Buddhasasana Home Page
This document is written in Vietnamese, with Unicode Times font

Tâm Tình Của
Một Người Và o Ðạo

GS. Hoà ng Ðôn Thịnh


Các bạn thân mến,

Ðem tâm tình mình viết ra không phải để khuyên nhủ bạn và o Ðạo của mình. Tôi không bao giờ có ý nghĩ như thế. Bạn cứ giữ và vững tin nơi Ðạo của mình - vì các Ðạo giáo có thể ví như những bông hoa tư tưởng muôn sắc, muôn hương. Chỉ xin bạn ưu ái mở rộng tầm nhìn và tìm hiểu một đạo giáo khác là Ðạo Phật cũng là một điều bổ ích. Có lẽ muộn chăng khi tôi đã tìm hiểu triết lý của Ðạo Phật và và o đạo. Tôi không ước mong đạt được thà nh quả Tu Ðà Hoà n...A La Hán, Bồ Tát hoặc quả vị Phật mà chỉ tìm chút an lạc trong một xã hội Tây Phương náo nhiệt, trà n đầy vật chất nà y.

Nhớ xa xưa, khi còn ở quê nhà , tại xã tôi, có một ngôi chùa tọa lạc tại xã Xóm Dầu, cạnh sông nhánh Tam Quan. Những ngà y mồng một, rằm, ba mươi, quý cụ, nhất là quý bà , quý cô mang hoa quả đến chùa cúng Phật. Vị trụ trì già chỉ hà nh lỠ, các bà các cô cúng bái, khấn vái, khẩn cầu. Với tính cách không phải là một Phật tử, bước và o chùa lần đầu tiên, trước những nghi thức lỠbái sùng kính có khi quá mức, tôi cảm thấy e dè và nghĩ rằng hình thức cúng kiến, sùng bái tượng gỗ đã đưa đến mê tín dị đoan. Ngà y xưa lúc ở quê, lúc ở Biên Hòa, ở Sà i Gòn rất hiếm có được nghe các vị danh sư thuyết pháp tại các chùa nên tôi có ý nghĩ lầm lạc như thế.

Tỵ nạn qua Tây Ðức, sống trong một xã hội Tây Phương, một xã hội trà n đầy vật chất, quay cuồng với truyền thanh, truyền hình, phim ảnh, báo chí, tạp chí đầy quảng cáo, hình ảnh sex, tin tức bạo lực, tôi cảm thấy bất an vì nhan nhản hằng ngà y xảy ra những cảnh cướp của, giết người, hiếp dâm cả trẻ con, những cảnh phi luân như cha mẹ ly dị nhau, rồi vì thất vọng giết con thơ ấu, những cảnh loạn luân xảy ra thường xuyên đăng trên một số báo giữa cha mẹ và con cái. Tôi bà ng hoà ng và tự hỏi "Một xã hội văn minh mà như thế sao?"

Nhớ lại, khi còn trẻ đọc "Ðông Chu Liệt Quốc", xã hội ly loạn như vậy mà suốt cả thế kỷ chỉ có một câu chuyện loạn luân trong cung cấm giữa anh và em gái thôi. Tôi ít gặp những tâm hồn thanh thản, sống tỉnh thức mà thường là những tâm trạng khắc khoải, lo âu cuộc sống. Nhất là ở xứ Mỹ nà y. Ai cũng cố "cà y" và lo trả góp tiền nhà trong vòng 20 hoặc 30 năm. Một số lo không biết một ngà y đẹp trời nà o đó, chủ hãng có thể trao cho mình một tờ giấy, trân trọng báo tin rất là m tiếc không thể cùng nhau là m chung lâu dà i. Job mất, nhà cũng khó bảo toà n. Thật vậy, xã hội tư bản mà Hoa Kỳ là đại diện đã thà nh công về kỹ thuật, phì nhiêu, già u có, đạt những kiến thức khoa học cao nhất, tổ chức đời sống tiến bộ nhưng thoái hóa về tinh thần... Rõ rà ng ta đang chứng kiến đà phát triển vĩ đại của kỹ thuật (về Computer, không gian v.v...) trong khi đó lĩnh vực tinh thần không theo kịp đà phát triển, khiến con người mất hướng, phải cắm đầu chạy theo phương tiện vật chất, biến mình thà nh công cụ của thế lực vật chất.

