BuddhaSasana Home Page
This document is written in Vietnamese, with Unicode Times font


Ý Nghĩa Tích Cực Trong Tư Tưởng Trung Ðạo Của Phật Giáo
Qua Kinh A HÃ m

Thích Nữ Tịnh Trí


A- Dẫn Nhập

Ðạo Phật là nguồn sống và lẽ sống của con người, là cương lĩnh cho nhân thế. Với sứ mạng thiêng liêng cao đẹp ấy, đạo Phật không xa lìa thực thể khổ đau của con người. Ðạo Phật đối diện cùng đau khổ, tìm ra những phương thức linh diệu diệt trừ đau khổ, đem lại sự an vui hạnh phúc cho nhân thế, giúp con người xây dựng cuộc sống Chân-Thiện-Mỹ.

Phật dạy: "Phật pháp tại thế gian, không ngoà i thế gian mà giác ngộ. Nếu lìa thế gian để tìm cầu Bồ Ðề, không khác nà o người đi tìm lông rùa sừng thỏ, vì đó là việc không bao giờ có" (Phật pháp tại thế gian, bất ly thế gian giác, ly mịch Bồ Ðề, cáp như tầm thố giác - Bảo đà n Kinh). Ðạo Phật ra đời để phụng sự con người, rời con người đạo Phật hết sứ mạng.

Tinh thần cao đẹp ấy đã thể hiện trong suốt cuộc hà nh trình hoằng pháp độ sanh của Ðức Phật. Ngà i chỉ nói: Khổ và Con đường Diệt khổ ..

Quả thật vậy, cuộc sống con người vẫn mãi trôi lăn trong khổ đau triền miên. Những thất vọng, chán chường mâu thuẩn và bi kịch vẫn thường diỠn ra trên sân khấu cuộc đời. Kiếp người là phù du, tạm bợ. Nhưng từ ngà n xưa vẫn chưa có bậc xuất thế nà o tìm ra con đường thoát khỏi khổ đau của sanh, già , bệnh, chết. Sự xuất hiện của Ðức Phật trên cõi đời nà y đánh dấu một bước ngoặt trọng đại. Ngà i đã tìm ra con đường giải thoát cho bản thân mình và cho tất cả chúng sanh. Ngà i đã thật sự mở ra cánh cửa bất tử, vén lên bức mà n vô minh và từ đó những ai thực hà nh lời dạy của Ngà i, đều có thể thoát khỏi sanh tử luân hồi, chứng quả Bồ đề Niết Bà n. Ðây là mục đích tối hậu của người học Phật. Dù trên bất cứ bình điện nà o, góc độ nà o thì bản chất của nó vẫn là một, như nước trăm sông đều đổ về biển cả và thuần một vị đó là vị mặn. Cũng vậy, giáo lý của chư Phật, dù nhiều vô lượng, nhưng chỉ có một vị đó là vị giải thoát.

Tuy nhiên tùy căn cơ từng hạng người mà Ðức Phật thuyết pháp và sự tiếp nhận của nhân sinh phát triển không đồng, nhưng rồi cuối cùng cũng đều đạt đến mục đích cứu cánh an lạc. Ðây chính là điểm nhất quán trong đạo Phật.

Kinh A Hà m là một hệ thống giáo lý căn bản ấy. Từ hệ thống giáo lý căn bản nà y mà triển khai và phát triển đến mức độ cứu cánh viên mãn. Dựa trên nền tảng giáo lý A Hà m, chúng ta có thể khẳng định rằng toà n bộ hệ thống kinh tạng của Phật giáo nói chung và A Hà m nói riêng đều có tính nhất quán nhằm đưa đến đích cuối cùng của đời sống phạm hạnh là đoạn trừ tham ái, chấp thủ, vô minh, giải thoát hết thảy lậu hoặc và hướng nhân loại thẳng tiến về Niết Bà n, an lạc.

Song, muốn đạt đến đích an lạc nà y, chúng ta phải thực hà nh theo phương pháp của Ðức Phật chỉ dạy - phương pháp nà y là một hệ thống giáo dục thực tiỠn về mở mang tâm trí, được thế giới biết đến từ 25 thế kỷ qua, chứ không phải là một phương pháp trừu tượng, suy tưởng hay siệu hình. Phương pháp nà y cũng được gọi là con đường Trung đạo, con đường chính đáng của đời sống, một hệ thống triết lý đạo đức, một phương pháp tự mình thực hà nh lấy, được công nhận là con đường giải thoát và hữu lý. Phương pháp nà y dạy chúng ta 3 điều: không là m điều xấu, sẳn sà ng giúp đỡ người khác và giữ tâm trí thanh tịnh - là nh mạnh.

Chủ đề nà y rất có ý nghĩa và thực tiỠn. Tuy nhiên rất khó khăn thực hà nh những điều nà y. Lý do là vì nhược điểm cố hữu của con người. Hạnh kiểm của con người giữ 1 vai trò quan trọng trong đường lối sống. Ðức Phật đã có lần nói: "Giáo lý của ta không phải là để đến mà tin theo, mà là để thực hà nh." Ðiều nà y khuyến khít người ta nghiên cứu tường tận giáo lý của Ngà i để tự suy xét nên hay không nên chấp nhận giáo lý nà y. Không một ai bị đòi hỏi đến để chấp nhận lối sống nà y mà không trước hết hiểu thấu giáo lý của Ngà i.

Nhận chân được giá trị hữu ích bất tư nghì về lời dạy của Ngà i, cũng như phương pháp thực hà nh qua kinh A Hà m, và nhất là hiện nay, áp dụng và o cuộc sống hiện đại, có thể được xem như là cương lĩnh một phần lớn đời sống của nhân loại.

B. Nội Dung

B.I- Lịch Sử Kinh A Hà m

1. Lịch sử kiết tập:

Kinh Tạng A Hà m là một bộ kinh chủ yếu của phái nhất thiết hữu bộ (Sarvativada) gọi tắt là hữu bộ. Có thể nói kinh Tạng A Hà m là hậu thân của kinh Tạng nguyên thủy bằng tiếng Magadhi. Tạng nà y được hình thà nh trong kỳ kiết tập lần thứ nhất xảy ra và o năm 554 trước Tây lịch. Ngay từ buổi đầu mới hình thà nh, chỉ là truyền tụng (Samgiti) chưa được trở thà nh văn bản bằng ngôn ngữ.

Về sau trên bước đường phát triển phái hữu bộ tách ra khỏi phái Thượng tọa bộ và o khoảng thời gian 300 năm sau Phật Niết Bà n (đầu thế kỷ thứ 3 trước Tây lịch) và về lập cứ ở vùng Tây Bắc Ấn Ðộ, bao gồm hai trung tâm Mathuara (Ma-thâu-la) và Kashimir (Kế Tân). Nhưng mãi đến thế kỷ thứ nhất sau Tây lịch dưới thời vua Asoka (A Dục Vương) kinh Tạng A Hà m mới được ghi chép bằng ngôn ngữ Bắc Phạn (Sanskrit) do công lao đóng góp của người Balamôn theo đạo Phật tên là Panini. Như vậy kinh Tạng A Hà m được hình thà nh bằng văn tự sau kinh tạng Pali hai thế kỷ, vì tạng Pali được hình thà nh và o cuối thế kỷ thứ ba trước Tây lịch dưới thời vua Asoka.

Về nội dung ngay từ ban đầu kinh Tạng A Hà m được ghi chép thà nh 5 bộ: Trường, Trung, Tạp, Tăng nhất và Tiểu A Hà m tương đương với 5 bộ Pali: Trường, Trung, Tương Ưng, Tăng chi và Tiểu bộ kinh.

Tuy nhiên, sau một thời gian phát triển, tinh thần cởi mở và dung hòa, những nhà cấp tiến của hữu bộ đã kết nạp thêm một số kinh của đại chúng bộ từ Vesaly ở Ðông Nam truyền lên, chủ yếu đưa và o Tiểu bộ A Hà m. Do đó đã nâng số kinh lên cả hà ng chục kinh, vì vậy Tiểu A Hà m không còn giữ nguyên hình thức và nội dung nữa, mà phải đổi thà nh danh từ mới là Tạp A Hà m, rồi chuyển sang Bồ Tát Tạng. Ðó là tiền thân của kinh Tạng Ðại Thừa về mặt lịch sử.

Khi đó những nhà bảo thủ của hữu bộ tự động rút ra khỏi Tạp A Hà m một số kinh thuộc Tiểu phẩm A Hà m, tạo thà nh những kinh biệt dịch như Pháp Cú, Sinh kinh, Duyên kinh, tạp thí dụ v.v...gọi là A Hà m Bộ Hạ. Ðó là lý do tại sao kinh A Hà m ngà y nay còn 4 bộ. Trái lại kinh Pali từ ngà y kiết tập đến nay vẫn giữ nguyên hình thức, nội dung và số lượng. Ðó là điểm đặc biệt về mặt lịch sử của kinh tạng Pali và A Hà m.

2. Lịch sử phiên dịch:

Phật giáo được truyền sang Trung Hoa và o đầu thế kỷ thứ nhất năm 67 sau Tây lịch, dưới thời Hán Minh Ðế. Nhưng mãi đến đầu thế kỷ thứ 5, một phần lớn kinh Tạng chữ Hán mới được dịch từ Phạn sang chữ Hán, trong đó có 4 bộ A Hà m.

  • Trường A Hà m: Do Ngà i Phật Ðà Da Xá và Ngà i Trúc Niệm dịch trong hai năm đầu sau Tây lịch tại kinh đô Trường an, đời Dao Tần và được sá»± cộng tác cá»§a Ngà i Ðạo Hà m ghi chép. Ðồng thời đứng ra tổ chức phiên dịch là Hiệu Úy Ðạo Sùng, gồm 22 quyển.
  • Kinh Trung và Tăng Nhất A Hà m: Do Ngà i Tăng Già Ðề Bà dịch trong 2 năm 397 - 398 sau Tây lịch, tại kinh đô Kiến Khương nhà Ðông Tần. Với sá»± cộng tác cá»§a Tăng Già La sát về mặt Phạn ngữ và do Ðạo Từ ghi chép. Ðồng thời vị Phật tá»­ á»§ng hộ tích cá»±c trong công tác phiên dịch nà y là Thượng ThÆ¡ Vương Nguyên Lâm.
  • Trung A Hà m có 60 quyển, 18 phẩm.
  • Kinh Tăng Nhất có 51 quyển, 52 phẩm chia là m 11 pháp.
  • Kinh Tạp A Hà m, do Ngà i Cầu Na Bạt Ðà dịch và o đời Lưu Tống, có 2026 kinh.

3. Ý nghĩa danh từ A Hà m

A Hà m là danh từ chung chỉ cho 4 bộ A Hà m. Ðó là Trường, Trung, Tăng Nhất và Tạp A Hà m.

A Hà m là dịch âm của chữ Agama. Có 2 nghĩa chính.

Vô Tỷ Pháp: theo hữu bộ, tức Phật pháp nói trong thời A Hà m là vô thượng, không có một pháp nà o có thể so sánh được, không có một pháp hơn nữa.

Pháp Quy: (Theo Ngà i Thích Tăng Triệu - Trường An), Pháp Quy là căn nguyên của mọi điều thiện, là khu rừng tóm thâu tất cả, vừa uyên bác, vừa phong phú, vừa bao la, thuyết minh dấu tích của hiền ngu, tội phước, phân tích về nguyên do chân ngụy, dị đồng, ghi lại những việc thà nh bại xưa nay, bao hà m tất cả vạn loà i đất trời, đạo do đây mà phát khởi, pháp do đây mà tồn tại. Ví như biển cả, trăm sông đều đổ dồn về, cho nên gọi là Pháp Quy.

Sau khi thà nh đạo qua hai tuần đầu giảng kinh Hoa Nghiêm, Ðức Phật đã thuyết giảng suốt 12 năm liền kinh A Hà m. Nội dung giáo lý A Hà m, Ðức Phật chú trọng phá trừ ngã chấp, diệt tham ái và chứng quả Bồ Ðề Niết Bà n.

B.II- Giới Thiệu Sơ Lược - Ý Nghĩa Tích Cực Trong Tư Tưởng Trung Ðạo Của Phật Giáo Qua Kinh A Hà m

Mắt Thế Tôn nhìn xa ngoà i muôn dặm
Lòng Thế Tôn như biển thẳm xanh mà u
Tay hiền từ đốt đuốc giữa đêm thâu
Với pháp nhũ đầy và ng châu cảm mến!

Ðức Phật - Ðấng đạo sư muôn và ng tôn kính. Người đã tìm ra "ánh đạo và ng" như vầng dương rực rỡ chiếu soi cõi ta bà vô minh ô trược. Nếu thái tử Sĩ-Ðạt-Ða từ thuở ấy mãi vui hưởng dục lạc trong cung và ng điện ngọc, bên cạnh tình yêu mãnh liệt của hoà ng phụ với đôi tay luyến ái của hiền thê... ắt hẳn Ngà i không có gì để ta quy kính. Nhưng, hạnh phúc thay! Sớm nhận chân được thực tại của cuộc đời đầy dẫy những khổ đau bởi sanh, già , bệnh, chết, nhìn thấy tướng vô thường đang bủa vây cuộc sống, Thái tử đã rời bỏ kinh đô lên đường tìm chân lý. Sau cuộc chiến đấu phi thường kéo dà i hơn 6 năm, trải qua bao sự ép xác khổ hạnh, vẫn không tìm ra con đường thoát khổ, Ngà i đã từ bỏ pháp môn nà y, tự mình và o rừng sâu, không một sự hổ trợ từ bên ngoà i, không được hướng dẫn bởi một năng lực siêu phà m nà o, cô độc một mình, chỉ nương và o trí tuệ, sự nổ lực của tự thân với sự quyết tâm cao độ, Ngà i đã đoạn toà n bộ tham, sân, si, đoạn tận khổ uẩn. Cuối cùng, Ngà i đã chứng đạt được thực tướng của các pháp và đã trở thà nh một vị Phật, một Ðấng toà n giác.

Sau khi chứng ngộ, không an hưởng pháp lạc một mình, Ngà i đã lên đường chuyển bánh xe pháp độ quần sanh. Chân lý mà Ngà i đã thực chứng và giảng dạy cho chúng ta hà nh trì, ấy là con đường "Trung đạo".

