BuddhaSasana Home Page
This document is written in Vietnamese, with Unicode Times font


Suy nghĩ về một bộ kinh thánh Phật giáo

Thích Nhật Từ

[email protected]


-oOo-

I. Nhu cầu của một bộ kinh thánh Phật giáo - Những dấu hiệu đáng mừng và những điều lo ngại

Hầu hết các tôn giáo lớn trên thế giới đều có kinh thánh riêng và được sử dụng thống nhất trên toà n thế giới. Riêng Phật giáo cho đến ngà y hôm nay, do vì có nhiều tông phái và hệ phái, với số lượng kinh sách quá phong phú lên đến hà ng trăm tập, vẫn chưa có một bộ kinh thánh thống nhất nà o cả. Ðó là điều mà khi nghĩ đến người Phật tử có tâm huyết phải cảm thấy buồn tủi và đau lòng.

Tại Việt Nam, kể từ khi quý hòa thượng Thích Trí Tịnh, Thích Trí Quang, Thích Thanh Từ, Thích Thiện Siêu, thượng tọa Thích Tuệ Sỹ, thầy Ðoà n Trung Còn phiên dịch một số kinh điển quan trọng của Phật giáo đại thừa và A-hà m từ chữ Hán ra chữ Việt; hòa thượng Thích Minh Châu, hòa thượng Giới Nghiêm phiên dịch kinh tạng nguyên thủy từ chữ Pali, chúng ta tạm có đủ các kinh điển quan trọng của hai truyền thống Phật giáo Nam tông và Bắc tông.

Ðiều đáng mừng nhất là chỉ trong vòng gần 30 năm, toà n bộ 4 bộ Nikaya đầu và và i tập của Tiểu bộ Kinh đã được hòa thượng Thích Minh Châu phiên dịch ra tiếng Việt. Các tập tiểu bộ kinh còn lại đang được các thà nh viên của viện nghiên cứu Phật học Việt Nam tiếp tục phiên dịch. Các tập luận và luật tạng Pali cũng đã được cố hòa thượng Giới Nghiêm và quý sư Nam tông dịch và ấn hà nh trong những năm gần đây. Như vậy, trên căn bản, ba kho tà ng kinh điển Pali đã được dịch ra tiếng Việt và ấn hà nh. Ðây là một dấu hiệu đáng mừng cho việc truyền bá kinh điển Phật giáo bằng tiếng Việt tại nước Việt Nam.

Bên cạnh những điều đáng mừng đó vẫn còn nhiều điều đáng lo ngại. Thứ nhất, giá phát hà nh của các kinh nêu trên quá cao, vượt ngoà i khả năng mua của những gia đình Phật tử có mức sống trung bình. Khổ của các kinh chưa được nhất quán và thiếu tiêu chuẩn. Chất lượng giấy in quá kém, kỷ thuật thâu kết không đạt yêu cầu, khó có thể giữ lâu. Cách phân loại của đại tạng kinh Việt Nam không được rõ rà ng, không theo tiêu chuẩn quốc tế, gáy sách không có ghi tên các bộ kinh (chẳng hạn như Trường bộ kinh, Trung bộ kinh v.vẨ) và do đó có thể gây nhiều khó khăn cho người Phật tử trong việc học hỏi và nghiên cứu kinh điển. Văn phong bản dịch của đại tạng kinh Việt Nam còn quá nặng về ngôn ngữ chữ Hán, khó hiểu đối với quần chúng Phật tử, kể cả những người biết chữ hán. Kế đến, về góc độ nghiên cứu, các kinh điển trong đại tạng kinh Việt nam thiếu hẳn phần chú thích (cước chú hay hậu chú), các chỉ mục tham khảo (index) về thuật ngữ, nhân danh, địa danh và tên kinh ở phần cuối của mỗi tập kinh. Ðại tạng kinh Việt Nam thiếu hẳn tập tổng mục lục, tập hướng dẫn sử dụng và tự điển tra khảo, đối chiếu các thuật ngữ.