Với tâm trạng ấy, tôi có nhân duyên đến với Phật Giáo qua chùa Viên Giác, được nghe Thượng Tọa trụ trì Thích Như Ðiển giảng đạo và tìm sách báo Phật giáo tìm hiểu thêm. Tôi mới nhận thấy rằng Ðạo Phật vừa là một triết lý thâm sâu, vừa là một đạo giáo thấm nhuần tinh thần dân tộc. Những ý kiến sai lầm lúc còn ở Việt Nam cho rằng hình thức cúng bái, sùng bái tượng không còn nữa vì Phật Giáo là một tôn giáo khoan hồng và có tính dân tộc. Phật Giáo không phủ nhận và bác bỏ những hình thức kính mộ về bề ngoà i ấy vì nó cần thiết cho nhu cầu của đại chúng. Do thái độ tôn kính ấy, đức tin cà ng tăng trưởng. Người Phật tử chân chính quỳ lạy trước tượng Phật để tỏ lòng kỉnh mộ đối với lý tưởng mà pho tượng ấy biểu hiện.

Mục tiêu tối hậu của Phật Giáo đối với thời đại nà y là là m sao cho con người thoát khỏi cảnh lệ thuộc và o vật chất để tiến lên, hướng những tiến bộ khoa học, kỹ thuật và o việc phục vụ con người như hạn chế và giảm thiểu việc tà n phá môi sinh. Và đích thực con người mới là cứu cánh của kinh tế chứ không phải kinh tế quyết định như chủ nghĩa duy vật chủ trương. Chỉ có vậy, thế giới mới hòa bình, xã hội mới hết bất công, sinh hoạt chính trị mới không lầy lội trong tội lỗi, kỹ thuật khoa học mới không quay lại tiêu diệt nhân loại (như nguy cơ tà n phá môi sinh và tà n phá lớp ozon), các nước lớn mới không xem các nước nhỏ là món hà ng để trao đổi quyền lợi.

Tôi đến với Phật Giáo trong tâm trạng như thế. Tôi nghĩ rằng có lẽ chỉ có Ðạo Phật mới có thể đem lại quân bình cho cuộc sống và hòa bình cho nhân loại chăng?

Lục tổ Huệ Năng (về Thiền tông) đã nói: "­ng quán pháp giới tánh Nhứt thiết duy tâm tạo" (NghÄ©a là : quán tưởng tánh cá»§a Pháp giới đều bởi do tâm và tạo tác). Và Ðức Phật đã dạy: "Tâm bình, thế giới bình". Giáo lý đặc biệt chú trọng về Tâm và bà i kệ sau đây có thể tóm lược giáo lý cá»§a Phật:

"Chư ác mạc tác": Chớ là m các điều ác
"Chúng thiện phụng hà nh": Gắng là m các điều là nh
"Tự tịnh kỳ ý": Giữ tâm ý trong sạch
"Thị chư Phật giáo": Ấy lời chư Phật dạy

Ðạo Phật chú tâm về và đặt nền tảng trên những chân lý sau đây:

1. Lý vô thường: Tất cả các Pháp - danh từ Phật học chỉ vạn vật sự vật có hình tướng hoặc không hình tướng - đều biến đổi qua 4 giai đoạn: "Sinh, trụ, hoại, diệt", không có pháp nà o trường tồn vĩnh cửu.

2. Lý nhân quả: Vạn vật đều hình thà nh từ nhân đến quả, có những trường hợp vì nhân quá nhỏ, quá xa theo thời gian khiến ta khó thấy, khó nhớ mà biến thà nh khó hiểu. Nhân quả bao gồm tất cả mọi tạo tác, mọi hà nh động của mọi loà i - trong đó có loà i người - Những động tác về thân, miệng, ý của ta tạo ra nghiệp là nh hoặc nghiệp dữ. "Gây nhân là nh, được quả là nh, tạo nhân dữ bị quả dữ". Nhưng cũng có những trường hợp dường như ngoại lệ mà thực không phải. Ðó vì nhân chưa chín mùi mà thân ta đã bị hoại, nhưng nhân ấy sẽ còn tiếp tục theo thời gian chớ không mất. Hệ luận của lý nhân quả sinh ra lý luân hồi. Nghiệp lực lôi cuốn chúng sinh đi thọ quả báo, thọ quả báo lại tạo nghiệp, mãi mãi không ngừng.