Giờ đây, chúng ta hãy đi và o tìm hiểu ý nghĩa Trung đạo đã được Ngà i thuyết giảng qua kinh Tạng A Hà m.

Khái Quát Về Ý Nghĩa "Trung Ðạo"

Trung đạo, nếu gọi đủ là Trung đạo duyên khởi (Majjhima Patipana). Ðứng về mặt triết lý là con đường không tuyệt đối hóa một vấn đề gì, ly khai tất cả những ý niệm chấp trước, không chấp hữu và không chấp vô, không thái quá và không bất cập, ly khai các cực đoan và phiền não, tự tại vô ngại, giải thoát giác ngộ, chứng quả Niết Bà n nên gọi là Trung đạo.

Tuy nhiên trên quan điểm và tư tưởng của kinh A Hà m Trung đạo mang tính cách thực tế. Nói như thế có nghĩa là Trung đạo được xác định như là phương pháp thực hà nh đặc biệt, siêu việt nhị nguyên, đối đãi, thể nhập chân lý tuyệt đối, nhưng vẫn hiện hữu tùy duyên linh động trong mọi thời gian, không gian và sự hiện hữu của tự thân đối với tha nhân và các pháp.

Do đó, chúng ta có thể khẳng định rằng: Phật giáo đi ngược chiều với phần đông các tôn giáo khác, khi khai quang con đường "Trung đạo" và truyền bá giáo lý lấy nhân bản là m trung tâm, thay vì giáo điều lấy thần linh là m trụ cột. Như vậy Phật giáo hướng nội và nhằm và o sự giải thoát từng cá nhân, giáo pháp phải được tự mình chứng ngộ. Ðức Phật đã nhiều lần khuyên hà ng môn đệ:

"Các con phải chuyên cần tinh tấn
Các đấng Như Lai chỉ là người vạch ra con đường" --
(Pháp Cú câu 176)

"Các con hãy tự mình tự cải thiện, tự vươn lên,
Và mở lòng đón nhận giáo huấn của Ðức Phật.
Hãy rung chuyển đạo binh của tử thần,
Như thớt tượng rung chuyển một mái chòi tranh" --
(Tạp A Hà m I, 156)

Lần đầu tiên trong lịch sử thế giới, Ðức Phật dạy rằng không nên tìm giải thoát bằng cách tùy thuộc nơi một đấng cứu thế, dầu vị ấy là người hay thần linh.

Theo thường, cứu cánh của phần đông nhân loại là tuyệt diệt hoà n toà n, hoặc trường tồn vĩnh cữu. Người theo chủ nghĩa vật chất tin rằng sau khi chết con người hoà n toà n không còn gì nữa, trở thà nh hư vô. Một và i tôn giáo chủ trương rằng mục tiêu cứu cánh chỉ có thể thà nh đạt sau kiếp sống, trong sự hợp nhất với một nhân vật toà n năng, hoặc một sinh lực không thể giải thích hay nói khác đi, một hình thức trường tồn vĩnh cữu.

Phật giáo dạy con người "Trung đạo" mục đích cứu cánh của Ðạo Phật không phải là sự tuyệt diệt, bởi vì không có cái chi trường tồn để tuyệt diệt, cũng không phải sự trường tồn vĩnh cữu để vĩnh viỠn hóa. Mục tiêu cứu cánh của Phật giáo có thể thà nh đạt trong chính kiếp sống nà y.

Qua đây, tư tưởng Trung đạo được lý giải tuần tự theo những vấn đề sau:

(i) Trung đạo - Xa lìa những cực đoan

Như Spinoza viết: "Những gì thường xảy ra trong đời sống và được con người quí chuộng, xem là tốt đẹp nhất, có thể thu gọn là m 3 điều: già u sang, danh thơm tiếng tốt và tham vọng. Ba điều ấy là m cho tâm vọng động đến độ khó lòng có thể nghĩ đến gì tốt đẹp hơn" (Phật giáo nhìn toà n diện).

Quả vậy, thói quen người ta quan niệm rằng thỏa mãn hết những dục vọng là hạnh phúc tốt đẹp nhất. Trong sự thỏa mãn dục lạc chắc chắn rằng có hạnh phúc nhất thời trong khi mơ ước, mong đợi, lúc thọ hưởng và khi hồi nhớ lại những khoái lạc vật chất tương tự. Nhưng hạnh phúc ấy quả thật huyền ảo và tạm bợ.

Ðể minh họa vấn đề nà y, chúng ta hãy nhìn lại quá khứ Ðức giáo Chủ của chúng ta, khi còn là một thái tử, nếm đủ mùi khoái lạc vật chất ở đời, như Kinh Trung A Hà m đã diỠn tả:

"...Chính ta ngà y trước, khi chưa xuất gia học đạo, là ra đi từ chỗ ưu du, từ chỗ thung dung nhà n nhã, từ đời sống cực kỳ êm dịu..." -- (Phẩm Ðại - Kinh Nhu Nhuyến)

xung quanh Ngà i nà o là gấm vóc lụa là , ăn ngon vật lạ, kẻ hầu người hạ, vợ đẹp con xinh...Thế nhưng Ngà i cho rằng đây chỉ là những khoái lạc nhất thời thôi, tất cả rồi sẽ bị biến đổi, hoại diệt do sức tà n phá của thời gian. Sống trong nhung lụa mà Ngà i cho là phiền não đã rà ng buộc. Vì thế, Ðức Như Lai nhận định rằng:

"...Chính ta phải chịu sanh già bệnh chết, phiền não và ô nhiỠm. Tại sao vẫn mãi mê chạy theo những điều mà bản chất cũng còn như vậy. Vì chịu sanh lão bệnh tử, phiền não và ô nhiỠm, ta đã nhận thức sự bất lợi của những điều ấy. Hay ta thử đi tìm cái chưa thà nh đạt, cái tối thượng và tuyệt đối, chu toà n là Niết Bà n." -- (Tăng Nhất A Hà m - phẩm I - trang 145)

Cũng một đoạn kinh khác trong kinh Trung A Hà m III của kinh Nhu Nhuyến có đoạn diỠn tả về sự băn khoăn và hối hận của thái tử khi đang còn hưởng thọ dục lạc.

"...Phà m phu ngu si không đa văn, vì chưa tật bệnh nên tự cao, tự phụ, phóng dật, rồi do lòng tham dục mà sanh si ám, không tu tập phạm hạnh. Phà m phu ngu si không đa văn, vì còn trẻ trung nên tự cao, tự phụ, phóng dật, rồi do lòng tham dục mà sanh si ám, không tu tập phạm hạnh. Phà m phu ngu si không đa văn, vì còn thọ mạng nên tự cao, tự phụ, phóng dật, rồi do lòng tham dục mà sanh si ám, không tu tập phạm hạnh..."

Nhận định rõ rà ng như thế nên giữa đêm khuya Thái tử rời bỏ "ngục và ng" dấn thân tìm chân lý trải qua 6 năm trời suy tư và thực nghiệm bao phương pháp hà nh đạo của phái cực đoan. Ngà i đã đem hết ý chí mạnh mẽ như thác đổ, vững chắc như núi đồi để thắng đoạt những sự rà ng buộc của xác thịt, không kể bao nổi khổ hạnh đến cùng độ của hà ng tu sĩ khổ hạnh. Ngà i ăn ít dần, nhịn đói, chịu khát, chỉ dùng một hạt mè độ nhật. Tấm thân vương giả có xá chi gió bụi của núi rừng cô tịch hoang vu. Yên tĩnh và tham thiền! Ngà i đã từng phấn đấu với thời gian và khắc phục mọi hoà n cảnh, nhiều khi quên cả bản thân mình, tất cả tâm trí đều chuyên chú suy tư vấn đề "giải thoát con người và giải thoát tâm linh" mong dịu xuống tiếng than đau thương của trần gian đang dãy dụa!

Nhưng chưa tìm được ánh sáng tế độ chúng sanh thì sức lá»±c đã mòn mõi, để rồi một hôm trên con đường tìm đạo, Ngà i đã quî xuống bên lề đường.

Ôi! đời đã đau đớn lắm rồi, sao ta còn cố là m thêm đau đớn nữa. Ngà i nghĩ rằng: "Người hà nh đạo cũng như dây đà n. Dây đà n quá cao sẽ đứt và nhạc sẽ bay. Dây đà n quá thấp sẽ câm và nhạc không lên. Hãy dùng cây đà n dây không quá cao cũng đừng thấp quá. Hà nh đạo cũng vậy, quá sướng hay quá khổ, không phải lối tu hà nh chân chính, vì thân thể khoái lạc lắm thì tâm hồn đam mê, nhưng hình hà i khổ cực thì tâm hồn bị rối loạn. Con đường đi đến giải thoát phải xa lìa hai thái cực ấy! Giữ mực điều hoụa thì đạo tất thắng". Một tâm hồn trong trắng thanh cao, một trí tuệ minh mẫn phát triển ở một thân thể cường tráng và thanh tịnh. Người cầu đạo cần phải phát huy trí tuệ mới mong giải thoát và giác ngộ" (Lược trích Trung A Hà m)

Sau những phút suy tư, Ngà i cho rằng: "Dầu các đạo sĩ hay các nhà tu khổ hạnh trong quá khứ đã chịu những cảm giác nhức nhối, đau đớn dữ dội hay xót xa thế nà o thì đến mức nà y là cùng, không thể hơn. Tuy nhiên, đã trải qua bao nhiêu khắc khổ khó khăn và đau đớn mà ta không đạt được điều chi tốt đẹp, xứng đáng với sự giác ngộ cao thượng và trí tuệ vượt hẳn những trạng thái của loà i người. Hay là còn con đường nà o khác dẫn đến chứng ngộ cao thượng chăng?" (Trung A Hà m 36 - quyển I) Từ đó, tự bản thân kinh nghiệm, Ngà i đã nhận thức chắc chắn rằng lối tu khổ hạnh không thể đem lại lợi ích mặc dù các triết gia và các tu sĩ thời bấy giờ quả quyết rằng đó là nếp sống tối cần thiết để đạt đến cứu cánh, thấy rằng khổ hạnh chỉ là m giảm suy trí thức và mệt mõi tinh thần Ngà i liền cáo chung phương pháp hà nh đạo khổ hạnh sai lầm, cũng như trước kia từ bỏ lối sống lợi dưỡng chỉ là m chậm trỠtiến bộ đạo đức, tự chọn cho mình con đường độc lập, một phương tiện và ng son và cuối cùng đã tìm ra được con đường Trung đạo dung hòa giữa hai cực đoan trên và trở thà nh đấng Toà n Giác.

Ngay trong bà i pháp đầu tiên, Ðức Phật đã truyền bá con đường Trung đạo mà chính Ngà i đã khám phá và cũng là tinh hoa trong giáo lý của Ngà i.

Trước nhất, Ðức Phật khuyên 5 vị đạo sĩ khổ hạnh nên xa lánh 2 lối tu cực đoan là lợi dưỡng và khổ hạnh, vì cả hai không thể dẫn đến trạng thái tịch tịnh. Chính câu Phật ngôn đầu tiên đã được tuyên bố:

"Nà y Chư Tỳ kheo, có hai cực đoan mà người tu sĩ không nên thực hà nh. Thế nà o là hai?

Một - Lợi dưỡng dỠduôi trong dục lạc là thấp hèn thô bỉ, phà m tục, không xứng phẩm hạnh của bậc Thánh nhân, không liên hệ đến mục đích giải thoát.

Hai - Ép xác khổ hạnh là đau khổ, không xứng phẩm hạnh của bậc Thánh nhân và đưa đến tổn hoại.

Con đường Trung đạo, nà y chư Tỳ kheo mà Như Lai đã chứng ngộ tránh xa cực đoan, đem lại pháp nhãn và tri kiến, đưa đến tĩnh lặng, liỠu ngộ, toà n giác và Niết Bà n." -- (Kinh Chuyển Pháp Luân)

Ðức Phật mô tả hai cực đoan nà y là thấp hèn thô bỉ, phà m tục, không xứng phẩm hạnh của bậc Thánh nhân và vô bổ, không nên hiểu lầm rằng như thế có nghĩa là Ðức Phật đã rút và o rừng sâu mà không thọ hưởng đời sống-Ngà i không đến nổi hẹp hòi như thế.

Dầu người sai đắm nhục dục có ảo kiến như thế nà o, đối với ai biết điềm tĩnh, suy tư, khoái lạc vật chất quả thật là ngắn ngủi, không khi nà o được thỏa mãn trọn vẹn và chỉ đưa đến hậu quả không vui. Ðề cập đến các hạnh phúc ở trần gian, Ðức Phật dạy rằng thâu thập tà i sản và hưởng thụ tà i sản đã thâu thập, là hai nguồn vui thích của người phà m tục. Tuy nhiên bậc xuất gia chân chánh không khi nà o tìm thích thú trong việc chạy theo những khoái lạc tạm bợ và nhất thời ấy.

Trái hẳn với lợi dưỡng, cực đoan kia là một nổ lực kiên trì trong lối tu khổ hạnh. Phê bình cực đoan nà y, Ðức Phật dạy rằng đây là một phương pháp đau khổ, không xứng phẩm hạnh của bậc Thánh nhân và vô bổ khác với cực đoan kia mà Ngà i mô tả là thấp hèn, thô bỉ và phà m tục. Thế thường chỉ có những đạo sĩ thà nh thật quyết tâm từ bỏ mọi luyến ái về nhục dục ngũ trần mới khép mình và o cương kỷ đau khổ nà y để thà nh đạt sự giải thoát hoà n toà n ra khỏi những phiền não của đời sống. Ðức Phật đã bản thân kinh nghiệm lối tu đau khổ ấy và miêu tả nó là vô ích, chỉ là m gia tăng thêm đau khổ.

Qua đây, chúng ta thấy cả hai quan niệm cực đoan trên vô tình đưa con người và o vòng tội lỗi, sai lầm và sa đọa. Vì do tham vọng của con người mù quáng đã gây nên sân hận và tất cả những đau khổ khác. Kẻ thù của toà n thể thế gian chính là lòng tham dục, do đó tất cả mọi điều xấu xa đến với con người, khi bị trở ngại của một nguyên nhân nà o thì tham dục nà y biến thà nh sân hận, và rồi từ đó con người sa và o mà n lưới của chính mình đã giăng bằng khát vọng mong tìm khoái lạc, giống như con nhện trong mà n lưới của nó. Hơn thế nữa, một khi con người hưởng thọ dục lạc đến tột cùng thì tham, sân, si phát khởi, mà hỠtham phát khởi thì nó sẽ xây dựng lên một nghiệp cảm nặng nề khiến cho con người mãi trầm luân trong sanh tử.

