hận trong lòng, chúng ta phải thấy cuộc đời là vô thường, cái chết đang kề cận, ôm phiền não là m gì? Do nghĩ cái chết sắp đến nên chúng ta buông xả được phiền hận. Phiền hận chỉ là m khổ mình, khổ người, không lợi cho ai cả. Quán xét như vậy chúng ta buông hết, không buồn giận ai, lo tu cho tâm an ổn.

Tiến hơn nữa, chúng ta thấy cuộc đời như aỏ mộng, ngà y nay có mặt tại đây, ngà y mai đã mất rồi. Sống trong tạm bợ mong manh; mình tạm bợ, người tạm bợ; tại sao không thương nhau, nâng đỡ nhau? Nếu chúng ta biết mình là người bị kêu án tử hình và những người xung quanh bị kêu án tử hình, thì đâu có buồn giận nhau. Trong cuộc sống hà ng ngà y khi lẫn lộn chung chạ nhau, có dẫm lên nhau, hay có là m phiền toái nhau cũng bỏ qua. Phải nghĩ đến cái chết, chớ để tâm buồn giận! Nghĩ đến cái chết, chúng ta mới thấy cuộc đời là tạm bợ, sống không có gì bảo đảm, vậy buồn giận nhau để là m gì? Hãy buông xả hết những gì còn chứa chấp trong lòng. Có ai ở đời mãi đâu mà giận với hờn!

Chúng ta đã học Phật nhiều năm, vậy có tập được hạnh buông xả chưa? Ði chùa cúng Phật có còn giận hờn bè bạn anh em không? Nếu ai còn phiền giận, thì ngay bây giờ hãy ước nguyện Ðức Phật chứng minh xả hết, cho lòng trống rỗng không còn vướng bận việc gì. Dù có buồn giận ai từ mười năm, hay hai ba mươi năm, ngà y nay dứt khoát phải xả. Phiền giận là rắn độc, dại gì chúng ta chứa rắn độc trong nhà . Nếu chứa rắn độc trong nhà thì sớm muộn gì cũng bị nó cắn. Thế nên khi biết phiền não là rắn độc thì phải xả ngay, đuổi ra khỏi nhà , không dung chứa nó. Biết như vậylà tu đó. Phiền hận thì không vui; hết phiền hận, tâm hồn rỗng rang trống trải thì rất vui vẻ. Muốn được vui vẻ, chúng ta phải tập hỷ xả những vật bên ngoà i, hỷ xả những phiền hận trong lòng. Trong ngoà i đều hỷ xả hết mới có cái vui chân thật.

Sở dĩ Ðức Phật Di Lặc cười hoà i là vì Ngà i hỷ xả, còn chúng ta buồn hoà i là vì chúng ta cố chấp phiền hận. Cố chấp phiền hận là nguyên nhân của đau khổ, của bệnh tật, rất xấu xa đê hèn, dứt khoát phải xả bỏ. Mọi người ai cũng muốn mình là người vui tươi, ai cũng muốn mình là người sung sướng, nhưng tại sao lại chứa cái nhân đau khổ? Có phải tự mình mâu thuẫn với mình không? Khi nà o giận ai, buồn ai là biết mình đang hại mình là m cho mình xấu xa, là m cho mình đau khổ, là m cho mình bệnh hoạn. Biết như vậy thì ngà y mùng tám tháng Giêng có cần đi cúng sao không? Cúng sao là cầu năm nay mình khỏi tai nạn, được vui sướng. Bây giờ xả hết, không buồn ai không giận ai thì năm nay an ổn vui sướng rồi, dù có gặp sao La Hầu, Kế Ðô cũng an vui như ngà y Xuân, nên không cần cúng sao ! Mình không giận ai thì ai thù mình? Không thù người thì ai hại mình? Ðó là cái nhân là m cho an ổn thực tế. Còn cúng sao là cái cầu mong huyỠn hoặc trên trời, không phải việc là m thiết thực cụ thể.

Hỷ xả là cái đức rất cần thiết và quý báu cho cuộc sống hiện tại của chúng ta. Muốn được vui, muốn được tươi đẹp, sống lâu chúng ta phải tu hạnh hỷ xả. Người không chịu hỷ xả là người sẽ chết yểu, bệnh hoạn, xấu xa. Vậy ngà y đầu năm quí vị hãy tu hạnh hỷ xả cho trọn năm được vui như Ðức Di Lặc. Ðó là cái vui thứ hai.