Các bạn, tôi tin và o thuyết luân hồi vì chỉ có thuyết nà y mới giải thích các hiện tượng thần đồng và các bậc sao siêu xuất chúng như Khổng Tử, Homère. Platon, Shakespeare, NguyỠn Trãi v.v... Và i nhân vật tăm tiếng trong y khoa giải thích hiện tượng thần đồng phát sinh do việc phát triển khác thường những hạch tuyến. Tuy nhiên nếu chỉ một và i hạch tuyến phát triển khác thường là m sao Chistian Heineken có thể nói chuyện được ngay và i tiếng đồng hồ sau khi sanh, đọc lại nhiều đoạn Thánh kinh lúc lên một, trả lời những câu hỏi địa dư lúc lên hai, nói được tiếng Pháp và La Tinh lúc lên ba và khi lên bốn đã theo học lớp triết. Nếu chỉ vì một và i hạch tuyến phát triển khác thường thì là m sao John Stuart Mill có thể đọc chữ Hy Lạp lúc lên 3, là m sao Macaulay có thể viết Thế Giới Sử lúc vừa 6 tuổi, là m sao William James Sidis đọc và viết rà nh tiếng Anh lúc mới lên 2 và đã nói được tiếng Pháp, Anh, Ðức và chút ít tiếng La Tinh, Hy Lạp khi lên 8, là m sao Mozart có thể viết những bản nhạc bất hủ lúc lên 6. Cho nên nguyên nhân sự phát triển khác thường ấy nhất định là do Nghiệp quá khứ.

3. Lý duyên sinh: Các Pháp đều do duyên chung hợp mà thà nh. Vật thể không tự có mà phải do nhiều nguyên tố hay phân tử chung hợp. Cái bà n, cái nhà v.v...tự thể hay thật thể không có mà do nhiều duyên chung hợp (như gỗ, sắt, thợ v.v...) tạo ra. Cho nên Phật nói rằng: "Các Pháp duyên sinh, tự thể là không". Từ lý duyên sinh có hệ luận là lý vô ngã. Quán chiếu kỹ, con người không có tự ngã, tức là không có "cái ta thật". Con người gồm có hai phần: thể xác và tinh thần, danh từ Phật gọi là Ngũ Uẩn (sắc, thọ, tưởng, hà nh, thức) (1). Xét từng Uẩn (nhóm), không có uẩn nà o đơn thuần mà đều do duyên hợp cả. Cho nên Phật nói trong kinh Bát Nhã: "Ngũ Uẩn giai không". "Không" đây không phải là không có gì hết mà có nghĩa là không có tự thể hay tự tánh. Ðối với vạn Pháp cũng thế. Ta phải quán chiếu lý vô ngã để dần dần giảm thiểu sự chấp ngã (cho rằng có cái ta thật) và sự chấp Pháp (cho rằng có vạn vật thật). Có chỉ là giả có, huyển có mà thôi... Phá được chấp ngã và chấp pháp, ta diệt trừ được tam độc: tham lam, giận hờn và si mê gây cho ta biết bao nhiêu phiền não trong cuộc đời nà y.

Trình bà y cùng các bạn các chân lý căn bản, tôi e rằng chưa đủ, xin nêu thêm những đặc điểm khác. Ðứng ngoà i Ðạo Phật, có lẽ các bạn cho rằng Ðạo Phật chỉ dà nh riêng cho các bậc già nua tuổi tác, nhờ câu kinh, tiếng kệ an ủi ngà y tà n, hoặc kẻ bị tình đời đen bạc hay người nhiều phen vấp ngã vòng danh lợi, về nương tựa cửa thiền, hoặc những cô nà ng thất vọng về tình nhờ giọt nước cà nh dương rưới dịu sầu hận hoặc những người đau ốm, tật nguyền cảm thấy cô đơn, thừa thãi ngoà i xã hội, về núp bóng từ bi để đỡ phần cơ cực... Quan niệm ấy đã ăn sâu trong tâm não của dân ta nên khi bạn thấy một thanh niên hay thiếu nữ cạo tóc xuất gia, bạn có lẽ cho là chán đời, bi quan, trốn nợ xã hội.