Ðể ngăn ngừa lòng tham, trấn áp mọi cám dỗ vật chất bên ngoà i, Ðức Phật dạy chúng ta phải biết thiểu dục tri túc. Như trong kinh Tượng Tích Dụ - Trung A Hà m III thuật lại lời dạy của Ðức Phật về sự đoạn trừ tham dục như sau:

"Con người sống phải hết sức tri túc, áo chỉ cốt che thân, ăn chỉ cốt để nuôi thân, du hà nh đến đâu phải mang theo y bát, đi không luyến tiếc, cũng như con nhạn mang theo đôi cánh bay liệng trong không".

Quả đúng thế chính vì sự biết đủ là già u sang, hạnh phúc và yên ổn. Người biết đủ thì nằm trên đất cũng thấy an vui, người không biết đủ thì ở thiên đường cũng không thỏa mãn. Không biết đủ thì già u mà nghèo, biết đủ thì nghèo mà già u." -- (Kinh Di Giáo)

Chẳng những thế, Ðức Phật tiếp tục dạy về sự đoạn tận tham dục bằng cách "Thủ hộ các căn, thường niệm sự khép kín, niệm tưởng muốn minh đạt, thủ hộ niệm tâm mà được thà nh tựu, hằng khởi chánh tri, khi mắt thấy sắc thì không chấp thủ sắc tướng, thì không đắm sắc vị, vì lẫn tránh mà thủ hộ nhãn căn, trong tâm không sanh tham lam, ưu não, cũng vậy đối với tai, mũi, lưỡi, thân, khi ý biết pháp thì không chấp thủ các pháp tướng, không đắm pháp vị, vì lẫn tránh và thủ hộ ý căn, trong tâm không sanh tham lam ưu não" -- (Tượng Tích Dụ 391-392)

Như thế có nghĩa là muốn đoạn trừ lòng tham lam, chúng ta phải thu nhiếp lục căn (Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý), khi tiếp xúc với lục trần (Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) để chúng không bị ô nhiỠm, đắm trước và o nơi ấy, từ đó mới mong thoát khỏi những đau khổ do chúng gây ra.

Mặt khác, Ðức Phật dạy do tu khổ hạnh ép xác, tức do nhận thức sai lầm, thuộc về tà kiến chi phối nên cũng tạo thà nh một nghiệp cảm, do đó cũng đưa con người mãi trầm luân đau khổ mà không thể giải thoát được, không bao giờ hy vọng được chứng Thánh quả.

Kinh Tạp A Hà m III, có đoạn nói về người tu khổ hạnh chẳng hợp pháp, chẳng chân chánh, phi nghĩa, không lợi ích gì:

"Ðó là người tự là m khổ mình, sống khắc khổ, người ấy tu đủ thứ khổ hạnh, tinh cần cố gắng ở yên một nơi, nhưng người ấy hiện tại chẳng lìa được nhiệt não, cũng chẳng được pháp hơn người, chẳng trụ an lạc tri kiến thắng diệu" -- (Kinh số 912 - trang 286)

Cuối cùng chẳng đem lại được gì cho bản thân và nhân sinh cả. Bằng cách hà nh động sáng suốt, ly khai hai thái cực trên, sống tùy thuận và o chân lý tuyệt đối. Chân lý tuyệt đối ấy được thể nghiệm ngay sự sinh hoạt hằng ngà y, trong bốn oai nghi, trong sự ăn mặc ngủ nghỉ, các động tác bình thường theo quy luật tự nhiên và quy luật thường nghiệm. Như vua Trần Thái Tông đã nói:

Ở đời vui đạo hãy tùy duyên
HỠđói thì ăn mệt ngủ liền
Của báu đầy kho thôi tìm kiếm
Ðối cảnh vô tâm chẳng hỏi thiền

(ii) Trung đạo là đoạn trừ các phiền não

Phiền não là những tâm lý nóng bức, bực bội, ô nhiỠm chấp dính và o mọi hiện tượng xảy ra trong mọi hoạt động tinh thần, tình cảm của ta. Nó là m cản trở đường đi tới đạo nghiệp, từ góc độ thanh tịnh và giải thoát mà nhìn xuống hệ thống tâm lý ấy thì đặt cho nó tên chung ta phiền não, là tung bụi mù là m đui mù tâm ngời sáng như những đám mây phong hủi là m đen tối các vì sao. Trong Tượng Tích Dụ (Trung A Hà m III) đề cập đến đích danh năm tâm lý phiền não là : Tham dục, sân nhuế, hôn trầm thụy miên, trạo hối và nghi hoặc.

Ðây là những trạng thái tâm lý xấu xa là m ô nhiỠm tâm tánh con người, là m chánh nhân đạo nghiệp hữu lậu. Nó chính là những pháp là m trở ngại và ngăn chặn sự phát triển tinh thần, là những pháp ngăn che các thiện pháp, nhất là thiền định và trói buộc tâm trong vòng bất thiện...Nó hoà n toà n khóa chặt, cắt đứt và ngăn chặn cánh cửa đi và o giải thoát.

Tạp A Hà m II kinh số 706, Ðức Phật dạy:

"Nà y Chư Tỳ kheo, có 5 pháp, có thể là m tối tăm; là m cho không mắt, là m cho không trí, là m cho suy tư kém trí tuệ, chẳng minh, chẳng đẳng giác, chẳng chuyển hướng Niết Bà n. Những gì là 5? Ðó là tham dục, sân nhuế, thùy miên, trạo hối và nghi hoặc. 5 pháp nà y là m cho ta tối tăm, không thấy...chẳng hướng đến Niết Bà n."

Kinh kế tiếp cũng đề cập đến 5 món phiền não như sau:

"Nà y chư vị Tỳ kheo,
Tham dục, sân nhuế cái,
Như năm thứ cái nà y,
Tăng trưởng các phiền não,
Là m che lấp thế gian,
Dính mắc sâu khó độ,
Ngăn che pháp chúng sanh,
Khiến chẳng thấy chánh đạo" --
(Tạp A Hà m - Kinh số 707 - trang 693)

Kinh Tăng Nhất và Kinh Thập Thượng - Trường A Hà m, Ðức Phật cũng như Ngà i Xá Lợi Phất (vâng lời Ðức Phật thuyết pháp cho hội chúng Tỳ kheo) đã đề cập đến 5 pháp cần phải đoạn trừ: "Nà y Chư Tỳ kheo, thế nà o là 5 pháp cần phải diệt trừ? Ðó là 5 triền cái tham, sân, hôn trầm, trạo hối và nghi." Trong A Hà m lại cũng nhấn mạnh:

"Nói đến một đóng bất thiện, nà y Chư Tỳ kheo, nói một cách chân chánh là nói đến 5 triền cái. Thật vậy, nà y Chư Tỳ kheo toà n đống bất thiện tức là 5 triền cái."

Tăng Nhất A Hà m cũng có đoạn nói đến 5 pháp chướng ngại:

"Nà y Chư Tỳ kheo, có 5 chướng ngại, triền cái là m bao phủ tâm, là m yếu ớt trí tuệ, 5 chướng ngại ấy kết hợp với đau khổ và không đưa đến Niết Bà n. Thế nà o là 5? Dục tham, nà y Chư Tỳ kheo là chướng ngại, triền cái là m bao phủ tâm, là m yếu ớt trí tuệ, sân..., hôn trầm thụy miên..., trạo hối..., nghi, nà y Chư Tỳ kheo, là chướng ngại là m bao phủ tâm, là m yếu ớt trí tuệ"

Như vậy, ta thấy hầu như trong tất cả các kinh Tạng A Hà m đều đề cập đến 5 chướng ngại pháp, luôn là m cho tâm ta rối loạn, phiền não, ngăn cản bước tiến của chúng ta, 5 chướng ngại ấy hà nh tướng ra sao mà tai hại đến thế, chúng ta sẽ lần lượt, tìm hiểu để tìm cách đối phó.

a) Tham dục

Bao gồm những hình thức thèm khát, tham ái, khát vọng, ước mong, dục vọng, ham muốn, nóng lòng bám víu, luyến ái, thiên vì...kẻ thù của toà n thể thế gian là tham ái, xuyên qua tham ái, tất cả phiền não đến với chúng sanh, nhân loại bị vướng víu trong cảnh bấn loạn, rối ren. Do sự thấu hiểu rõ rà ng và minh bạch bản chất của tham dục, nguồn gốc của tham dục, sự chấm dứt tham dục và con đường chân chánh đưa đến sự chấm dứt tham dục, ta tự tháo mở, tự gỡ rối và là m cho hoà n cảnh trở nên quang đãng.

Vậy tham dục là gì? Kinh Niệm Xứ - Trung A Hà m III đã nói như sau:

"Nơi nà o có hoan hỷ và thỏa thích thì tham dục bắt nguồn và sinh khởi. Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp là những nơi có tánh cách hoan hỷ và thỏa thích, nơi ấy tham dục bắt nguồn và phát sanh. Khi tham dục bị ngăn cản thì trở thà nh bất mãn và phẩn nộ."

Tham dục ở đây được xem là động cơ thúc dục nằm phía sau một hà nh động của nhân loại mê muội.

"Tham dục sinh sầu ưu,
Tham dục sinh sợ hãi,
Ai thoát khỏi tham dục,
Không sầu, đâu sợ hãi." --
(Phẩm Hỷ ái - Pháp Cú 215)

hay

"Ai sống trong đời nà y,
bị tham ái buộc rà ng,
sầu khổ sẽ tăng trưởng,
như cỏ bị gặp mưa" --
(Phẩm Tham ái - Pháp Cú 335)

Trong Kinh Khổ Ấm -Trung A Hà m, Ðức Phật cũng đã mô tả một cách rất sống động về tai hại của tham ái.

"Quả thật vậy, nà y Chư Tỳ kheo, do tham ái vua nà y gây chiến với vua kia, hoà ng tử với hoà ng tử, tu sĩ với tu sĩ, dân với dân, mẹ gây gỗ với con, con gây gỗ với mẹ, cha cãi với con, con cãi với cha, anh chị em với nhau, bạn bè với bạn bè...Họ già nh giật bêu xấu nhau, thậm chí còn thù nghịch nhau, dùng các binh khí giết hại lẫn nhau, để sau đó nhận lấy hậu quả kẻ chết, người sợ hãi, rồi sanh ra hối hận - đau đớn khốn cùng."

Như thế chính tham ái là sự tăng trưởng ác hại, rỠcủa tham ái ăn rộng và ăn sâu. Tác hại của nó "đạt cho kỳ được và nắm chắc lấy". Tham dục quả là một năng lực vô cùng hùng mạnh, luôn luôn ngủ ngầm trong mỗi người và nguyên nhân chính của phần lớn các điều bất hạnh. Chính tham dục thô kịch hay vi tế, là m cho ta bám víu với mọi hình thức.

Tham ái không chỉ là một thự thể tự có, không phải là bản chất hay lẽ sống của con người, mà là kết quả hiện hà nh của một chuỗi vận hà nh của vô minh. Vì thế tham ái mang bản chất của vô minh và đau khổ. Cá nhân không thể tìm kiếm được gì trong thế giới của tham ái, vì nó biến đổi vô thường. Cà ng không thỏa mãn lòng tham con người cà ng lún sâu và o khổ lụy, cà ng khổ con người cà ng nắm giữ tham ái, đây là sự hiện hữu của chấp thủ. Nội dung của chấp thủ gồm có:

- Nắm giữ kiến giải, nhận thức gọi là kiến thủ

- Nắm giữ các giới điều sai lầm gọi là giới cấm thủ

- Nắm giữ luận chấp về ngã gọi là ngã luận thủ

- Nắm giữ điều ưa thích và nắm giữ lòng ưa thích gọi là dục thủ

Cái thái độ chấp thủ ấy đã là nguyên nhân của các cuộc xung đột, đấu tranh, cạnh tranh, chiến tranh và đổ xuống cuộc đời bao nhiêu tang tóc.

Tất cả những đau khổ ấy là hậu quả của lòng tham không đáy. Cho nên chúng ta hãy lắng nghe tiếng nói khẩn thiết của chính Ðức Phật để chận đứng bước tiến tai họa của tham dục "Hãy đà o sâu và bứng tận gốc rỠcủa tham dục" chỉ bằng cách ấy ta mới có thể tự cứu ta không còn cách nà o khác.

Ta có thể nói rằng trong lịch sử tôn giáo, chính Ðức Phật là người đầu tiên giải thích nguồn gốc của đau khổ, mà không nhắc đến một nhân vật ngoại lai hay siêu phà m: "Những nổi khổ đau của tôi là do hà nh động của tôi, và hà nh động của tôi là do tham ái của tôi" (Bản dịch Phạm Kim Khánh 2026 - 29). Khi nà o vắng mặt tham ái, tất nhiên cũng không có "tham dục duyên theo ngũ trần" và nơi nà o không có tham dục, nơi ấy tất cả phiền não cũng lụi tà n. Tham dục cà ng mạnh, đau khổ cà ng sâu đậm, khao khát bao nhiêu, phiền não bấy nhiêu. Sầu muộn là món nợ mà nhất định ta phải trả khi đã nuôi dưỡng tham dục.

Tham là vấn đề hà ng đầu của con người, bởi con người dỠgặp nhất, nên trước khi nhập Niết Bà n, Ðức Thế Tôn đã nhắc nhở: "Như thịt thúi nơi ung nhọt...Nếu bệnh nhân không sớm lo chạy chữa, để lâu sanh trùng độc thì phải chết...phà m phu phải sớm lo điều trị tham ái, nếu chần chờ không tinh tấn thì sẽ bị đọa..." (Hán tạng - Kinh Ðại Niết Bà n - phẩm Thanh Hạnh - bản dịch của HT Thích Trí Tịnh)

b) Sân nhuế

Sân nhuế hay oán ghét, ác ý, sân hận, hay bực mình khó chịu. Sân hận là mặt trái của tham ái bởi sân hận là lấp nghĩa của tham ái. Do tham lam mà không toại nguyện hoặc bị ngăn trở liền nổi sân. Một khi nổi sân thì mọi tội ác nà o cũng dám là m, mọi khổ đau nà o cũng dám tạo. Tất cả sự hung tợn, dữ dằn, ác độc do sân mà phát sinh. Sân có loại bộc phát có loại thầm kín.