3. Cái vui thứ ba là "Pháp hỷ"

Pháp là chánh pháp, hỷ là vui. Pháp hỷ là vui với chánh pháp. Khi nghe kinh học đạo, thấy lời Phật dạy là chân lý rất thực tế không xa với huyỠn hoặc có thể thực hà nh được, chúng ta thích thú cảm thấy nhẹ nhà ng sung sướng, đó là pháp hỷ hay pháp lạc. Tại sao vui? Vì nghe kinh học đạo, chúng ta thấy được lẽ thật, lòng nhẹ nhà ng vui sướng. Người nà o nghe kinh học đạo, thấy lòng vui nhẹ sung sướng, đó là người được pháp lạc. Còn người nà o nghe kinh học đạo mà gục lên gục xuống, nghiêng qua ngả lại, người đó không được pháp lạc. Nếu không có cái vui khi nghe kinh học đạo, dù có đi chùa cũng khó tinh tấn, vì có thích đâu mà tinh tấn. Việc gì chúng ta thích thú mới cố gắng là m, nếu không thích thú thì là m miỠn cưỡng chứ không cố gắng. Người học đạo phải nên nghiền ngẫm mới thấy lời Phật dạy là chân lý. Thấy được chân lý chúng ta mới vui sướng. Cái vui sướng đó là pháp hỷ hay pháp lạc, là cái vui chân thật. Có được cái vui chân thật mới tinh tấn thích tu hà nh. Nếu không được pháp hỷ, có tu chăng, cũng chỉ cầu mong được tà i lợi danh vịẨ.chớ không phải vui thích mà tu. Người học đạo chân chính vui với đạo mà tu, chớ không phải cầu mong cái gì khác. Như vậy khi nghe kinh hoặc đọc sách Phật phải chịu khó nghiền ngẫm tư duy. Tư duy đúng đắn, tột cùng thấy được lẽ thật thì vui thích; cái vui thích đó tạo thà nh sức mạnh khiến chúng ta tinh tấn trên con đường tu.

Người đời có những lúc vui mừng quá người ta khóc. Chẳng hạn thân nhân đi đâu xa khoảng hai mươi năm, ba mươi năm không gặp, khi gặp lại thì mừng quá rơi nước mắt. Trong đạo cũng thế, khi đọc kinh Phật có niềm vui cũng cảm động rơi nước mắt. Ðó là trường hợp của Ngà i Khuê Phong, Ngà i được người bạn tặng một quyển kinh Viên Giác, đọc qua Ngà i vui sướng, cảm động rơi nước mắt. Ðó là cái vui sướng tột cùng khiến nước mắt rơi. Người học đạo mà vui như thế thì không bao giờ thối chuyển. Khi nà o đọc kinh mà thấy Phật nói hay quá cảm động sung sướng, rơi nước mắt, đó là có duyên là nh khá sâu với Phật pháp. Người được cái vui đó là người ít bị khó khăn hay chướng ngại là m lui sụt. Còn khi đọc kinh thấy buồn ngủ, tụng kinh ngáp dà i thì không tìm được cái vui trong đạo. Không vui thì sự tu khó tiến bộ. Ðó là cái vui của pháp hỷ hay pháp lạc.

4. Cái vui sâu hơn nữa là "Thiền duyệt"

Thiền là thiền định, duyệt là vui, thiền duyệt là vui trong thiền định. Trong nhà thiền có tả trong lúc toạ thiền, khi thân tâm an ổn, hơi thở nhẹ nhà ng, lúc đó cảm thấy khinh an thư thới khác hơn bình thường. Cái vui nà y lâng lâng nhè nhẹ chứ không phải cái vui hớn hở nhộn nhà ng. Chỉ khi nà o chúng ta lắng sâu trong thiền định, thân an, hơi thở điều hòa, tâm định, thì cái vui nhè nhẹ xuất hiện, cái vui nà y nhà Phật gọi là "Thiền duyệt".

Người mới tập ngồi thiền thì thấy đau chân, thân mỏi nhọc, mồ hôi chảy, chẳng vui chút nà o cả, thấy ngồi thiền khổ như một hình phạt. Nhưng tới lúc quen thì nhẹ nhà ng an ổn. Tới giờ ngồi thiền không ngồi, thấy như thiếu cái gì, giống như đến giờ ăn mà không ăn, cảm thấy khó chịu. Tu thiền cũng phải như vậy. Ðến giờ ngồi thiền mà không ngồi được, chúng ta cảm thấy thiếu thốn cái gì, phải đi ngồi thiền mới thấy an ổn, giống như đói cần ăn, phải ăn mới no. Do đó mà nói "Thiền duyệt vi thực". Người tu ít ai lấy cái vui trong thiền định là m thức ăn, vì phải khó nhọc tu tập lâu dà i, công phu đắc lực mới có trạng thái an vui đó, chớ không phải ngồi năm tháng, ba tháng mà được. Buổi đầu ngồi thiền nhọc nhằn khổ sở lắm, qua giai đoạn nhọc nhằn khổ sở, sau đó mới được an vui. Cái an vui nà y là thiền duyệt. Bao giờ chúng ta thấy cái vui thiền định không thể thiếu như bữa cơm không thể thiếu khi đói, mới được gọi là "Thiền duyệt vi thực". Ðó là cái vui thứ tư.