Không, Ðạo Phật là một đạo tích cực và thiết thực nhất cho cuộc sống có ý nghĩa. Hãy xem gương Ðức Phật xưa kia, một Thái Tử vinh quang tột đỉnh, vợ đẹp con xinh, thế mà Ngà i từ bỏ cung điện ra đi vì một hôm khi dạo ngoà i thà nh, trực diện đau khổ của con người, Ngà i quyết tìm con đường cứu khổ chúng sinh. Tu khổ hạnh 6 năm trời không đạt cứu cánh, Ngà i ra đi, tham thiền nhập định 49 ngà y dưới cội Bồ Ðề và đã tìm ra được con đường giải thoát. Suốt 45 năm Ngà i cùng đoà n Tăng già đi khắp mọi nơi, hoằng dương chánh Pháp. Bà i giảng đầu tiên của Ngà i là "Tứ Diệu Ðế" (bốn sự thật huyền diệu). Trong thế giới trần tục nà y khắp mọi nơi đều khổ đau: nà o, "sinh, lão, bệnh, tử", nà o buồn chia ly xa cách, và o mong cầu bất đắc v.v... Nguyên nhân đau khổ là lòng Ái Dục, lòng ham muốn của con người không bao giờ biết đủ (tri túc). Cho nên muốn diệt khổ phải diệt lòng Ái Dục bằng con đường "Bát Chánh Ðạo" (2) gồm có 8 phần: Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định. Bốn sự thật ấy hiển nhiên, có lẽ bạn không chối cãi được, nên hà nh trì để tâm hồn được thanh thản, không có con đường nà o khác.

Nhưng không có sự giải thoát được khổ đau nà o được thực hiện nếu không có cố gắng cá nhân. Phật Giáo không chủ trương van vái, nguyện cầu, mà thay và o đó phải dùng trí huệ chỉ quán, tham thiền để tự kiểm soát, thanh lọc và giác ngộ. Một tôn giáo như thế mà gọi là thụ động và tiêu cực ư? Tùy căn cơ và tánh khí của mỗi người, Ðức Phật chỉ dạy nhiều pháp môn, ta có thể học hỏi và tu tập theo Tịnh Ðộ tông, Thiền tông hay Mật tông. Ðức Phật đã thực nghiệm và vạch con đường. Phần chúng ta là noi theo con đường ấy để tự thanh lọc. Hiểu một cách khác, người Phật Tử chân chính là một chiến sĩ can đảm phải chiến đấu, không phải bằng súng đạn mà bằng: "Giới, Ðịnh, Huệ" (3). Họ phải chiến đấu với chính họ vì con người là kẻ thù tệ hại nhất của con người. Tâm là địch thủ nguy hiểm nhất và cũng là người bạn tốt nhất vì trong ta có vọng tâm mà cũng có chân tâm.

Có bạn lại cho rằng Phật giáo đề cập đến những việc hoà n toà n ngoà i thế gian, không thực tế chút nà o! Thưa các bạn, Phật giáo lấy Nhân Bản là m trung tâm thay vì lấy Thần Linh hay Thượng Ðế là m trung tâm như một và i tôn giáo khác. Phật giáo hướng nội và nhằm giải thoát từng cá nhân, giải thoát đau khổ, phiền não bằng cách tiêu diệt nguồn gốc của nó và vạch ra con đường để ai muốn, có thể chấm dứt sanh tử, luân hồi và nếu chúng sanh nà o có hạnh nguyện lớn có thể thà nh Bồ Tát hoặc Phật. Tôi nghĩ rằng Ðạo Phật không phải là một tôn giáo yếm thế, xa lánh cuộc đời mà nhập và o đời để chuyển hóa cá nhân và xã hội. Hết sức khó khăn và phải trí dũng mới thắng được tam độc (tham, sân, si). Nã Phá Luân, nhà quân sự đại tà i cũng đã nói: "Chiến thắng ngoà i mặt trận không khó bằng chiến thắng chính mình".