Nghe một lời trái tai, thấy một hà nh động không vừa ý liền nổi nóng la ó ầm ĩ là sân bộc phát. Loại sân nà y rất nguy hiểm, song đối phương dỠthấy dỠbiết. Những điều gì mình muốn, bị kẻ khác cản trở, liền nổi giận đỏ mặt, miệng thốt ra lời bất hảo, tay chân quơ múa, toà n thân cử động một cách mất điều hòa. Nếu khi nà y, đối phương nhường nhịn đi thì khả dĩ diệu lại, bằng không thì có cơn ấu đã khó tránh. Một phen nổi sân là một trận bão bùng họa hại hiểm nguy không thể lường trước được. Mọi hiểm nguy họa hại trong đời sống của chúng ta đều do sân mang lại. Người ôm ấp lòng sân là kẻ chứa rắn độc trong nhà , tai họa đến một cách dỠdà ng chỉ trong giây phút.

Có người được sức mạnh dằn ép lửa sân hận bộc phát, nhưng họ lại nuôi dưỡng nó một cách ngấm ngầm. Khi nghe nói trái tai, họ nổi giận và ghim ở trong lòng. Lòng sân nà y thầm lặng mà ác độc vô kể, vì đối tượng không biết được để ngừa đón. Những kẻ có lòng sân thầm kín là con người đầu độc nguy hiểm. Ðây là đống lửa than khó thấy mà lâu tà n. Người ôm lòng sân nà y như ngôi nhà đẹp mà chứa đầy hơi độc. Những kẻ thiếu tinh tế, nhận xét thì hời hợt, không sao tránh khỏi bị hơi độc là m ngạt thở, song hại được người chính mình cũng không an ổn gì. Thế nên sân là mối hiểm họa cho mình, cho người, mọi khổ đau trong đời sống đến muôn kiếp đều do sân gây ra.

Ðằng khác, sân hận nuôi dưỡng sân hận và là m lu mờ trí óc, nếu không kiểm soát kịp thời, những tư tưởng bất thiện nà y sẽ thấm nhuần tâm và che lấp kiến thức, là m cho mù quáng, không thấy rõ sự thật. Nó là m méo mó toà n thể tâm thức và các tâm sở liên hệ, và như vậy gây trở ngại cho ánh sáng chân lý, đóng kín con đường đưa đến tự do.

Tham dục và sân hận đặt nền tảng trên si mê và nằm trong lớp mây mờ vô minh, đỉnh cao điên rồ của chúng ta. Tham, sân, si, chẳng những là m chậm trỠsự tăng trưởng của tâm trí, mà còn là căn nguyên của tất cả mọi xung đột, mọi tranh chấp, và mọi chia rẽ giữa người và người giữa quốc gia nà y với quốc gia khác.

Rõ rà ng sự sân hận vô cùng nguy hiểm, chính vì chúng mà dẫn đến tình trạng rối loạn, bất an trong xã hội và cộng đồng. Kinh Hoa Nghiêm chép: "Nhất niệm sân tâm khởi, bách vạn chướng môn khai" nghĩa là một niệm sân nổi lên thì trăm ngà n cửa nghiệp chướng đều mở ra. Sách Phật chép "Nhất tinh chi hỏa, năng thiêu vạn khoảnh công đức chi sơn." nghĩa là một đóm lửa giận, có thể đốt hết muôn mẫu rừng công đức. Thật vậy lửa sân hận đã cháy bừng lên giữa nhân loại, và đã đốt thiêu không biết bao nhiêu là công lao, sự nghiệp mà nhân loại đã tốn bao nhiêu mồ hôi và nước mắt để tạo nên. Do vậy muốn trừ sân hận, Ðức Phật đã khuyên chúng ta rằng:

"Cỏ dại hại ruộng đồng
Sân hận hại thế nhân
Cúng dường bậc ly hận
Quả phúc thật vô ngần" --
(Pháp Cú - 357)

c) Hôn trầm - Thụy miên

Một trạng thái tâm uể oải, không buồn hoạt động. Ðó không phải là trạng thái nhuể nhoại biếng nhác thuộc về cơ thể, như và i người có chiều hướng nghĩ như vậy, bởi vì, chí đến chư vị A La Hán, bậc toà n hảo là những bậc đã hoà n toà n khắc phục các triền cái đôi khi vẫn cảm nghe cơ thể mệt mỏi. Hôn trầm thụy miên là m cho chúng ta mất đi lòng nhiệt thà nh, kém quyết tâm, rồi tinh thần trở nên ương yếu và biếng lười. Do ảnh hưởng của cặp hôn trầm thụy miên - tâm không thể hoạt động hữu hiệu, ví như miếng bơ quá đặc, dính cục lại, là m cho ta khó trét lên bánh mì, hay như mạch nha dính trên muỗng.

Trạng thái hôn trầm thụy miên là kẻ thù nguy hại của công trình phát triển tâm linh. Trong trạng thái hôn trầm dẫn đến hôn trầm hơn và cuối cùng dẫn đến tâm trạng dửng dưng chai đá. Bẩm tánh mềm yếu như vậy là một chướng ngại nguy hại trên con đường đưa đến chân chánh và tự do. Ðức Phật dạy chúng ta hãy tinh tấn, hãy nổ lực tinh thần mới hy vọng khắc phục được tệ hại nà y. Ngà i từng tuyên bố rằng:

"Nhờ nhiệt tâm cố gắng
Tự chế sống nghiêm trang
Người trí xây hòn đảo
Nước lụt khó ngập trà n"
-- (Pháp Cú - 25)

d) Trạo hối

Hay còn gọi là phóng dật và lo âu. Thông thường tâm con người có lỗi không yên mà bồn chồn lo lắng. Kẻ có tội và người thiếu kiên nhẫn thường bị chướng ngại nà y. Khi mà tâm trở nên phóng dật thì nó giống như bầy ong bị vỡ ổ, cứ vo vo bay quanh quẩn không ngừng và như vậy khó an trụ được. Một cái tâm chao động tức nhiên không thể vắng lặng, chính tình trạng chao động như vậy là một trở ngại trên con đường dẫn đến vắng lặng, con đường hướng thượng. Trạng thái lo âu cũng tai hại dường thế ấy. Khi mà người kia mãi mãi lo âu, hết chuyện nà y đến chuyện khác, hết việc nọ đến việc kia, những việc đã là m xong và những việc chưa là m được và luôn luôn tư lự lo âu về những chuyện rủi may của đời sống thì chắc chắn là tâm người ấy không bao giờ an lạc. Tất cả những tình cảm quấy rầy bực dọc, phiền phức, lo âu và không yên ấy là những chướng ngại cản ngăn không để tâm an trụ.

Người ta thường ăn năn những tội lỗi mà mình đã phạm. Ðức Phật không tán dương những thái độ hối tiếc ấy, bởi vì khi sửa đã rơi đổ xuống đất thì có than khóc mấy cũng không lợi ích gì. Thay vì khóc than, rên rỉ những thiếu sót như vậy, ta nên quyết tâm cố gắng không còn lặp lại những hà nh động bất thiện tương tự trong tương lai. Có người băn khoăn lo lắng vì đã chểnh mãng bỏ lỡ một cơ hội tạo thiện nghiệp, hay đã lãng quên một phận sự. Ðiều nà y cũng vậy, vô ích, là m như thế không khác nà o đứng trên một bờ sông rồi bảo cái bờ bên kia xích lại gần để mình bước qua, thay vì luống công vô ích. Như lo âu về các hà nh động thiện mà bỏ lỡ không là m, hay cố gắng tích cực tạo thiện nghiệp, đó là di huấn của Ðức Phật.

Thay vì:

"Người tạo nghiệp bất thiện
Là m xong sanh ăn năn
Mắt đẩm lệ than rằng
Sẽ chịu quả cay đắng"
-- (Pháp Cú - 67)

thì chúng ta hãy:

"Người tạo được thiện nghiệp
là m xong không ăn năn
hoan hỷ lòng phơi phới
hái quả phút thường hằng"
-- (Pháp Cú - 68)

e) Hoà i nghi

Là nghi ngờ tất cả, không tin nhân quả, nghiệp báo; Các nhà chú giải thích rằng: chướng ngại nà y là tình trạng thiếu khả năng quyết định bất luận một điều gì một cách chắc chắn. Hoà i nghi ở đây có thể chia là m ba phương diện:

Tự nghi: Nghĩa là nghi mình, chẳng hạn như nghe quí Thầy bảo "Tu hà nh sẽ được giải thoát", nhưng lại tự nghi rằng: "Chẳng biết mình tu có được không?" vì lòng do dự nghi ngờ ấy nên không tu

Nghi pháp: Nghĩa là nghi phương pháp mình tu, ví dụ như khi nghe kinh Di Ðà nói "Người chí tâm niệm Phật, từ một ngà y cho đến bảy ngà y, được nhất tâm bất loạn, đến khi lâm chung sẽ được Phật Di Ðà tiếp dẫn sanh về nước cực lạc." Nhưng họ lại nghi ngờ "Phương pháp ấy không biết có đúng như vậy không?" Do sự nghi ngờ ấy mà không tu

Nghi nhơn: Nghĩa là nghi người dạy mình. Như có người dạy rằng: "Là m là nh sẽ được phước, là m ác sẽ bị tội" nhưng lại nghĩ rằng "Chẳng biết người nà y nói có thật không?" Do sự nghi ngờ ấy mà không là m

Như thế, người mà mắc phải các chứng bệnh hoà i nghi bất định, nan y, không nhất quyết một điều gì mình đang là m thì thật rõ là vô cùng tai hại. Và ngoại trừ khi nà o chấm dứt tâm trạng ấy, người kia sẽ còn tiếp tục khổ đau vì nó. Ngà y giờ nà o mà con người còn bị tâm trạng hoà i nghi là m lung lạc tinh thần, như người ngồi trên hà ng rà o, thì đó là một tệ hại tinh thần rất trầm trọng cho công trình trau dồi tâm trí. Ðiều nà y có thể khắc phục được cho bất cứ ai, dầu không phải là Phật tử hay không biết gì đến Tam Bảo.

Năm chướng ngại trên đây là những thủ phạm đại diện tiêu biểu cho cái tâm phiền não ở cõi dục. Một khi tâm đã bị những chướng ngại tai hại trên thấm nhuần, sẽ không thể an trụ một cách tốt đẹp và o bất cứ đề mục nà o có bản chất trong sạch. Ðúng rằng người kia có thể gom tâm và o một đối tượng, với những tư tưởng bất thiện như tham ái, sân hận, si mê...Những thứ đó là tà định. Ngà y giờ nà o mà các bợn nhơ tinh thần hay khát vọng còn tồn tại nơi người nà o thì tư tưởng bất thiện vẫn còn phát sanh nơi người ấy. Như vậy những phiền não từ 5 triền cái là nguyên nhân chính gây ra đau khổ. Tất cả những thống khổ trên cuộc đời, những lo âu phiền toái, những trở ngại tiến đến đích giải thoát đều do 5 thủ phạm nà y. Do đó tác động qua tâm lý con người đưa đến rối loạn cá nhân và xã hội, hay những yếu tố tham nhũng và bất công trong xã hội và những chiến tranh đều nằm trọn trong 5 triền cái. Con người luôn bị năm triền cái bao vây. Do đó trước tiên ta phải tạo cho tâm an lạc, thì mới đem lại thế giới hòa bình vì "Tâm bình thì thế giới bình".

Kinh A Ma Trú - Trường A Hà m II (trang 37) đã nói:

"Diệt trừ 5 triền cái, sẽ được 5 giải thoát:

Như người mắc nợ được thoát nợ
Như người bệnh được là nh
Như người tù được thả
Như người nô lệ được tự do
Như người qua sa mạc được an là nh..."

Ðể chế ngự 5 triền cái nà y, con người cần mở ra một hướng vận hà nh mới cho tư duy qua sự tu tập chánh niệm tỉnh giác, quán sát thấy rõ khi nội tâm có một trong 5 triền cái sanh khởi, hoại diệt ra sao, để chúng không còn sanh khởi nữa...Vì thế, Ðức Phật dạy chúng ta, tu là cần phải thấy rõ tâm mình thế nà o để tìm cách đối trị, tức là cần phải trau đổi và phát triển 5 yếu tố tâm lý là giác, quán, hỷ, lạc, và nhất tâm.

- Giác: là dán áp các tâm sở trên các đối tượng, nhiệm vụ của nó là quất đánh và o đối tượng, dẫn tâm đến đối tượng. Giác là sự xúc phạm đầu tiên của tâm với đối tượng ví như con ong bay đến bông hoa, khi nó muốn theo dõi mùi hương của hoa.

- Quán: là tư duy được đưa lên cao độ có đặc tính và liên tục nhấn mạnh và o đối tượng, nhiệm vụ khiến cho những tâm pháp đều tập trung, như chuyển động của con chim sẽ sử dụng đôi cánh để giữ thăng bằng trên hư không.

- Hỷ: Có đặc tính là hoan hỷ, thích thú đối tượng, tướng của nó là cao hứng. Hỷ là sự hà i lòng vì đã đạt được mục đích. Hỷ có 5 cấp là : Tiểu hỷ, hỷ như chớp nhoáng, hỷ như mưa rà o, hỷ nâng người lên sung mãn, khi hỷ trà n đầy thì thân lạc và tâm lạc.

- Lạc: Là sự hà i lòng, sự hạnh phúc, thỏa mãn là m tăng cường độ các phương tương ứng. Lạc là những kinh nghiệm thực thụ đã đạt được.

- Nhất tâm: là trú tâm trên đối tượng như một ngọn lửa ở một chỗ không có gió, nó là một phần tử của Thiền định, khi đạt được nhất tâm thì trở thà nh định.