Ðiều đáng buồn nhất là với nỗ lực của các vị cao tăng và nhân sĩ Phật giáo trong việc phiên dịch, xuất bản các kinh điển Phật giáo bằng tiếng Việt, số lượng người mua và đọc các dịch phẩm ấy thật là ít ỏi và không đáng kể. Theo chúng tôi được biết mỗi kỳ ấn hà nh của các tập đại tạng kinh không quá 2026 bản, ấy thế mà có nhiều tập kinh được ấn hà nh gần 10 năm mà vẫn chưa phát hà nh hết. Ðiều đáng nói hơn nữa, cho đến hiện nay hầu hết các chùa và tịnh xá trong các tỉnh thà nh lớn đều không có một bộ đại tạng kinh Việt Nam trong thư viện hay tủ sách của chùa mình, nói chi đến các chùa và tự viện ở các tỉnh xa xôi và hẻo lánh, và nhất là các gia đình Phật tử khó khăn về kinh tế. Ðiều nà y đã dẫn đến một thực trạng là nhiều tăng ni và Phật tử không hề đọc qua đại tạng kinh Việt Nam. Có nhiều Phật tử còn không biết đến ba tạng kinh điển Phật giáo là gì. Cũng có nhiều người còn không biết đến lịch sử của đức Phật Thích-ca, người đã khai sáng ra đạo Phật. Nhiều người tuy đi chùa lỠPhật tụng kinh nhưng lại không hiểu các giáo pháp căn bản của đức Phật. Có nhiều lý do dẫn đến thực trạng đau lòng đó, mà một trong các nguyên nhân quan trọng là các kinh điển Phật giáo phần lớn không được dịch ra tiếng Việt. Các nghi thức tụng niệm ở các chùa tại Việt Nam cũng như hải ngoại phần lớn để nguyên âm vận chữ Hán, hoặc nếu được dịch ra tiếng Việt thì văn phong cầu kỳ, khó hiểu và quá nặng chữ Hán. Trong khi đó, đại tạng kinh Việt Nam lại không được phổ biến trong quần chúng, không được đưa và o tụng niệm trong các thời khóa hằng ngà y. Dần dà kinh điển Phật giáo chỉ được cất giữ trong các thư viện cổ kính, mà ít ai quan tâm đọc đến, huống là đem ứng dụng và o đời sống hằng ngà y. Thật là uổng phí biết bao!

Ðể tạo điều kiện giúp cho quần chúng Phật tử hiểu rõ lời Phật dạy, chúng tôi nghĩ rằng việc thà nh lập một bộ kinh thánh Phật giáo giản lược là rất cần thiết. Một bộ kinh thánh giản lược chỉ cần chứa đựng trong vòng 2026 trang, tóm thâu tất cả những lời dạy cao qúy và căn bản của đức Phật trong hai truyền thống Phật giáo Nam tông và Bắc tông. Bộ kinh thánh nà y nên được ấn tống rộng rãi, để mỗi chùa và từng gia đình Phật tử đều có và đọc được. Ðược như vậy thì thông điệp từ bi, trí tuệ và giải thoát của đức Phật sẽ chiếu sáng trên mọi góc đường, trong đời sống, tư duy và hà nh động của người Việt Nam.

II. Các khó khăn về việc hình thà nh một bộ kinh thánh Phật giáo

Mặc dù đã và đang có nhiều nỗ lực của các giáo hội, tổ chức và cá nhân Phật giáo trong việc phiên dịch kinh điển Pali và Sanskrit ra tiếng Mẹ đẻ, việc hình thà nh một bộ kinh thánh Phật giáo cho từng gia đình không phải không gặp nhiều khó khăn. Có những trở ngại mang tính khách quan như sau:

-- Thứ nhất, ba kho tà ng văn học Phật giáo (tam tạng kinh điển) được viết bằng hai hệ ngôn ngữ chính: hệ Pali và hệ Sanskrit. Hệ Pali chỉ được phát triển và truyền thừa ở các nước theo Phật giáo nguyên thủy. Trong khi đó, hệ Sanskrit lại được phát triển ở các nước theo Phật giáo Bắc tông, nhưng lại không còn đủ trọn bộ. Kế đến, kinh điển đại thừa lại được dịch ra nhiều thứ tiếng, trong đó quan trọng nhất là tiếng Tây Tạng và Trung Quốc. Hai thứ tiếng nà y lại là một trở ngại rất lớn cho người muốn tìm hiểu vì sự khó học, khó nhớ của nó.