Ðạo Phật là đạo hòa bình, luôn luôn kêu gọi: "từ bi, hỷ xả" thương người như thương mình, vui mà xả bỏ những phiền não do kẻ khác gây ra. Suốt 25 thế kỷ và lịch sử Phật giáo không hề có những cuộc đổ máu vì muốn đạo mình phát triển. Hãy xem các đạo giáo khác. Ðạo Islam (Hồi giáo) luôn luôn muốn đạo mình độc tôn nên đã sản xuất ra Khomeni và Saddam Hussein. Giữa Ky tô và Tin là nh đã xảy ra biết bao nhiêu xung đột, máu đổ dằng dai cả hơn thế kỷ nà y tại đảo Ireland. Lịch sử Pháp cũng có những cuộc chiến tranh về tôn giáo 30 năm...

Ðạo Phật cũng là một đạo hết sức dân chủ, bình đẳng và công bình. Tinh thần dân chủ không phải phát xuất từ thế kỷ 18 với Rousseau. Montesquieu tại Pháp mà đã triển khai cách đây 25 thế kỷ với cái nhìn và cách đối xử của Ðức Phật. Lúc bấy giờ xã hội Ấn chia ra 4 giai cấp rất rõ rệt: giai cấp Bà La Môn được ưu đãi nhất và giai cấp hạ tiện (Paria) bị khinh bỉ và đối xử tà n tệ nhất. Ưu Bà Li, một dân hạ tiện đến với Ðức Phật, Ngà i cho và o đoà n Tăng già , được chấp nhận là m Tỳ Kheo. Một ông hoà ng nguyên trước kia theo đạo Bà La Môn, cũng xin quy y, Ðức Phật bắt ông hoà ng phải đảnh lỠƯu Bà Li vì ông là người và o đoà n sau. Ðó là điều hết sức cách mạng và o thời đại phong kiến tại Ấn Ðộ vì lúc bấy giờ giai cấp Paria không được phép đi tu, nhưng Ðức Phật nói: "Là con người ai cũng máu đỏ, mồ hôi mặn thì chẳng có gì khác nhau".

Bình đẳng và công bình vì Phật giáo dạy chúng sanh cao sang hay bần hà n phải nhận chịu dưới sự điều động của Nghiệp lực, không thêm không bớt. Không ai có thể thoát cán cân quả báo tương xứng công bình của Nghiệp lực. Ðức Phật không bao giờ cho Ngà i là độc tôn, duy nhất phải thôn thờ. Ngà i thường nói: "Ta là Phật đã thà nh, các ngươi là Phật sẽ thà nh". Mọi người đều có khả năng đạt quả vị Phật vì chúng sanh cũng như Phật, tất cả đều có Phật tánh hay Chân tâm nhưng bị che lấp như tấm gương bị mà n bụi phủ đầy. Nhưng khi chúng ta lau sạch bụi, phá tan mà n vô minh, không còn vọng tưởng, không còn tâm phân biệt và từ bi hỷ xả thì ta sẽ thà nh Phật không khác gì Phật Thích Ca. Hiện nay sự khác biệt giữa chúng sanh và Phật là do sự sai biệt giữa giác ngộ và mê lầm. Tôi hết sức khó khăn vì đã sống trong cõi Ta Bà nà y, đã huân tập nhiều thói hư tật xấu, đắm nhiỠm "Ngũ dục" (4), để sáu căn (tai, mắt, mũi, lưỡi, thân và ý) buông lung chạy theo và đắm nhiỠm sáu trần (5) coi trọng nhiều "cái ta" và "cái của ta" nghĩa là còn chấp ngã và chấp pháp.

Ðức Phật đã vạch ra con đường và khuyến khích mọi người theo dấu chân Ngà i để là m được như Ngà i, đạt quả vị chánh đẳng, chánh giác. Ðức Phật không bao giờ muốn ta tin tưởng Ngà i như Ðấng Thần Linh, một Thượng Ðế, cũng không muốn ai tôn thờ Ngà i bằng một niềm tin cuồng si mà không hiểu Ngà i. Một cách khiêm tốn Ngà i nói: "Ta chỉ là một Ðạo sư hay lương y thôi. Nghe lời ta hay không, chịu dùng Pháp được hay không là tùy quyền các người."