Năm thiền chi nà y nếu chúng ta dụng công tu tập thì nó sẽ loại trừ được 5 triền cái:

Giác loại bỏ hôn trầm
Quán loại bỏ nghi
Hyũ loại bỏ sân
Lạc loại bỏ trạo hối
Nhất Tâm loại bỏ tham

Kinh Trung A Hà m III đã nói:

"Nếu một người sống với trí tuệ, tu tập thiền quán từ bỏ các dục lạc và ác bất thiện tâm, sẽ chứng và trú sơ thiền đi cùng với 5 thiền chi là giác, quán, hỷ, lạc và nhất tâm. Năm thiền chi nà y xuất hiện và loại bỏ 5 triền cái là tham, sân, hôn trầm, trạo hối và nghi".

Tuy thế, đối với cách nhiếp phục nà y, chúng ta rất khó thực hiện, đòi hỏi sự nổ lực, quyết tâm diệt trừ tận gốc rỠngũ dục, bởi lẽ nó đã tà ng trữ, thâm nhập và o chúng ta từ "thâm căn cố đế", do đó chúng ta luôn luôn tìm kiếm và ham thích sắc đẹp, tiếng hay, mùi thơm, vị ngọt và sự xúc phạm êm dịu và tránh xa các sắc, thanh, hương, vị, xúc trái ngược. Lòng tham cà ng mạnh, thức cà ng được nuôi dưỡng. Ðây chính là động cơ dẫn đến tái sanh đời nà y đời khác. Khi 5 trần ấy thay đổi thì khởi lên sầu khổ buồn phiền, khó chịu. Ngay cả khi con người đang nắm giữ 5 trần đẹp ấy, thì nổi lo sợ 5 trần biến hoại cũng đủ gây đau khổ, rây rức lòng người. Cả những khi lòng tham ái có mặt đang chờ đợi đón nhận 5 trần đẹp, cũng gây nên những dao động, xao xuyến, lo âu...Ðấy là ý nghĩa của khổ tập đế.

Bị vướng mắc và o tham dục, con người khó thoát ly khỏi dục giới, bởi lúc nà o con người cÅ©ng nghÄ© về mình, là m sao để tôi được đẹp đẽ, già u sang, có địa vị cao..., từ đó họ bất chấp dẫm đạp lên mọi người, chà đạp hạnh phúc quyền lợi cá»§a người khác, và sống là phải tranh thá»§ vì tiền bạc, địa vị...là trên hết, họ cho rằng sống mà thật thà quá là ngu. Với quan niệm nà y, họ tin chắc là đúng, nhưng thật ra chỉ là một tư duy tà kiến do lòng tham dấy khởi, cÅ©ng từ đấy lòng ngã mạn bộc phát. Nếu một ai động đến cái ngã cá»§a họ thì chắc chắn sẽ nổi trận lôi đình, lòng sân nổi dậy kèm theo sá»± đố kî, ganh ghét, keo rít...Cho nên chính tham, tà kiến, mạn, sân, tật, xan, hối...thuộc những tâm sở bất thiện là động cÆ¡ gây ra những áp bức, bất công là m rối loạn xã hội.

Do đó, Ðức Phật đã đưa ra những phương pháp nhằm giải quyết các nguyên nhân gây ra sự bất an, rối loạn ấy. Ðó chính là phương pháp tích cực, vừa thiết thực và trí tuệ. Phương pháp ấy chính là con đường Trung đạo hay chính Bát chánh đạo mà ta sẽ đề cập dưới đây.

(iii) Trung đạo là tu tập Bát chánh đạo

Kinh Tăng Nhất A Hà m (I-80) có đoạn dà i nêu lên sự hạnh phúc của con người có thể thọ hưởng trong nhất thời:

"Xuyên qua giác quan, con người bị trần cảnh thu hút, rồi thỏa mãn trong đó, và bám víu và o đó để thọ hưởng khoái lạc. Ðó là sự kiện hiển nhiên, không thể phủ nhận vì là kinh nghiệm sống. Tuy nhiên trần cảnh mà ta hoan hỷ thỏa thích cả hai đều không bền vững, nó phải thay đổi. Chúng sanh và thế gian mà chúng sanh ấy kinh nghiệm cả hai đều không ngừng chuyển biến, phát sinh rồi hoại diệt. Tất cả đều quay cuồng trong một vòng lẫn quẩn, không có chi vượt thoát ra khỏi trạng thái vô thường biến đổi, và trạng thái vốn bất di dịch. Do bản chất phù du tạm bợ ấy, không có chi thật sự là đáng thỏa thích. Có hạnh phúc nhưng nó chỉ tồn tại nhất thời, rồi tan biến như giọt tuyết rơi, và nhường chỗ cho tình trạng bất toại nguyện, không có trạng thái an nghỉ thật sự trong vũ trụ, mặc dù con người mệt mỏi, có khao khát ước muốn được an nghỉ bao nhiêu có thể tương đối an nghỉ, nhưng tuyệt đối an nghỉ thì không thể tìm ra. Hạnh phúc quả có thật, nhưng chỉ là trạng thái mê hoặc ảo huyền. Mắt vừa thấy thì nó đã tan biến. Ðối tượng mong mỏi không còn đó nữa, khi ta với tay nắm lấy hoặc khi nắm được trong tay rồi thì nó vội tan biến". -- (Bản dịch Phạm Kim Khánh)

Giải pháp cho vấn đề đau khổ, xung đột, bất toại nguyện trong đời sống là Bát chánh đạo mà chư Phật, các đấng Chánh Ðẳng Giác của tất cả mọi thời đã ban truyền. Con đường nà y chính là pháp hà nh của Phật giáo. Ðây là con đường duy nhất, không có con đường nà o khác dẫn đến giác ngộ và giải thoát. Vậy Bát chánh đạo là gì? Kinh Tạp A Hà m III ghi rõ:

"Nà y chư Tỳ kheo - nay ta sẽ nói về tám thánh đạo phần. Những gì là 8? Ðó là chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định" -- (Kinh số 763 - trang 76)

Bát chánh đạo hay cũng gọi là Bát thánh đạo, bởi lẽ nó không những giúp con người sống đúng nhân cách, có đạo đức mà hơn thế nữa, con đường nà y còn đưa con người thăng hoa lên các cõi tâm linh cao hơn của bậc Thánh - giải thoát, giác ngộ, chứng quả Niết Bà n, an vui, tịch tịnh. Cho nên có thể khẳng định rằng, Bát chánh đạo là đạo lộ hướng nội của tự tâm đi từ cấu nhiỠm đến thanh tịnh, từ phà m phu đến thánh giả.

Chánh Kiến

Là sự hiểu biết đúng đắn tức am hiểu tường tận tứ diệu đế. Nói cách khác chánh kiến là thấu triệt thật tướng của bản thân mình. Kinh Rochitassa dạy rằng: Tất cả chân lý vũ trụ đều nằm trọn vẹn trong tấm thân một trượng nà y. Theo Phật giáo, Chánh kiến là yếu tố quan trọng là điều tất yếu để thà nh tựu mục tiêu cứu cánh.

Tạp A Hà m III Ðức Phật dạy:

"Nà y chư Tỳ kheo, thế nà o là Chánh kiến? Nghĩa là nói có bố thí, có trì giới, có thiện hà nh, có ác hà nh, có quả báo thiện ác hà nh, có đời nà y, có đời khác, có cha mẹ, có chúng sanh, có A La Hán, khéo đến, khéo hướng đến, tự biết, đầy đủ, tác chứng..." (Kinh số 784 - trang 98)

Lại một kinh kế tiếp cũng đề cập đến Chánh kiến có hai thứ:

"Có thứ Chánh kiến thuộc về thế tục hữu lậu, có chấp thủ, hướng đến đường là nh.

Có thứ Chánh kiến thuộc bậc thánh xuất thế gian, vô lậu không chấp thủ, chơn chánh, dứt sạch khổ, đưa đến giải thoát.

Thế nà o là Chánh kiến hữu lậu, có chấp thủ, hướng đến đường là nh? Ðó là nếu người kia thấy có bố thí, có thuyết pháp, có thiện hà nh...cho đến thấy thế gian có A La Hán không còn thọ thân đời sau.

Thế nà o là Chánh kiến của bậc Thánh xuất thế gian vô lậu, không chấp thủ, chân chính dứt sạch khổ, đưa đến giải thoát? Nghĩa là vị thánh đệ tử tư duy về khổ, tập, diệt, đạo, tư duy về vô lậu, phù hợp với pháp đã chọn lọc, phân biệt, suy tìm, hiểu biết sáng suốt, tĩnh giác quan sát" -- (Tạp A Hà m - Kinh 785 - trang 99-102)

Chánh Chí (Chánh Tư duy)

Hiểu biết chân chánh. Do sự hiểu biết chân chánh, có những tư tưởng đúng đắn, không trái với lẽ phải, có lợi cho mình và cho người. Chánh tư duy chỉ những tư tưởng khước từ hay giải thoát, ý tưởng về tình thương yêu vô ngã, và về bất bạo động, trải ra đến muôn loà i.

"Thế nà o là Chánh Chí? Nghĩa là suy nghĩa về xuất ly nhuế, về vô nhuế, về bất hạnh nhuế.

Chánh Chí có hai thứ:

- Có loại chánh chí thế tục, có chấp thủ, hướng đến đường là nh. Nghĩa là chánh chí (hay tư duy) về giải thoát, tư duy về không sân, tư duy về chánh hại.

- Có loại chánh chí thánh đạo xuất thế gian, vô lậu, vô thủ, chân chánh dứt khổ, đưa đến giải thoát. Nghĩa là vị Thánh đệ tử tư duy về khổ, tập, diệt, đạo, tư duy về vô lậu, tâm pháp tương ứng, phân biệt tự quyết, ý hiểu rõ, đo lường rà nh rẽ". -- (Tạp A Hà m - Kinh 785 - trang 99-102)

Chánh Ngữ

Lời nói chân chánh, nghĩa là không nói dối, không nói đâm thọc là m cho người nà y phiền giận người kia, không nói lời thô bỉ và không nói lời nhảm nhí. Khi nhịn được không nói những hình thức sai quấy và có hại ấy, tất nhiên người ta phải nói sự thật, phải dùng những từ ngữ thân thiện, khoan hòa, êm ái và nhã nhặn, có ý nghĩa và lợi ích. Người ta không nên nói năn bừa bãi, lời nói cần đúng lúc và đúng chỗ. Nếu không thể nói điều gì lợi ích, tốt hơn nên giữ im lặng là cao quý.

"Chánh ngữ có hai thứ:

- Có thứ thuộc thế tục, hữu lậu, hữu thủ, hướng đến cõi là nh. Tức là lời nói chân chánh, lìa nói dối, nói hai lưỡi, nói hung ác và nói thêu dệt

- Có thứ thuộc bậc Thánh xuất thế gian, vô lậu, vô thủ, chân chánh, sạch hết khổ, đưa đến Niết Bà n. Nghĩa là vị đệ tử của bậc Thánh tư duy về khổ, tập, diệt, đạo lìa tà mạng, lìa 4 điều ác của miệng, các hà nh khác của miệng, vô lậu, xa lìa, không chấp trước, giữ chặt, gìn giữ không phạm, đúng thời tiết, không vượt giới hạn". (Tạp A Hà m - Kinh 785 - trang 99-102)

Chánh Nghiệp

Hà nh động chân chánh, có thể tạo nghiệp thiện. Chánh nghiệp nhằm phát sinh những hà nh vi hợp đạo đức, khả kính và hòa nhã. Nó khuyên ta nên dứt bỏ sự sát hại sinh mạng, sự trộm cắp, là m ăn không sòng phẳng, sự tà dâm, và khuyên ta đồng thời cũng nên giúp kẻ khác sống một đời hóa nhã, đáng kính trong con đường chánh.

"Chánh nghiệp cũng có 2 thứ:

- Có thứ chánh nghiệp là thế tục...Ðó là lìa sát sanh, trộm cắp, tà dâm.

- Có thứ chánh nghiệp thuộc Thánh đạo xuất thế gian...Ðó là tư duy về khổ, tập, diệt, đạo, trừ tà mạng và ác hạnh của thân và các ác hạnh khác của thân, vô lậu, tâm không chấp trước, không chấp thủ, giữ gìn không phạm, không lỗi thời tiết, không vượt giới hạn". (Tạp A Hà m - Kinh 785 - trang 102)

Chánh Mạng

Sanh sống chân chánh. Giữ thân khẩu ý trong sạch. Chánh mạng còn có nghĩa là ta nên từ bỏ sự sanh nhai bằng một nghề mang thiệt hại cho kẻ khác, như buôn bán khí giới, đồ uống say sưa, độc dược, giết hại súc vật, lừa dối v.v...Và nên sinh sống bằng nghề đáng kính, vô tội và không có tội cho người, vật. Ở đây có thể thấy rõ đạo Phật cực lực chống đối bất cứ loại chiến tranh nà o, khi đặt điều luật rằng, sự buôn bán khí giới là một phương tiện sinh sống xấu xa và bất chính.

"Chánh mạng có 2 thứ:

- Có thứ Chánh mạng thuộc thế tục...Ðó là đúng như pháp cầu cơm ăn, ngọa cụ, thuốc men, chứ chẳng phải không đúng như pháp.

- Có thứ Chánh mạng thuộc thánh đạo xuất thế gian...Ðó là vị đệ tử của bậc thánh tư duy về khổ, tập, diệt, đạo, đối với các tà mạng vô lậu, không chấp thủ, giữ gìn không phạm, không lỗi thời tiết, không vượt giới hạn" (Tạp A Hà m - Kinh 785 - trang 103,104)

Chánh Tinh tấn (Chánh phương tiện)

Cố gắng kiểm soát thân khẩu và ý chơn chánh tức ý chí mạnh mẽ.

- Ðể ngừa những điều xấu xa chưa phát sinh
- Từ bỏ những xấu ác đã phát sinh
- Là m phát sinh những điều thiện chưa được phát sinh
- Tăng trưởng những điều kiện đã phát sinh

"Chánh tinh tấn có hai thứ:

- Có thứ chánh tinh tấn thuộc về thế tục...Tức là tinh tấn, mong muốn, nổ lực, siêu xuất, bền bỉ, kiến tập, siêng năng, tạo tác kiên cố, nhiếp thọ tâm pháp, không dừng nghỉ.

