BuddhasasanaHome Page
This document is written in Vietnamese, with Unicode Times font

Ðức bổn sư
Hình ảnh của lòng kiên định

Tịnh Minh




Nói đến hạnh nhẫn nhục thì có lẽ không ai trên cõi đời nà y - nhất là giới già u sang phú quý, thanh thế uy quyền- nhẫn nhục bằng đức Phật khi còn tại thế. Ngà i nhẫn nhục chỉ vì mục đích tối thượng là tìm ra chánh đạo, giải thoát sanh tử cho mình và cho mọi người, mang lại thanh bình, an lạc cho chúng sanh. Nhẫn nhục ở đây không mang ý nghĩa ráng sức chịu đựng hay cố đấm ăn xôi nhằm đạt đến mục tiêu danh vọng của riêng mình.

Khi còn là Thái tử Tất Ðạt Ða, Ngà i đã phải bao phen nhẫn nhục trước thái độ ngang tà ng, phách lối của Ðề Bà Ðạt Ða, người em con chú của Ngà i.

Hôm đó, Tất Ðạt Ða đang ngồi trên lưng voi diỠu qua kinh thà nh Ca Tỳ La Vệ sau khi thắng cuộc so tà i cung kiếm, và được Quốc vương Thiện Giác gả công chúa Da Du Ðà La. Ðề Bà Ðạt Ða nổi máu ganh tức và để ra uy với mọi người, chà ng tóm lấy đà u voi, đấm chơi một cú, và thớt voi khổng lồ lăn đùng xuống đất. Thái tử Tất Ðạt Ða té nhà o. Chà ng thản nhiên đứng dậy, ôn tồn nói: -- Ðề Bà Ðạt Ða, hà nh động của cậu không đẹp tí nà o, chưa phải lúc cho cậu dương oai diỠu võ như vậy! Ðề Bà Ðạt Ða ngước mặt kênh kênh rồi bỏ đi.

Qua 6 năm tu hà nh khổ hạnh trong núi rừng sương tuyết, Ngà i đã phải kham nhẫn đến độ tưởng chừng như sức người không chịu nổi, để rồi dưới cội Bồ đề, trước giờ đắc đạo, âm binh quỷ quái và nội chướng ngoại ma trong nhiều đời nhiều kiếp nhất tề nổi dậy công phá mục tiêu giải thoát và hóa độ chúng sanh cao cả của Ngà i. Và tất nhiên là chúng đã bị trí tuệ và sức kiên định của Ngà i hà ng phục.

Sau khi ngộ Ðạo, trên bước đường vân du hoằng hóa, Ngà i lại gặp biết bao nghịch cảnh rợn người. Với hạnh từ bi, nhẫn nhục, Ngà i đã hóa giải và nhiếp thọ tất cả.

Một hôm, trên đường về Xá vệ, đức Thế Tôn đi ngang qua một cánh đồng nhằm mùa gặt hái. Dân chúng đang nô nức ăn mừng linh đình. Thấy đức Thế Tôn từ xa đi lại, Bharadvaja, một tín đồ Bà La Môn, chạy ra dang hai tay chặn Ngà i, nói: -- Ông đạo, mời ông đi ngay cho. Ông là m gương xấu cho mọi người. Ở đây, chúng tôi đang kiểm điểm và ăn mừng thà nh quả lao động của chúng tôi. Ông chả là m gì cả. Ông lang thang khắp nẻo phố phường. Ông lê la cùng đường cùng xóm. Ông chỉ mệt một chút là gặp ai, ông cũng chìa bình bát ra. Tốt hơn là ông nên lao động, ông nên cà y bừa gíeo hạt mà ăn.

-- Nà y bạn, đức Phật mỉm cười nói, ta cũng cà y bừa gieo hạt như bạn, khi công việc là m xong, ta dùng bữa thoải mái.

-- Ông mà cũng cà y bừa gieo hạt! Ai tin được điều đó? Trâu bò của ông đâu? Hạt giống của ông đâu?

-- Nà y bạn, hiểu biết trong sạch là hạt giống mà ta gieo trồng, tu tập thánh thiện là mưa là nh tưới trên mặt đất phì nhiêu, hạt giống sẽ đâm chồi nẩy lộc, đơm hoa kết trái và già chín trên đó. Ta cầm cà y kiên cố: Lưỡi cà y là trí huệ, chuôi cà y là giáo pháp, thà nh tín là con bò khoẻ mạnh kéo cà y. Ta cà y đến đâu là ái dục tróc gốc như cỏ phơi trên đồng đến đó, và sản phẩm vụ mùa ta thu hoạch chính là hạt bất tử.

Như bị thôi miên, Bharadvaja đứng sững sờ một lát rồi sụp lạy dưới chân Ngà i. Ðoạn mời Ngà i và o nhà , cúng dường vật thực và thỉnh Ngà i thuyết pháp cho gia quyến cùng nghe. Ngà i đã thuyết pháp Bát chánh đạo và Tứ vô lượng tâm: Từ, Bi, Hỷ, Xả. Mọi người hoan hỷ lắng nghe và xin quy y Ngà i.

Ròi có lần đức Thế tôn và A Nan bị Hoà ng hậu Magà ndiya xúi giục đám nô lệ mắng nhiếc thậm tệ. Chúng gọi thầy trò Ngà i là lũ âm binh ma quái, bọn súc sanh trá hình. A Nan đau buồn, thỉnh Phật đi nơi khác. Ðức Thế tôn nhỏ nhẹ hỏi: -- Nên đi đâu bây giờ, A Nan?