-- Thứ hai là , khác với các kinh thánh của các tôn giáo khác như kinh thánh của Ky-tô giáo hay Koran của Hồi giáo, kinh thánh Phật giáo, dù là hệ Pali, là cả một kho tà ng gồm nhiều tập, lên tới nhiều ngà n trang giấy khổ lớn. Riêng ba kho tà ng kinh điển Pali thôi cũng đã lên tới gần 60 đầu sách. Mỗi quyển chứa trung bình từ 250 đến 400 trang. Kinh điển đại thừa lại còn nhiều hơn nữa. Chính vì thế, việc ấn hà nh một bộ kinh thánh Phật giáo khó được thực hiện.

Hơn thế nữa, do "ngôn ngữ tự điển" của các bản dịch, kinh điển Phật giáo chỉ trở nên quen thuộc trong giới học giả. Giới quần chúng thông thường lại không có cơ hội để tiếp xúc với kinh điển.

Ðó là chưa nói đến các khó khăn về tà i chánh in ấn và phổ biến. Các trở ngại nà y đã là m cho kinh điển Phật giáo trở thà nh các thư viện nghiên cứu của một số đối tượng, thay vì là của toà n thể quần chúng, từ bình dân đến trí thức. Tuy nhiên các khó khăn đó không phải là không thể khắc phục được, nếu chúng ta nhìn vấn đề từ góc độ duyên khởi: cái nà y có do cái kia có; cái nà y không có kéo theo cái kia không có. Do đó, nếu chúng ta tăng cường các trợ duyên, phương tiện và nỗ lực chất xám của nhiều người thì công việc trên sẽ có thể có một lối mở thích đáng.

III. Nội dung cần có của một bộ kinh thánh Phật giáo

Vì đạo Phật có 2 hai nhánh chính là Phật giáo nguyên thủy và đại thừa nên tuyển tập kinh thánh Phật giáo nên chứa đựng cả 2 nguồn kinh điển tiêu biểu của hai tông phái chính. Trên tinh thần đó, nên có 2 tuyển tập kinh thánh Phật giáo: một tuyển tập của kinh điển hệ Pali nguyên thủy và một tuyển tập của hệ Sanskrit đại thừa.

A. Ðối với tuyển tập kinh thánh nguyên thủy

1. Tạng Giới luật nên được tỉnh lược tối đa. Chỉ nên giữ lại phần cốt lỏi Ðại Phẩm (Mahavagga) và Tiểu Phẩm (Cullavagga). Các phần còn lại của tạng Luật không nên giới thiệu trong tuyển tập kinh thánh . Bởi lẽ các phần đó liên hệ thuần túy đến các điều khoảng, cách trị phạt, hệ thống tổ chức đời sống cộng đồng của người xuất gia; không có lợi ích nhiều cho người Phật tử tại gia. Kế giới giáo pháp của Phật không được chứa tải nhiều trong các phần giới luật nà y.

2. Không kèm tạng Luận trong tuyển tập kinh thánh . Bởi lẽ, ngôn ngữ của tạng Luận tuy sâu sắc nhưng khó hiểu với cách lý luận, mang phong cách phân tích nặng về triết học ngôn ngữ, nên không cần thiết cho giới Phật tử bình dân. Do đó không cần thiết giới thiệu và o trong bộ kinh thánh Phật giáo.

3. Chỉ tuyển chọn các kinh quan trọng trong 4 bộ Nikaya đầu bao gồm tuyển tập các bà i kinh dà i (Trường Bộ kinh), tuyển tập các bà i kinh trung bình (Trung bộ kinh), tuyển tập các bà i kinh theo chủ đề (Tương ưng bộ kinh) và tuyển tập các bà i kinh theo pháp số (tăng chi bộ kinh).

4. Về 15 tuyển tập thuộc Tiểu bộ kinh, chỉ nên tuyển chọn các phần tinh hoa trong 5 bộ đầu. Riêng kinh Pháp Cú thì nên giữ nguyên toà n bộ 423 bà i kệ, vì tính cô đọng và bao quát giáo pháp Phật của nó. Mười bộ từ thứ sáu trở đi nên được tỉnh lược.

Như vậy với cách chọn lọc nà y, bộ kinh thánh Nguyên thủy sẽ chiếm khoảng 2026 trang giấy, rất tiện lợi cho việc mang đi đây đó, thọ trì, đọc tụng và phổ biến.

B. Ðối với tuyển tập kinh thánh đại thừa

1. Về giới Bồ-tát, chỉ giới thiệu phần nội dung của 10 giới nặng và 48 giới nhẹ. Tỉnh lược toà n bộ phần dẫn nhập về nhân địa bồ-tát.