- Có thứ chánh tinh tấn thuộc về thánh đạo xuất thế gian. Nghĩa là đệ tử của bậc thánh tư duy về khổ, tập, diệt, đạo, tâm vô lậu, ức niệm, chuyên cần mạnh mẽ, siêu xuất, kiến lập, kham năng, tạo tác tinh tấn, bền bỉ, tâm pháp nhiếp thọ, chẳng dừng nghỉ" (Tạp A Hà m - Kinh 785 - trang 103,104)

Chánh Niệm

Chú ý chân chánh, liên tục chú tâm quán tưởng đến thân, thọ, tâm, pháp, tức là chú ý về:

Những hoạt động của thân xác
Những cảm giác hoặc cảm tưởng
Những hoạt động tâm ý
Ý tưởng, tư tưởng, quan niệm và sự vật.

"Chánh niệm theo tạp A Hà m cũng có hai thứ:

- Có thứ chánh niệm thuộc thế tục...Nghĩa là niệm tùy miên, trùng niệm, ức niệm, không lãng quên.

- Có thứ chánh niệm thuộc bậc thánh xuất thế gian...Tức là đệ tử bậc thánh, tư duy về khổ, tập, diệt, đạo, tư duy tương ứng vô lậu, niệm tùy miên, trùng niệm, ức niệm, không lãng quên" (Tạp A Hà m - Kinh 785 - trang 103,104)

Chánh Ðịnh

Nhiếp tâm và o một điểm. Ðây là điều tối cần thiết, nhờ đó tâm minh sát có thể nhận được thực tướng của vạn hữu.

"Chánh định có hai thứ:

- Có thứ chánh định thuộc thế tục...Tức là tâm an trụ không loạn động, nhiếp thọ dừng bặt, nhất tâm tam muội

- Có loại chánh định của thánh đạo xuất thế gian...Tức là tư duy về khổ, tập, diệt, đạo, tư duy vô lậu, tương ứng tâm pháp, an trụ không tán loạn, nhiếp thọ, dừng bặt, nhất tâm tam muội." (Tạp A Hà m - Kinh 785 - trang 104)

Như ta thấy, hầu hết giáo lý của Ðức Phật giảng giải suốt 49 năm đề cập bằng cách nà y hoặc bằng cách khác đến con đường nà y, chúng ta không nên nghĩ rằng tám ngà nh trong con đường nà y phải được theo và thực hà nh cái nà y sau cái khác, theo thứ tự ở trên. Chúng phải được phát triển gần như đồng thời với nhau và mỗi ngà nh giúp cho sự đà o luyện những ngà nh khác. Như hướng đến giải thoát ta phải đắc được chánh định mới có thể xa lìa mê hoặc chứng ngộ chân lý.

Muốn như vậy phải tu chánh kiến đến chánh niệm. Vì vậy 7 chi đều là gốc, là trợ duyên của chánh định (Tạp A Hà m - quyển 28)

"Bảy phần ấy là m cơ nghiệp rồi, được cái tâm ấy gọi là căn bản tam muội của bậc thánh hiền đều có đủ" (Trung A Hà m Thánh Ðạo kinh)

Các thiện pháp sinh đều lấy minh (tuệ) là m căn bản...hiểu biết chân thật ấy là chánh kiến. Chánh kiến có thể nảy sinh chánh định. Chánh kiến là trí tuệ sáng suốt, là nhiếp đạo tu hà nh, như người đi phải có mắt, còn đi biển phải có la bà n. Vì vậy "Ngũ căn ấy tín, tiến, niệm, định, tuệ, thì tuệ đứng đầu vì nó có tính nhiếp trì. Tính chất quan trọng của chánh kiến đối với đức hà nh là vượt qua được bình thường. Giả sử thế gian có bậc chánh kiến tăng thượng, thì dù trăm ngà n kiếp, không bao giờ rơi và o ác thú". (Tạp A Hà m - Kinh 750 - quyển 28)

Lấy chánh kiến là m đầu, lấy chánh tinh tấn, chánh niệm là m trợ duyên mà tiến tu, như tu học chánh kiến, chuyên nhất một lòng ở chánh kiến, nổ lực ở chánh kiến, lại từ trong chánh kiến hiểu rõ chánh chí (chánh tư duy). Như thế chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng cũng vậy, lấy chánh kiến, chánh tinh tấn, chánh niệm là m trợ duyên "tu học bảy chi trước thì được chánh định" (Trung A Hà m - Thánh Ðạo kinh)

Nếu chánh kiến về nhân quả thiện, về sự tiếp nối của sanh tử và giải thoát thì vẫn chỉ là chánh kiến thế gian, nó có thể "giúp hướng về con đường thiện" mà không thể xuất thế. Còn như tri kiến như thật về lý tứ đế là "Y và o hạnh viỠn ly, y và o ly dục, y và o diệt, mà hướng tới phóng xả" (Tạp A Hà m - Kinh 763), mới là chánh kiến xuất thế hướng tới giải thoát. Ðược chánh kiến Phật pháp rồi thì mới hướng đến chánh chí. Ðó là biến chánh kiến thà nh lý tưởng của mình và phát động tư duy suy xét, quyết định thực hiện, là m ba nghiệp của mình hợp lý, tương ứng với chính kiến. Vì vậy đồng thời với chánh chí thì có giới học thể hiện sự cố gắng thực hà nh của bản thân. Ðó tức là "chánh nghiệp, chánh ngữ, chánh mạng". Sự tu hà nh Phật pháp lấy trí tuệ là m nguồn gốc, chỉ sự hiểu biết của lý trí, "Chánh tinh tấn là sự bỏ ác hướng thiện, quán thông tất cả các chi. Do theo đuổi chân lý, tự tâm trong lắng nên sự hiểu biết chân chánh như thật mới y và o đó mà xuất hiện. Chánh niệm, chánh định tức là giai đoạn tu tuệ. Nhờ tu tuệ mà phát sanh trí tuệ vô lậu thì mới có thể thà nh tựu được chánh giác giải thoát.

Việc tu hà nh của bát chánh đạo, tức là sự tăng tiến của Giới - Ðịnh - Tuệ. Cũng là quá trình trước sau của tam tuệ văn, tư, tu. Ðó là con đường chân chánh của đạo giải thoát đến với chúng ta "Nếu trong chư pháp không có bát chánh đạo thì không có quả Sa môn thứ nhất, thứ hai, thứ ba, thứ tư. Vì trong chư pháp có bát chánh đạo, cho nên có quả Sa môn thứ nhất, thứ hai, thứ ba, thứ tư." (Trường A Hà m - Kinh Du hà nh)

"Ðây là lời khai thị rõ rà ng, tuy Như Lai nói đến nhiều đức hà nh, nhưng tất cả không ngoà i bát chánh đạo. Như tứ niệm xứ, tứ chánh Cần, Tứ như Ý Túc, Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất Giác Chi. Tổng thể đạo chi Phật pháp có người nói là ba tạng thượng học" (Tạp A Hà m - quyển 20). Ðó là nương và o giới sanh định, nương và o định mà phát tuệ, nương và o tuệ mà được giải thoát. Bát chánh đạo lấy chánh kiến là m đầu, vì chánh kiến không chỉ là mục tiêu cuối cùng mà cũng là cái căn bản ở mọi chi bắt đầu phổ biến vậy.

(iv) Trung đạo là tu tập Tam Vô Lậu học: Giới - Ðịnh - Tuệ

Giới - Ðịnh - Tuệ là 3 môn học, 3 phương pháp không hư hỏng, không ô nhiỠm. Hay nói cách khác, là 3 pháp học diệt trừ phiền não, khiến cho ba nghiệp của người tu học được thanh tịnh an ổn và giải thoát.

* Giới: là những điều được Phật chế ra nhằm để ngăn chặn những điều xấu ác. Nó còn được gọi là Ba La Ðề Mộc Xoa, biệt giải thoát hay an lạc xứ, thanh lương xứ.

Như ta biết, thời kỳ đầu, đệ tử của Ðức Phật đều có sự cảnh giác và hối hận sâu sắc về cuộc sống của nhân sinh, có động cơ trong sáng và chân thà nh, không có giới điều gì, thì vẫn có thể tu hà nh đắc đạo. Ðến khi Phật pháp phổ biến thịnh hà nh, những người xuất gia có động cơ không mấy chân chánh đã nhiều lên. Vì thế Ðức Phật mới chế định ra Giới Luật. Nhưng dưới mắt người ngoà i hình như giới luật nhiều lên thì phẩm chất tăng lại thấp kém đi. (Kinh Thương Ca La - Trung A Hà m) đã nói như thế nà y: "Vì nhân duyên gì mà Sa Môn Cù Ðà m xưa ít chế giới luật mà các Tỳ kheo vẫn đắc đạo nhiều? Vì nhân duyên gì mà Sa Môn Cù Ðà m ngà y nay chế nhiều giới luật mà các Tỳ kheo lại ít người đắc đạo hơn?"

Xét về ý nghĩa, Ðức Phật chế giới để quản lý tăng đoà n, là m cho người học đạo dần dần khép và o giới luật. Vì vậy, Phật dạy: "Chánh pháp luật của ta phải là m dần, học dần, từng bước dạy dần...chế định ra cấm giới cho Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, ưu bà tắc, ưu bà di" (Trung A Hà m - Kinh Chiêm ba)

Ngay cả những người xuất gia phát tâm chân chánh, có lúc cũng khởi phiền não, không thể tiết chế được mình mà phạm giới. Ðây là chướng ngại lớn đối với việc tu tập Phật pháp. Ðiều nà y rất cần hạn chế bằng giới luật.

Nghĩa rộng của Giới thì bao hà m mọi hà nh vi chân chánh nhưng theo nghĩa hẹp, thì chỉ giới hạn 2 phần là dừng các điều ác và là m các điều thiện. Ðặc biệt là 10 giới căn bản chung cho cả tại gia và xuất gia, liên hệ với ba nghiệp (thân, khẩu và ý) và nghiêng về các thiện hà nh: không sát sanh, không trộm cắp, không tà tâm, không nói dối, không nói hai lưỡi, không nói đâm thọc, không nói thô ác, không tham, không sân, không si. Như Ðức Phật nói với Ông Bà La Lao Già Di Ni trong kinh Bà La Lao của Trung A Hà m rằng:

"Bản thân dứt được thập ác đạo, và niệm thập thiện đạo rồi, thì sinh vui, sinh vui rồi thì sinh mừng, sinh mừng rồi thì chỉ tức thân, chỉ tức thân rồi thì tự giác Lạc, thân giác lạc rồi thì được nhất tâm và từ có đủ...không kết, không oán, không giận, không tranh".

Sở dĩ, Ðức Phật đề cập đến 3 nghiệp (thân, khẩu, ý) vì nó là chánh nhân tạo thà nh thiện ác trong 6 nẻo, 4 loại.

Tạp A Hà m, (quyển 32 - Kinh 916) ghi lời Ðức Phật nói với trưởng thôn Ðạo Sư Thị: "Nếu có bụng sát sanh, nên tự hối, tự trách là không đúng, không phải. Nếu không có bụng sát sanh, không giận, không oán, tâm sinh tùy hỷ...Tâm và từ có đủ cả. Cứ như vậy lấy tâm bi mà đối trị với trộm cắp, lấy tâm hỷ mà đối trị với tà dâm, lấy tâm xã mà đối trị với vọng ngữ". Như vậy, ở đây hà nh giả có thể lấy tứ vô lượng tâm mà đối trị riêng từng giới. Ðây chẳng qua chỉ là nói riêng từng mặt, chứ thật ra chúng có liên quan với nhau, gồm đủ cả từ bi hỷ xã. Nương và o 5 giới, 8 giới, thập thiện nghiệp mà đến tứ vô lượng tâm. Ðấy là giáo lý thường thấy nhất trong kinh A Hà m.

Ở đây, đơn cử giới không sát sanh, Tạp A Hà m (quyển 37, Kinh 2026) ghi lời Ðức Phật nói với trưởng thôn Tỳ Niu Ða La rằng: "Nếu có người muốn giết ta, hẳn ta không vui. Ta không vui thì người khác cũng vậy. Vì sao giết nó? Nếu tự xét mình như vậy thì hãy tiếp thu mà không sát sanh và không thích sát sanh". Tương tự đối với việc trộm cắp, tà dâm, vọng ngữ...cũng vậy.

Do đó ta thấy Ðức Phật ban hà nh giới luật, không phải là những điều răn cấm tiêu cực, mà rõ rà ng xác định ý chí cương quyết hà nh thiện - một con đường toà n hảo xây đắp bằng thiện ý, nhằm tạo an là nh và hạnh phúc cho nhân loại.

* Ðịnh: Nói cho đủ là thiền định, còn gọi là tỉnh lự, hay tập trung và o một đề mục gì, không cho tâm chạy theo chuyên cảnh thì gọi là thiền định.

Thiền định là pháp môn thứ hai để hà nh giả bước chân và o huệ học, để được hoà n toà n giải thoát. Cho nên chư Tổ thường nói: "Chế tâm nhất xứ, vạn sự bất biện" (gởi tâm ở một chỗ thì muôn việc đều là m được). Ngà y nay tinh thần thiền định lại cà ng phải thể hiện một cách tích cực hơn, vì trong khi thế giới đang quay cuồng trong những công việc: cơm, áo, gạo, tiền...và những lo âu khác trong từng phút, từng giây, hay nói khác hơn là con người đang chạy đua với thời gian để sinh tồn. Nếu như con người không thăng bằng được tinh thần thì con người sẽ bị hoà n cảnh bế tắc trong cuộc sống bởi những lo toan, bận rộn. Cho nên thiền định về mặt tương đối nà o đó giúp cho con người giữ được sự huân bình trong đời sống tâm lý, và đồng thời nếu tiến lên một bước nữa, con người sẽ thăng hoa và cứu cánh, sẽ đi đến giải thoát, Niết Bà n.