-- Ðến một thà nh phố khác, bạch Thế tôn.

-- Nếu ở đó bị hủy báng nữa thì sao?

-- Thì đến thà nh phố khác nữa.

-- Nếu bị hủy báng nữa?

-- Thì đến nơi khác nữa.

-- A Nan, ở đâu có chướng duyên, ở đó ta dừng bước. Ta như một thớt voi lâm trận, chấp nhận mọi cung tên và kham nhẫn mọi hủy báng. Có ai nghe voi than phiền giữa trận mạc bao giờ. Hãy tu tập hạnh nhẫn nhục, A Nan.

Lố bịch nhất là nhóm ẩn sĩ Bà La Môn âm mưu xúi giục Chiến già (Sincâ) lăng nhục Ðức Phật.

Một buổi sáng đẹp trời, Ngà i đang thuyết pháp giữa chánh điện. Chiến già , trông giống như một bà đang mang thai sắp đến ngà y sinh nở, khệnh khạng và o ngồi trước mặt đức Thế Tôn rồi cất giọng sang sảng nói: -- Ngà i thuyết pháp lời lẽ ngọt như đường mật. Còn em, mang thai với Ngà i, sắp là m mẹ trong nay mai, thì không có đến một nÆ¡i nằm chỗ; cá»§i lá»­a than dầu cÅ©ng không có! Nếu Ngà i xấu hổ thì nhờ đệ tá»­ cá»§a Ngà i như quốc vương Ba Tư Nặc hay trưởng giả Cấp Cô Ðộc lo cho em chứ. Nhưng không ! Ngà i chỉ biết vui hưởng ái tình mà cóc cần cưu mang trách nhiệm !  vừa nói vừa huÆ¡ huÆ¡ hai tay lên trời như một mụ phù thá»§y.

Ðức Thế Tôn thản nhiên, hỏi: -- Nà y cô em, cô nói thật hay vu khống đó?

-- Anh biết rõ quá mà , em đâu có nói láo!

Các Phật tử Ưu bà di định đứng dậy lôi cổ con mẹ khùng khùng ra khỏi chùa, nhưng đức Thế Tôn đưa tay ra hiệu họ ngồi xuống. Thấy thế, Chiến già cà ng thêm sôi máu, ả đứng phắt dậy, định xông đến là m nhục đức Thế Tôn, nhưng vì ả thở mạnh quá, chiếc dây nịt ở bụng đứt ra, trái banh gỗ rớt xuống sà n nghe cái bạch, đức Thế Tôn cười nói: -- Ðó, con của cô sanh rồi đó! Vừa xấu hổ, vừa sợ hãi, ả té xỉu bất tỉnh, hai sư cô phải dìu ả sang nhà bên xoa dầu, thoa bóp và chăm sóc cho đến khi ả tỉnh lại.

Ngay với cả đệ tử của mình, đức Thế Tôn cũng thường giáo hóa bằng hạnh nhẫn nhục.

Nhóm Tăng trẻ tại Kiều Thưởng Di say mê tranh luận đến bất chấp ngôn hạnh của Bổn sư. Hai ba lần khuyên răn không được, đức Thế Tôn họp chúng lần chót, dạy rằng: -- Hạnh phúc thay cho ai có được người bạn sáng suốt. Chướng ngại nà o mà hai bạn tà i đức không thể vượt qua? Người không có bạn tâm giao khác nà o vua không có đất nước, phải lang thang phiêu bạt trong cô đơn hiu hắt như thớt voi già trong cánh rừng hoang.

Ngà i lặng lẽ giã từ Tăng chúng, một mình ôm bát núi an cư ba tháng mùa mưa với sự trợ giúp của chú voi già và cậu khỉ và ng thân thiện.

Ðề Bà Ðạt Ða, đệ tử Phật, quyết tâm hại Phật để thống lãnh Tăng đoà n, Ngà i vẫn không hề than trách. Ngà i cố tình tránh mặt và nghĩ rằng chỉ có lòng từ bi và hạnh nhẫn nhục mới đủ sức cảm hóa con người một dạ hai lòng và nhiều tham vọng đó. Và đúng như vậy, trong thời gian lâm bệnh, Ðề Bà Ðạt Ða đã ngà y đêm ăn năn sám hối và niệm danh hiệu Ngà i cho đến khi giã từ dương thế trong đau thương khốn khổ. Ngà i từng dạy:

Nhẫn nhục hạnh tối cao
Niết bà n quả tối thượng
Xuất gia nhiỠu hại người
Ðâu còn là Sa Môn (Pháp Cú 184)

Nhẫn nhục quả là đức hạnh cao cả của bậc Ðại hùng, Ðại lực, Ðại trí, Ðại bi. Thiếu kiên định và nhẫn nhục thì Phật sự và đạo nghiệp khó thà nh. Thảo nà o trước khi nhập diệt, đức Thế Tôn đã di chúc lại cho môn đệ của Ngà i trong kinh Di giáo: -- Ai kham thọ nhẫn nhục một cách hoan hỷ như uống nước cam lồ, người ấy xứng danh là bậc và o đạo có trí.

Ðúng vậy ! Chỉ có Nhẫn Nhục mới tránh được mọi xung đột, oan khiên và bất hạnh trên đời.


Chân thà nh cám ơn anh chị Lưu - Thu đã có thiện tâm giúp đánh máy lại bà i viết nầy (10/97)