5. Ðến cái vui thứ năm khó hơn là "Tịch lạc"

Cái vui nà y ít được nghe nói. Nó phát xuất từ tâm tịch tịnh được diỠn đạt qua bốn câu kệ trong kinh "Ðại Niết bà n"

Chư hà nh vô thường
Thị sanh diệt pháp
Sanh diệt diệt dĩ
Tịch diệt vi lạc

Tịch lạc được ghép chữa đầu và cuối của câu kệ chót là vui, đó là cái vui cứu cánh của người tu. Hai cái vui đầu gần gũi với người mới học đạo, thế mà đa số người học Phật chưa thực hiện được. Phải thực hiện từ cái vui thứ nhất đến cái vui thứ hai, có được hai cái vui đó rồi mới đến cái vui thứ ba, thứ tư, cuối cùng đến cái vui thứ năm là tịch lạc. Tịch là lặng lẽ, lạc là vui; tịch lạc là tâm lặng lẽ, an vui. Cái vui nà y như thế nà o?

Chư hà nh vô thường, thị sanh diệt pháp. Hà nh ở đây là hoạt động tức là thân-miệng-ý hoạt động. Thân-miệng-ý hoạt động thì thà nh nghiệp, hoặc nghiệp thiện hoặc nghiệp ác. Nghiệp phát xuất từ ý nghĩ, miệng nói, thân là m; song ý nghĩ rồi mất, miệng nói rồi mất, thân hà nh động rồi mất. Thân-miệng-ý là chỗ tạo nghiệp sanh diệt vô thường nên nói "Thị sanh diệt pháp", tức là pháp sanh diệt không bền chắc. Như vậy tất cả hà nh động tạo tác trên thế gian đều vô thường nên đau khổ. Khi nà o "Sanh diệt diệt dĩ"thì "tịch diệt vi lạc".Cái vui nà y quá sâu kín cũng gọi là cái vui Niết bà n. Sau khi cái sanh diệt nó diệt hết rồi mớii tới chỗ tịch diệt. Sanh diệt ở đây là sanh diệt của nghiệp ý, nghiệp khẩu và nghiệp thân; nhưng chủ yếu là ý, vì ý chủ động cho nên nghiệp ý lặng rồi dù có nói có là m cũng là tịch diệt. Như vậy sau khi vọng tưởng tịch diệt hết rồi không còn dấy động nữa thì tâm tịch diệt. Tâm tịch diệt là chỗ an ổn chân thật, bất sanh bất diệt. Tâm bất sanh bất diệt đó là Niết bà n. Ðó là cái vui cứu cánh chân thật ít người hưởng được.

Chúng ta học và tu theo Phật có cái vui cạn và cái vui sâu. Thứ nhất là cái vui do tùy hỷ, thật dỠlà m không tốn công, chỉ xả tâm tật đố của mình là được. Thứ hai là cái vui tốn công, tốn của, xả bỏ tà i vật của mình và xả bỏ những cái chứa chấp trong tâm niệm mình. Hai cái đó xả được là có cái vui hỷ xả. Thứ ba là cái vui pháp hỷ hay pháp lạc. Cái vui nà y phải có công phu nghiền ngẫm. Nghiên cứu Phật pháp chúng ta mới được niềm an vui trong đạo lý. Thứ tư là thiền duyệt, thiền duyệt thì phải có công phu nhiều tháng nhiều năm tu hà nh mới có cái vui thiền duyệt. Ðược cái vui thiền duyệt rồi cuối cùng mới có cái vui tịch lạc; tức là tâm lặng lẽ, rỗng rang không còn một miệng dấy động, thấy tất cả sự vật cái gì cũng nên thơ, đẹp đẽ. Không còn phân biệt đây là xấu, kia là tốt, đây là hay, kia là dở, chỉ một niệm chân thật. Cho nên trong nhà thiền gọi là "Xúc mục tức Bồ đề"; tức là nhìn cái gì cũng là Bồ đề, là Giác ngộ; thấy người vật đều vui, đều đẹp, tất cả là muà xuân, không có cái gì buồn xấu. Như vậy nếu tới được chỗ vui đó thì chúng ta hưởng được mùa xuân, vĩnh cửu, không bao giờ mất.