Thiền định trong Phật giáo chia là m nhiều loại, trong đó thứ bậc được xem là trọng yếu nhất tùy theo sự tu tập cao thấp có khác nhau. Thường trong các kinh chú trọng đến phương pháp tứ thiền, vì đây là phương pháp thiền định trọng yếu nhất của Phật giáo, bởi khi Ðức Phật thà nh đạo Ngà i cũng nhờ Tứ Thiền mà ngay cả lúc nhập Niết Bà n cũng loại nhập định nà y. (Trích: Nguyên thủy Phật Giáo tư tưởng luận trang 409)

Như trong kinh Trung A Hà m, nói đến định có nghĩa là tập trung và o một đối tượng duy nhất, để tâm không bị tán loạn theo các vọng tưởng. Sau khi giữ giới được thanh tịnh là m tiền đề cho sự phát khởi, nhưng chứng đạt thiền định phải:

"Sống cô độc, xa vắng, ở trong rừng sâu, dưới gốc cây, nơi yên tĩnh, sườn non, động đá, đất trống, lùm cây, hoặc đến trong rừng, hoặc giữa bãi tha ma, người ấy sau khi ở trong rừng vắng...trãi ra sư đà n ngồi kiết già ." -- (Kinh Tượng Tích Dụ - Trung A Hà m)

Lời chỉ dạy của Ðức Phật cho thấy Ngà i rất quan tâm đến đời sống tu tập của các Tỳ kheo, vì phương pháp tu tập thiền định là điều thân, điều tâm khiến cho tinh thần tập trung để đạt được sự an lạc. Thói quen của con người là "tâm viên ý mã" dong ruỗi theo duyên không lúc nà o ở yên một chỗ, vì 5 món dục lôi kéo, đấy là một trở ngại trên đường đạo.

Cho nên dục là chỗ ẩn náo vô và n phiền não, nếu không khéo đoạn trừ thì khó mà tu cho đến rốt ráo. Tu định tất phải ly dục thì mới mong đắc đạo. Do đó khi bắt đầu tu tập thiền định, trước hết phải "xua đuổi ngũ dục" phải nhận thức được tác hại lớn của sắc, thanh, hương, vị, xúc để chán bỏ nó. Vì vậy ta phải mạnh dạn nói: "Dục ơi, ta hiểu bản chất của ngươi, ý muốn là do suy nghĩ nảy sinh, nếu ta không nghĩ đến ngươi, thì sẽ không sinh ra ngươi". Tạp A Hà m, quyển 16, Kinh 2026 nói:

"Không phải chúng sự thế gian, là m theo như thế thì gọi là dục. Tâm pháp đuổi theo giác tưởng thì gọi là dục sĩ phu."

Việc tu định ly dục của Phật pháp là coi trọng ở việc điều phục phiền não nội tâm, chứ không phải là cự tuyệt mọi cái thế gian. Nếu không thế chỉ biết giữ chặt căn môn, rời xa ngũ dục, thì sẽ bịt kín thông minh như ngoại đạo Ba La Xa Na mà thôi (Tạp A Hà m, quyển 11 - Kinh 282).

* Tuệ: Ở đây nói cho đủ nghĩa là trí tuệ. Trí là khả năng nhận thức, phân biệt sự lý. Tuệ là sự sáng tỏ của trí, sự thông suốt rực rỡ sáng suốt là m cho trí dỠnhận rõ được chân tướng của sự vật (Giáo án Phật Pháp căn bản - HT Thích Hiển Pháp)

Như vậy, trí tuệ vô lậu là trí tuệ không bị ngăn che bởi vô minh, không vướng vấp những phiền não ở thế gian, đưa con người đến ai vui chóng đạt thánh quả.

Ở đây, việc thực chứng trí tuệ vô lậu, phải lấy 3 trí tuệ hữu lậu: văn, tư, tu là m phương tiện. Nếu không nghe (văn) không nghĩ (tư) thì không thể đưa đến tu tuệ, cũng tức là không đắc được trí huệ vô lậu. (Tạp A Hà m - quyển 30 - Kinh 843) từng nói đến 4 dự lưu chi: "Thân cận thiện nam tử, nghe chánh pháp, bên trong chánh tư duy, pháp thứ, pháp hướng". Ðây chính là nhờ và o bậc minh sư mà nảy sinh 3 tuệ văn, tư, tu thì mới có thể chứng được chân lý. Nó cũng chính là trình tự tất nhiên của việc tu hà nh, không thể vượt cấp được. Nhưng trình tự tu học theo Thầy mà nảy sinh tam tuệ có thể phát sinh tệ hại, do đó Ðức Phật nói về tứ y để là m chuẩn cho việc tu học.

  • Y pháp bất y nhân (nương và o pháp không nương và o người)
  • Y nghÄ©a bất y ngữ (nương nghÄ©a không nương lời)
  • Y liá» u nghÄ©a bất y liá» u nghÄ©a (nương và o nghÄ©a chân thật, rốt ráo, không nương và o nghÄ©a sá»± tướng phương tiện)
  • Y trí bất y thức (dá»±a và o trí tuệ, không dá»±a và o ý thức)
  • Thân cận thiện tri thức mục đích là để nghe pháp. Nhưng tri thức không hẳn là thiện, vì những phẩm chất đáng tôn quí cÅ©ng không thể bảo đảm tính chất đáng tin cậy cá»§a việc truyền dạy. Thiện tri thức nên thân cận, nhưng không đủ tiêu chuẩn thật giả cá»§a Phật pháp. Vì thế, chỉ có "Y pháp bất y nhân". Khi theo Thầy tu học, đây là tiêu chuẩn duy nhất đáng tin cậy, chúng ta tu học Phật pháp, không nên để tông phái trói buộc, để lời dạy cá»§a Thầy hạn chế, để thầy xấu là m hại, phải tích cá»±c phát huy tinh thần "Y pháp bất y nhân" phân biệt cho rõ đó là lời Phật dạy, lấy chánh kinh mà Phật nói là m gốc, lấy nghÄ©a thuyết cá»§a người học là m tà i liệu tham khảo. Có thế mới có thể nảy sinh văn tuệ chính xác, đúng đắn.
  • Phải theo Thầy nghe pháp, phải từ trong lời văn mới có thể hiểu được nghÄ©a lý. Song nếu trọng văn khinh nghÄ©a, câu nệ câu chữ mà là m hại nghÄ©a thì là sai lầm. Vì vậy phải "Y nghÄ©a bất y ngữ". Kinh nói: "Nghe lời nói về danh sắc mà sinh chán ly dục, đạt tới diệt tận tịch tÄ©nh pháp, thì đó gọi là đa văn" (Tạp A Hà m - quyển 1 - Kinh 26). Ða văn ở đây không thể là rời câu chữ thánh điển mà bà n suông, nhưng cÅ©ng không phải là câu nệ ở câu chữ mà hại nghÄ©a. Nếu không vậy thì dù nghe nhiều, nhớ giỏi, đối với Phật pháp vẫn là một kẻ ngu, nghe nhiều mà chẳng biết gì.
  • Nếu không phân biệt, coi thuyết phương tiện tùy cÆ¡ là tiêu chuẩn suy nghÄ© thì khó tránh khỏi đảo lộn phải trái. Vì vậy nói: "Y liá» u nghÄ©a bất y liá» u nghÄ©a". Có thế thì mới đưa đến tư tuệ chính xác, sâu sắc. Nếu coi tất cả là liá» u nghÄ©a, mọi lời truyền dạy là viên mãn thì sẽ là m cho Phật pháp hỗn loạn lung tung.
  • Nguyên tắc thứ tư là hướng và o tu tuệ. Nếu nương theo vọng thức phân biệt chấp thá»§ hình tướng mà tu tập thì dù tu cách mấy cÅ©ng không được giải thoát, không thể đưa đến chánh trí vô lậu. Vì vậy mới nói: "Y trí bất y thức". Phải dá»±a và o trí tuệ mà ly tướng, vô phân biệt mà tu mới có thể thà nh tá»±u chánh giác.

Phật pháp lấy chánh giác giải thoát là m mục tiêu, mà muốn vậy thì phải dựa và o tam tuệ văn, tư, tu mới đạt đến cứu cánh vậy.

Như vậy, Giới - Ðịnh - Tuệ cũng là 3 thà nh tố của con đường Trung đạo mà Ðức Phật đã tự khám phá ra, hay nói khác hơn, tam học nà y là 3 mặt của thực thể giải thoát. Vì thế sống đúng với con đường trung đạo nà y chính là đang từng bước nắm giữ hạnh phúc chân thật và đang đi và o cổng của an vui cùng tột.

Khi nói đến Tam học là một thực thể giải thoát thì trong giới vốn có Ðịnh và Tuệ, trong Ðịnh vốn có giới, tuệ: trong tuệ vốn có giới, định. Mức độ thăng hoa của một trong ba chi phần nà y luôn luôn có liên quan đến hai chi phần kia. Có tuệ mới biết đâu là chánh giới, có tuệ mới ổn định được tâm (định). Cà ng thực hiện giới (tức thực hiện qui luật tự nhiên) thì cà ng hiểu về thực tại. Từ đó hiểu biết được tâm, ổn định được tâm. Khi ổn định tâm được thanh tịnh và cái thấy biết về thực tại cà ng rõ rà ng và tích cực hơn.

Như vậy, bằng một tiến trình biến chuyển dần dần, bằng một công trình tu tập dần dần, thực hà nh dần dần, hà nh giả thanh lọc mọi bợn nhơ, tận diệt mọi ô nhiỠm, thà nh đạt giải thoát hoà n toà n.

(v)Trung đạo là ly khai nhị biên

Hầu hết các kinh Tạng A Hà m, Ðức Phật dạy rằng: "Thế giới nà y phần lớn y chỉ và o hai cực đoan là "có và không có". Tất cả đều có là kiến chấp thứ nhất, tất cả đều không là kiến chấp thứ hai, tất cả đều là một là kiến chấp thứ ba, tất cả đều là nhiều là kiến chấp thứ tư...Xa lìa cực đoan ấy Như Lai thuyết Trung đạo? Lời dạy của Ðức Phật rõ rà ng chủ trương phá chấp, tức không chấp thủ, và không chấp thủ không có nghĩa là tiêu cực thụ động, khô cứng mà trái lại không chấp thủ là để phát huy trọn vẹn cái tinh thần tự tại vô ngại không vướng mắc và o danh tướng, không chấp thủ còn có nghĩa là đi đến Trung đạo. Ðiều nà y có nghĩa là phải "không thấy một pháp nà o là khả thủ thì mới không có tội lỗi...biết như vậy rồi thì đối với mọi thế gian sẽ không có sở thủ, người không có sở thủ sẽ chứng ngộ Niết Bà n" -- (Tạp A Hà m - quyển 10 - Kinh 272)

Như vậy Trung đạo chính là ly khai nhị biên, nhị biên tức không chấp không hay chấp có, hoặc đồng hoặc khác, một hoặc là hai, ngã và ngã sở...tất cả các khái niệm ấy là những vấn đề bị đoạn trừ bằng chánh trí, bằng trí tuệ của bậc Thánh. Nói vậy có nghĩa là tất cả đều do nhân duyên sinh, sự sống chỉ là dòng sinh hoạt biến động, hòa hợp liên tục vô cùng. Chúng hổ tương ảnh hưởng lẫn nhau, quan hệ lẫn nhau trùng trùng vô tận:

Cái nà y có thì cái kia có
Cái nà y sanh thì cái kia sanh
Cái nà y không thì cái kia không
Cái nà y diệt thì cái kia diệt

Tạp A Hà m 1 - Kinh 297 cũng đã nói: "Cái nà y có nên cái kia có, cái nà y khởi nên cái kia khởi, như duyên vô minh có hà nh, duyên hà nh có thức cho đến duyên sanh có lão tử ưu, bi, khổ, não, như thế thuần đại khổ tu tập".

Trên mặt không gian, các pháp kể cả con người, chẳng qua chỉ là một sự kết hợp và phá hoại của các yếu tố ngũ uẩn, thất đại. Trên mặt thời gian, các pháp chỉ là sự sinh diệt, lưu chuyển nối tiếp không ngừng. Vì luôn luôn sanh diệt cho nên các pháp không thể là những thực thể "thường còn", vì sự lưu chuyển nối tiếp nhau, cho nên sự sống không bao giờ "diệt mất". Do đó, giáo lý Phật giáo không bao giờ chấp nhận một ngã hằng hữu (chấp thường) và không bao giờ chấp nhận "sự diệt vong hoà n toà n" (chấp đoạn). Không phải diệt, không phải còn, mọi sinh hoạt của hiện tượng giới là một đại dương liên tục biến động. Không phải diệt, không phải còn là đã đi và o con đường nhận thức Trung đạo thật nghĩa. Do đó nói không cũng sai, nói có cũng không đúng, nói một cũng lầm, nói hai cũng trật. Vì vậy chỉ có cách hiểu lý Trung đạo duyên khởi thì không bị sai lầm tà kiến, cực đoan. Tạp A Hà m - Kinh 297 Ðức Phật cũng đã nhấn mạnh:

"Nói thân khác, mạng khác cũng không được. Nói thân mạng là một cũng không đúng. Vì sa và o có, không đồng dị cho đến vô minh, hà nh, thức, danh, sắc, lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão tử cũng thế. Không xác định là có, cũng không xác định là không, tức không xác định là thật có, thật không, thật sinh, thật diệt. Vì khi đủ duyên thì có, không đủ duyên thì không. Không nhưng không thật có, nên theo duyên rồi có. Có, không thật có, vì theo duyên rồi diệt. Như vậy, có không là không thật, giữ vững lập trường, nhận thức quán trí như vậy, thì minh trí sanh, thuận dòng Trung đạo, chứng quả bồ đề, thà nh Phật".

Tuy nhiên, mọi sự sinh diệt biến động của hiện tượng giới mà ta đang nhận thức. Nếu xét về mặt thể tính thì chúng phụ thuộc và o nhận thức của ta. Nếu rời nhận thức đi, rời mọi ý niệm, mọi tri giác, thì mọi biến động của hiện tướng cũng không thể nà o hiện hữu. Như vậy, thực tại đầy rẫy sự biến động đã bị chúng ta ý thức hóa. Hay nói một cách khác, chính chúng ta đã thấy sự vật có sanh, có diệt, có thường, có đoạn, có nhất, có dị, có đến đi, có sạch dơ, có còn mất v.v...là bởi ý thức của chúng ta. Còn thực tại là thực tại, thoát ly và vượt ra ngoà i mọi ý niệm, có không, sanh diệt...mà ý thức của chúng ta đã khoác lên cho nó. Luận Ðại Thừa Khởi Tín nói: "Tất cả mọi sự vật hiện tượng từ trước đến nay vốn không dính líu gì đến ngôn từ khái niệm, không dính líu gì đến tâm phân biệt, không gì ngôn từ, khái niệm hay tâm phân biệt là m biến đổi và tách biệt khỏi tự tánh. Tự tại vốn bình đẳng, không có cao thấp, được thua, còn mất, sanh diệt..."