2. Toà n bộ phần Mật tạng và Luận tạng nên được tỉnh lược, vì quá nhiều và không cần thiết cho đại đa số quần chúng.

3. Ðối với các kinh điển đại thừa, cũng nên chọn lọc các kinh tiêu biểu mà thôi. Các kinh đại thừa nên được giới thiệu là : kinh Thủ Lăng Nghiêm, kinh Lăng Già , kinh Viên Giác, kinh Pháp Hoa, Kinh Duy-ma-cật sở thuyết, kinh Ðại Bảo Tích, kinh Bát-nhã, Kinh báo ân cha mẹ, Kinh Vu-lan. Riêng kinh Năng Ðoạn Kim Cang Bát-nhã ba-la-mật thì giữ trọn vẹn. Không nên giới thiệu các kinh Dược Sư, Ðịa Tạng và các kinh thần chú, vì tính chất van xin và cầu nguyện trong các kinh nà y đã đi ngược lại vơi với tinh thần lời dạy nguyên thủy của đức Phật.

4. Ðối với các kinh đại thừa vừa nêu trên, cũng nên tuyển chọn các phẩm kinh tiêu biểu chứ không cần giới thiệu toà n bộ các phẩm trong kinh.

Với cách chọn lọc nà y, bộ kinh thánh Ðại thừa sẽ chiếm khoảng 2026 đến 1500 trang giấy.

Như vậy cả hai bộ kinh thánh Phật giáo nguyên thủy và đại thừa gộp lại sẽ chiếm khoảng 2000-2500 trang giấy. Nếu in trên giấy mỏng và tốt thì bộ kinh thánh chỉ cần chứa trong 2 tập, tập 1 là kinh thánh nguyên thủy và tập 2 là kinh thánh đại thừa. Tuy nhiên cách phân bổ số tập cũng có thể linh động, bằng cách chia đều mỗi tập 500 trang. Như vậy có tất cả là 5 tập, tập 1 và 2 thuộc kinh thánh nguyên thủy và 3 tập còn lại thuộc kinh thánh đại thừa. Nếu tính luôn bản nguyên tác Pali và Sanskrit thì số lượng tập của bộ kinh thánh Phật giáo có thể tăng lên gấp đôi.

IV. Phương cách trình bà y bộ kinh thánh Phật giáo

1. Cả hai tuyển tập kinh thánh nên được trình bà y theo một trật tự từ thấp đến cao, từ nhân thừa đến Phật thừa. Không nên trình bà y theo cấu trúc truyền thống là kinh luật luận, vì hai kho tà ng luật luận đã được tỉnh lược khỏi tuyển tập kinh thánh nà y.

2. Nên đặt lại tựa đề của các bà i kinh (trong trường hợp kinh điển Pali), các phẩm kinh (trong trường hợp kinh điển đại thừa), theo nội dung và chủ để của chúng. Tuy nhiên phải ghi chú tên nguyên gốc để giúp người đọc có thể đối chiếu khi cần thiết.

3. Ðánh số thứ tự lại trật tự của các bà i kinh, số đoạn một cách có hệ thống để tiện cho việc tham khảo dọc. Số thứ tự được đánh theo từng bà i kinh. Sang bà i kinh khác thì số thứ tự được đánh lại từ đầu. Ví dụ đoạn thứ nhất của bà i kinh thứ nhất được đánh số là 1: 1. Ðoạn thứ ba của bà i kinh thứ nhất được đánh số là 1: 3. Nếu chi tiết hơn, chúng ta có thể đánh dấu số trang cho chúng. Ví dụ nếu đoạn một của kinh thứ nhất đó nằm ở trang 3 thì ta ghi như sau: 1: 1 : 3. Tương tự nếu là đoạn thứ 3 của kinh thứ 2 thuộc trang 8 thì ta ghi như sau: 2 : 3 : 8.

4. Nên đặt chủ đề cho từng ý tưởng chính trong kinh. Các chủ đề chính được đánh dấu bằng một co chữ in lớn (ví dụ co 13) trong khi các ý tưởng nhỏ hay trực thuộc nên được đánh dấu bằng một co chữ in nhỏ hơn (ví dụ 11). Việc đặt chủ đề như trên sẽ giúp cho người đọc có được manh mối để ghi nhớ và suy tư lời Phật dạy trong khi tụng niệm.