Thiền sư Phật Nhãn hiệu Thanh ViỠn đời Tống ở Trung Hoa có một bà i thơ nói về xuân như sau:

Xuân nhựt Xuân sơn lý
Xuân sự tân giai Xuân
Xuân quang chiếu Xuân thủy
Xuân khí kết Xuân vân
Xuân khách Xuân tình động
Xuân thi Xuân cánh tân
Duy hữu thức Xuân nhơn
Vạn kiếp nguyên nhất Xuân

Tạm dịch:

Ngà y Xuân xuân trong núi
Việc Xuân thảy đều Xuân
Hồ Xuân ánh Xuân chiếu
Khí Xuân kết mây Xuân
Khách Xuân lòng Xuân động
Thi XuânXuân cà ng tươi
Chỉ có người biết Xuân
Muôn kiếp một mùa Xuân

Tại sao toà n bà i thơ câu nà o cũng là xuân hết vậy? Ngà y Xuân, Xuân trong núi: Ngà y xuân trong núi giống hệt như xuân hôm nay. Tức là ngà y vui vui ở trong núi.

Việc Xuân thảy đều Xuân: Nếu lòng mình nhẹ nhà ng thênh thang, không buồn giận, hờn phiền, không dấy niệm phân chia thì cái gì cũng là xuân, thấy ai cũng đẹp đẽ dỠthương. Sở dĩ chúng ta không vui được là vì thấy cái nà y xấu, cái kia tốt; thấy người nà y dỠthương , người kia dỠghétẨ Thấy người dỠghét thì hết xuân, mặt xụ xuống là m sao vui được. Còn thấy ai cũng dỠthương thì gặp ai mình cũng nở nụ cười, không phải xuân là gì? Trên mặt mình lúc nà o cũng là mùa xuân. Cho nên thấy cái gì cũng xuân. Tất cả đều là xuân.

Hồ Xuân ánh Xuân chiếu: Hồ nước mùa xuân ánh nắng mặt trời soi sáng dưới mặt hồ cũng xuân, cái gì cũng đẹp hết.

Khí Xuân kết mây Xuân: Mây loáng thoáng lưa thưa, ở chung quanh núi, mái nhà , vường cây là những mây nhạt gọi là xuân khí. Xuân khí đó kết thà nh những cụm mây. Những cụm mây đó cũng là mây xuân. Như vậy nhìn người, nhìn mây, nhìn nước, nhìn vật cũng là xuân; tất cả đều là xuân. Tại sao vậy? Tại vì trong lòng vui tươi như mùa xuân, nên thấy người, cảnh đều xuân. Nếu trong lòng buồn bã như đêm ba mươi thì thấy cái gì cũng buồn bã tối đen. Sở dĩ thấy cảnh vật ở ngoà i đẹp là do trong lòng mình đẹp.

Khách Xuân lòng Xuân động: Như người khách trong mùa xuân thấy cảnh đều vui theo, tức lòng động theo mùa xuân.

Thi Xuân Xuân cà ng tươi: Mùa xuân đã tươi rồi thì nhân còn tô điểm là m cho nó tươi đẹp thêm.

Chỉ có người biết Xuân , muôn kiếp một mùa Xuân: Cảnh xuân, khách xuân, tình xuân v.v.. là cái bên ngoà i. Chỉ có người biết được xuân mới vui xuân muôn kiếp. Mùa xuân đó là mùa xuân Di Lặc, cười hoà i muôn kiếp, không bao giờ có vẻ mà y sầu mặt héo. Ðó là mùa xuân tươi đẹp, đầy cả bầu trời, trà n trề cả nhân thế.

Quí vị có muốn hưởng mùa xuân nà y không? Nếu muốn thì phải tu từ cạn tời sâu. Cạn nhất là từ bỏ tật đố để phát tâm tùy hỷ theo tất cả việc tốt, việc là nh của mọi người. Kế đó là xả từ vật chất của cải đến những bực bội cố chấp trong lòng được cái vui hỷ xả. Rồi tới học hiểu giáo lý một cách đúng đắn. Có niềm vui chân thật là pháp lạc. Kế nữa là tu hà nh tiến tới an ổn, được cái vui thiền định. Cuối cùng là dứt sạch mọi vọng niệm được an vui tự tại, chỉ một tâm thênh thang trong suốt, thì nhìn đời bằng một mùa xuân không đổi thay, bất diệt. Xuân như thế mới là xuân Di Lặc, mới là xuân muôn đời muôn kiếp. Nếu mùa xuân chỉ có ba tháng, hoặc chỉ có ba ngà y tết thì xuân đó quá hữu hạn. Ngà y nay gượng cười , ngà y mai gặp nhau quạu quọ, tức tối thì không có xuân. Phải cởi bỏ những chướng ngại trong lòng thì mùa xuân muôn kiếp xuất hiện. Mong rằng mùa xuân muôn kiếp sẽ đến với quí vị.

Tuần báo Giác Ngộ


Source:  LotusNet Production , https://www.lotuspro.net


[Trở về trang Thư Mục]