Như vậy, thực tại vốn bình đẳng, vốn hồn nhiên, vốn siêu việt mọi khái niệm ngôn từ. Nhưng thực tại trở thà nh biến động sai biệt bởi vì sự "ngu muội" của ý thức. Chúng ta luôn luôn nhìn thực tại không còn nguyên vẹn bản tính của thật tại nữa, mà trái lại chúng ta nhìn thực tại bằng những ý niệm lưỡng diện. HỠnói đẹp thì có xấu, hỠnói to thì có nhỏ, hỠnói hữu hạn thì có vô cùng, hỠcó ta thì có kẻ khác, hỠcó sạch thì có dơ, hỠcó sanh thì có diệt..., chúng ta luôn luôn sống trong hạn cuộc của những khái niệm lưỡng diện đó, và chính những ý niệm đó đã tô son, điểm phấn cho thực tại, bóp méo thực tại, xuyên tạc thực tại, là m cho thực tại biến ra thiên hình vạn trạng theo ý niệm lưỡng diện của chúng ta.

Vậy thực tại không phải có mà cũng không phải không, không phải diệt mà cũng không phải sanh, không phải thường mà cũng không phải đoạn, không phải một mà cũng không phải khác, không phải đến mà cũng không phải đi..., sự sanh diệt, còn mất, đến đi, thường đoạn, sạch dơ...là thế giới của những hiện tượng phụ thuộc và o nhân duyên tức là và o những điều kiện. Một hiện tượng phát sinh là do những điều kiện hội tụ, một hiện tượng hỷ diệt là do những điều kiện tán thất. Sự sinh diệt, còn mất, được thua...là thế giới của ý niệm phân biệt. Bản thân của thực tại là nền tảng luân thể, không phải là những hiện tượng bọt bèo thì là m sao có thể sanh diệt, còn mất, đến đi, sạch dơ cho được. Thiền Sư Nguyên Học có nói:

"Chân tánh thường vô tánh
Hà tằng hữu sanh diệt" --
(Thiền Sư Việt Nam)

Từ nhận định như vậy về thực tại, ta thấy rằng hiện tượng và bản thể chỉ là một, Niết Bà n và sanh tử không một, không khác; nghĩa là khi con người còn níu kéo theo mình những ý niệm nhị nguyên thì thật tại sẽ còn biến trăm hình ngà n dạng. Trái lại khi chúng ta thoát ly ra ngoà i sự rà ng buộc của ý niệm nhị nguyên thì thật tại sẽ trở về với tính của nó, thoát ly mọi ý kiến lưỡng diện nhị nguyên đó, tức là đã đi và o con đường Trung đạo, con đường tiến đến sâu thẩm của chơn như. Như Thiền Sư Từ Ðạo Hạnh nói:

"Tác hữu trần sa hữu
Vi không nhất thiết không
Hữu không như thủy nguyệt
Vật hữu trước không không"

dịch:

"Có thì có tự mảy may
Không thì cả thế gian nà y cũng không
Ví như bóng nguyệt dòng sông
Thế nên mới biết có không là gì."

B.III- Tầm Quan Trọng Của Lý Trung Ðạo Trong Cuộc Sống Tu Tập Của Người Tại Gia Cũng Như Xuất Gia

Như trên đã trình bà y chi tiết về ý nghĩa của tư tưởng Trung đạo qua kinh A Hà m. Chúng ta đã thấy được công năng của lý Trung đạo là một việc rất đương nhiên, rất tự nhiên đối với ai muốn giảm bớt và loại trừ những trở ngại, những đau khổ trong cuộc sống. Chính con đường nà y đã giúp người tu tập tránh xa hai cực đoan lợi dưỡng và ép xác khổ hạnh. "Ðây là con đường trung dung mà Ðấng Toà n Giác đã khám phá và đem ra giảng giải, giáo hóa nhằm đưa đến nơi an tịnh, tới sự nhận xét rõ rệt, tới giác ngộ, tới Niết Bà n." (Kinh chuyển pháp luân)

Vậy, chúng ta có thể quả quyết rằng con đường Trung đạo độc nhất nà y là đạo lý căn bản đưa con người tới cuộc sống cao thượng và an lạc.

Trung đạo không phải là một con đường trừu tượng hay một con đường nghi thức. Ðường nà y chẳng phải giáo điều và cũng chẳng phải hoà i nghi, chẳng là m cho mình mê muội, mà cũng chẳng khiến mình tự hà nh xác. Nó chẳng phải là thuyết bất diệt và cũng chẳng phải thuyết hư vô, nó chẳng phải là luật của các thần linh uy quyền hay là từ trí tưởng tượng của loà i người. Ðó là con đường giác ngộ, một phương cách để giải thoát khỏi khổ đau vì bất toại nguyện. Con đường nà y bát bỏ ý kiến cho rằng con người ngà y nay đau khổ vì tội đã tạo trước kia. Mỗi sinh vật, kể cả đời sống của cỏ cây đều chịu đau khổ. Mỗi người mang theo mình những điều tốt và những điều xấu. Con người chịu trách nhiệm về sự đau khổ hay sung sướng của mình.

Người theo Trung đạo sẽ tìm thấy niềm an lạc và hạnh phúc thực sự. Con người có thể sống một cuộc đời đáng kính và không cần phải là m nô lệ cho bất cứ một tín ngưỡng nà o. Như vậy, họ được yên ổn và hạnh phúc, sống hòa đồng với những người khác và với hoà n cảnh xung quanh.

Trung đạo thỏa mãn hầu hết những khát vọng sâu xa cao quí của nhân loại. Ðúng là nó có thể giúp sức cho ta chịu đựng khó khăn và căng thẳng hằng ngà y ngoà i việc tạo mục đích cho đời sống. Con đường đó không gây sợ hãi đến cho con người, là m tốt được tốt và là m xấu được xấu. Mỗi hà nh động đều có phản ứng của nó, đó là định luật thiên nhiên. Trung đạo hoà n toà n phù hợp với các định luật nà y vì "gieo gì thì gặt ấy". Con người gây ra các hà nh động tội lỗi do tham lam, sân hận, ngu si...Những nhược điểm trên có thể vượt qua được nhờ ý thức được bản thân. May mắn hay rủi ro mà con người gặp trên đời nà y không phải là do ảnh hưởng bên ngoà i mà là do các hà nh động tốt hay xấu, do các lời nói và việc là m mà chính họ đã vi phạm trước đây. Vì lý do trên Ðức Phật dạy: "Chúng ta là kết quả của những việc chúng ta là m bây giờ", điều nà y có nghĩa là chúng ta chịu trách nhiệm mọi điều trong đời sống của chúng ta, không ai tu tập thay cho mình cũng không ai có thể cởi bỏ mọi rà ng buộc, đau khổ thay cho mình được. Và cũng không có Ðấng toà n năng nà o có thể ban phước, giáng họa cho chúng ta ngoà i chúng ta ra. Vì thế mỗi một người phải có trách nhiệm và ý thức rõ rà ng về nghiệp mình tạo. Chúng ta là "chủ nhân ông của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, khổ đau hay hạnh phúc đều do chính chúng ta tạo caủ". Như Kinh Pháp Cú 165 đã khẳng định:

Tự ta gây ác nghiệp
Tự ta nhiỠm mê lầm
Tự ta là m việc thiện
Tự ta tịnh thân tâm
NhiỠm tịnh do ta cả
Các người nên chớ nhầm

Chính khi đã nhận thức được vai trò của mình trong quá trình tu tập, người con Phật mới sanh khởi niềm tin bất thối và quyết tâm thực hà nh theo lời dạy của Ðức Thế Tôn. Với mục đích duy nhất là phải gội rửa hết tội lỗi trong tâm trí và chỉ là m điều thiện, nhằm hướng tới sự đoạn tận khổ đau, đem lại hạnh phúc cho chính mình và cho mọi người ngay hiện tại trong cuộc sống nà y. Ðiều quan trọng là chúng ta phải ý thức được rằng, việc tu tập Trung đạo là nhu cầu thiết yếu và không thể thiếu được như miếng cơm manh áo và không khí mà ta thường dùng hằng ngà y. Có như vậy, người tu tập mới thật sự "sống với" chứ không phải "nói về". Chỉ bằng cách tu luyện tâm trí sau một thời gian dà i, tinh thần của chúng ta mới thật sự thanh tịnh, hạnh phúc và an lạc.

Ðây là hoà i vọng của Ðức Phật khi Ngà i xiển dương chánh pháp để đem lại một trật tự đạo đức và công bằng cho xã hội. Muốn đáp ứng khát vọng hạnh phúc mà không có mặt đạo đức thì đau khổ vẫn tồn tại mãi hoà i. Như nhà soạn nhạc thiên tà i của phương Tây - Mozart đã từng nói "Khát vọng hạnh phúc là bẩm sinh của con người, vì vậy nó phải là cơ sở của đạo đức". Cho nên việc tu tập theo phương pháp Trung đạo cũng nhằm xây dựng cho người Phật tử tại gia và xuất gia một nếp sống đạo đức, mà đỉnh cao của nếp sống đó là giải thoát, giác ngộ.

"Nếu ai theo đường nà y
Ðau khổ được đoạn tận
Ta chỉ dạy con đường
Với tri gai chướng diệt
Hãy tự nhiệt tâm hà nh" --
(Pháp Cú - 276)

Rõ rà ng, ta thấy Trung đạo đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong lộ trình tu tập tâm của người con Phật. Con đường ấy có khả năng đoạn tận khổ đau, thanh tịnh tam nghiệp, đạt thắng trí và chứng quả bồ đề, Niết Bà n.

C- Kết Luận

Với những đặc tính trong lời dạy của Ðức Phật về tư tưởng Trung đạo qua kinh A Hà m, ta có thể kết luận rằng: Chúng sanh vì vô minh che lấp, tham ái buộc rà ng, bị trói buộc trong cái tự ngã tự dục hẹp hòi, cho nên hà nh vi và tri thức không những không thấy được sự thật các pháp, mà trái lại còn là m chướng ngại nó. Như người lạc hướng không những không phân biệt Ðông và Tây, mà còn chấp chặt lấy Ðông và Tây. Cũng thế, chúng sanh chấp chặt lấy năm uẩn, nên 5 thủ uẩn bốc thà nh nổi khổ lớn, không biết là vô thường mà chấp thường, chấp đoạn cũng là khổ. Ðối với tự nhiên, xã hội, thân tâm đến đâu cũng bị nổi khổ bức bách lan trà n. Tất cả hoạt động lấy vô minh, ngã ái là m gốc ấy đã ăn sâu và o tận tâm tưởng của con người, khiến con người chìm ngập trong bể sống chết. Nếu không giải thoát được cái mê tình ấy thì cứ sẽ mãi sống trong mâu thuẩn và khổ não. Sự tu tập về lý Trung đạo tức là xoay chuyển cuộc sống vô minh thà nh cuộc sống chánh giác, chuyển cuộc sống khốn quẩn bằng cuộc sống tự tại. Muốn thực hiện được như vậy, phải lấy việc thực chứng Trung đạo là m phương châm, và lấy việc xa lìa vô minh, hướng tới chánh giác là m động cơ để đạt được mục tiêu tối hậu. Do đó, có thể chứng minh cho chúng ta thấy con đường Trung đạo đoạn tận khổ đau và để đạt được an vui hạnh phúc ngay trong đời nà y, cho nên vắng nó thì vắng hạnh phúc và có mặt nó là có mặt giải thoát.

Trong thời đại hiện nay, với nền văn minh tiến bộ, với những kỹ nghệ hiện đại hóa phục vụ con người đầy đủ về vật chất sẽ đem lại hạnh phúc cho nhân loại, nhưng nà o ngờ khoa học cà ng văn minh, xã hội cà ng tiên tiến thì con người cà ng rơi và o khủng hoảng, ngà y đêm phập phòng lo sợ bởi suy thoái về đạo đức và môi sinh. Con người chỉ biết lao và o những lợi dưỡng cá nhân mà quên đi một hướng sống tốt đẹp và tâm linh, các cuộc chiến tranh nóng lạnh đang đe dọa con người. Ðã đến lúc cần phải báo động về những mối hiểm họa hủy diệt tập thể gây ra do chiến tranh nguyên tử, hóa chất và sự ô nhiỠm môi sinh đang hoà nh hà nh khắp nơi. Như thế con người có thật sự hạnh phúc hay không? Ðây là câu hỏi mà các nhà khoa học đang nặn óc kiếm tìm. Họ quên rằng câu hỏi nà y đã được Ðức Thích Ca Mâu Ni giải đáp cách đây 2026 năm về trước. Ngà i dạy rằng con người thật sự hạnh phúc khi đã đoạn tận lòng tham ái và chấp thủ. Con đường ra khỏi tham ái và chấp thủ chỉ có chúng ta chủ động và có thể thực hiện ngay trong hiện tại với cái nhìn trí tuệ của chính mình. Ðó chính là cái nhìn "vô ngã" hay "vô chấp thủ".

Ngay nơi hiện tại và tại đây, chúng ta đều hoà n toà n là m chủ cái tâm của mình, là m chủ con tà u chạy đến ga an lạc và hạnh phúc. Chính cái nhìn trí tuệ mà những gì mà nhân loại mong chờ. Bởi vì cái nhìn ấy chỉ rõ sự thật cuộc đời, hạnh phúc của con người và đưa ra ánh sáng tất cả các bí mật của cuộc sống.

Vậy hơn bao giờ hết, phương pháp cứu khổ hay con đường Trung đạo đã được Ðức Phật vạch ra. Chính phương pháp nà y đã giúp cho nhân loại xây dựng nên một nền tảng trí tuệ vững chắc và cũng chính con đường nà y đã giúp nhân loại tìm lại chất người của chính mình, đem lại an lạc, hạnh phúc, định tĩnh sau những giây phút tìm kiếm, dong ruỗi vô định của dòng thác loạn vật chất. Ðó là tư lương cho mỗi hà nh giả. Vậy chúng ta hãy sử dụng nó là m hà nh trang cho chính mình, hãy là m ngọn đuốc vén mà n vô minh đi và o giải thoát, như lời Phật dạy: "Các con hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi".

Ni Sinh Thích Nữ Tịnh Trí

-ooOoo-


Source: Phật học thường thức, Taiwan, https://www.phathocthuongthuc.com


[Trở về trang Thư Mục]