Tóm lại Ðạo Phật là đạo của con người giác ngộ và giải thoát. Con người khổ đau thì phương pháp giải thoát khổ đau của Ðạo lại cầu viện tới cho đến khi nà o chúng sanh hoà n toà n giác ngộ và giải thoát, chừng đó Ðạo Phật hết sứ mệnh với nhân thế. Giáo lý Ðạo Phật như một chiếc bè đưa qua sông Ðau Khổ. Ðại nguyện của Ngà i là sớm thấy chúng sanh quẳng chiếc bè bên bờ giác ngộ.

Các bạn mến, tôi đến với Ðạo Phật chỉ vì không muốn cắm đầu chạy theo phương tiện vật chất. Tôi thích đạo giáo nà y vì mục tiêu tối hậu của nó trong thời đại vật chất nà y mà người tỉnh thức nà o cũng muốn thoát khỏi rà ng buộc và lệ thuộc. Tôi luôn luôn suy gẫm câu: "Nhứt thiết duy tâm tạo".

Thân ái chà o các bạn với niềm tin trong tương lai.

(Trích từ Ðặc san Lại Giang)


Phụ chú về danh từ:

1. Ngũ Uẩn: là 5 nhóm gồm có: Sắc, Thọ, Tưởng, Hà nh, Thức. --Sắc là thân xác do tứ đại hợp thà nh (đất, nước, gió, lửa). --Thọ: Cảm giác vui, buồn hay vô ký (không vui không buồn). --Tưởng: Suy nghĩ, tưởng tượng. --Hà nh: Trạng thái tâm lý. --Thức: Năng lực trí tuệ nhận biết và phân biệt. Uẩn đầu là thân, 4 uẩn sau là tâm.

2. Bát Chánh đạo: con đường gồm 8 phần: --Chánh kiến: sự thấy biết chân chính, đúng sự thật. --Chánh tư duy: suy nghĩ chân chính, ý nghĩ về tình thương không phân biệt, về bất bạo động. --Chánh ngữ: lời nói chân chánh, nói ôn hòa, không nói dối. --Chánh nghiệp: là m những việc chân chính nhằm phát sinh hà nh vi hợp đạo đức. --Chánh mạng: sự sinh sống chân chính, từ bỏ nghề mang thiệt hại cho mình và kẻ khác. -- Chánh tinh tấn: cố gắng chân chính, ý chí mạnh là m thiện bỏ ác. --Chánh niệm: nhớ tưởng chân chính, chú ý về hoạt động của thân và tâm. --Chánh định: tập trung chân chính, đưa đến 4 tầng thiền.

3. Giới, Ðịnh, Huệ: --Giới là điều ngăn cấm, đón giữ tà niệm, vọng tâm. Người cư sĩ tại gia phải giữ 5 giới, người tu sĩ 250 giới. --Ðịnh là phép là m thân tâm định tĩnh (tham thiền, nhập định). Ðịnh như ly nước để yên, là m cho bao nhiêu cáu bẩn đều lắng xuống đáy ly. --Huệ là soi sáng, sự phát trí sáng với diệu dụng của nó, là m kẻ tu hà nh biết rõ được thật tướng của nhân sinh và vũ trụ, nguồn gốc khổ đau và con đường giải thoát.

4. Ngũ dục gồm có: Tà i, Sắc, Danh, Thực, Thùy (ngủ).

5. Sáu trần cũng được gọi là 6 cảnh bên ngoà i: Sắc trần (mà u sắc), Thanh trần (giọng, tiếng nói), Hương trần (hương vị). Vị trần (mùi vị), Xúc trần (va chạm với bên ngoà i), Pháp trần (các pháp, vạn vật sự vật). Thường được gọi là 6 trần cảnh ( sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) ./.


Source: Phat Hoc Magazine, 2026, Kentucky, USA
https://www.win.net/phathoc/