5. Ðối với các kinh nguyên thủy, nên tỉnh lược các đoạn trùng lập (vốn chỉ có giá trị trong truyền thống truyền miệng) bằng các ký hiệu mặc ước (ví dụ [Ẩ]) để ý tứ của mạch văn được cô đọng và rõ rà ng hơn. Ngoà i ra, việc tỉnh lược nà y còn giúp tiết kiệm giấy mực hay nói khác hơn giảm bớt kinh phí ấn loát và phát hà nh.

6. Viết lại một cách ngắn gọn, cô đọng, đầy đủ nghĩa các đoạn mở đầu các bà i kinh thà nh 1 hoặc 2 dòng, thay vì nửa trang giấy như nguyên tác. MiỠn sao việc tỉnh lược đó hoà n toà n không ảnh hưởng đến nội dung chính của kinh là được. Tuy nhiên cũng nên có các ký hiệu cho biết đây là đoạn đã được biên tập ngắn lại.

V. Phương pháp tổ chức biên soạn bộ kinh thánh Phật giáo

1. Ðể bộ kinh thánh Phật giáo được sử dụng thống nhất trên khắp thế giới, ngôn ngữ của kinh thánh nà y phải được thể hiện qua ba thứ tiếng căn bản là Pali, Sanskrit và tiếng Anh. Nói cách khác công việc biên tập trước nhất phải được tiến hà nh theo ngôn ngữ gốc của kinh điển. Ðối với tuyển tập kinh thánh nguyên thủy, trước nhất phải được biên tập từ tiếng Pali. Ðối với tuyển tập kinh thánh đại thừa, việc biên tập được thực hiện từ tiếng Sanskrit. Khi ấn bản la-tinh hóa của hai tuyển tập kinh thánh nà y hoà n tất, chúng ta tiến hà nh đến việc phiên dịch ra bản tiêu chuẩn tiếng Anh. Các nước Phật giáo trên khắp thế giới có thể tham khảo bản tiếng Anh trong khi phiên dịch hai ấn bản Pali và Sanskrit ra tiếng mẹ đẻ của mình. Nói dỠhiểu hơn, phần kinh thánh nguyên thủy được trình bà y qua tiếng Pali đã la-tinh hóa, trong khi phần kinh thánh đại thừa được trình bà y qua tiếng Sanskrit, như chính nguyên tác ngôn ngữ của chúng. Ấn bản tiếng Anh đính kèm là bản tham khảo đối chiếu cho các bản dịch ra tiếng mẹ đẻ của các dân tộc trên thế giới. Riêng chúng ta là người Việt Nam, thì bộ kinh thánh Phật giáo bao gồm 2 ấn bản, ấn bản nguyên gốc Pali và Sanskrit và ấn bản tiếng Việt. Ấn bản nguyên gốc để nhằm và o mục đích tra cứu, tham khảo nguyên tác. Ấn bản tiếng Việt là ấn bản chính mà các chùa, tự viện, tịnh xá, tịnh thất, niệm Phật đường và các gia đình Phật từ cần phải có ít nhất một bộ trong chùa hay trong nhà mình. Về lâu về dà i, mỗi người con Phật dù tại gia hay xuất gia đều có trong tay một bộ kinh thánh Phật giáo đó.

2. Ðể thực hiện công việc biên tập trên, phải thà nh lập một ban biên tập gồm các vị cao tăng, danh tăng, cư sĩ có tâm huyết với Phật pháp và các học giả Phật giáo trên khắp thế giới. Thà nh viên của Ban biên tập nà y phải là những người đại diện cho tiếng nói của Phật giáo trong một nước. Do đó các thà nh viên phải là người được đề cử của giáo hội Phật giáo trong một nước hay của một tổ chức Phật giáo nà o đó hay của các trường đại học Phật giáo nổi tiếng trên thế giới.

3. Trước nhất, số lượng bà i kinh cũng như các kinh của hai truyền thống được tuyển chọn và o bộ kinh thánh Phật giáo phải được thảo luận rộng rãi. Các ý kiến đóng góp của quần chúng tăng ni Phật tử trên khắp thế giới phải được tham khảo và nghiên cứu kỷ lưỡng, để hoà n thiện nội dung của bộ kinh thánh Phật giáo. Sau khi thống nhất về các bà i kinh được tuyển chọn, ban biên tập tiến hà nh công tác biên tập, theo các tiêu chí nêu ở mục IV.

4. Một khi văn bản nguyên tác Pali và Sanskrit đã được biên tập và hệ thống hóa, bản dịch tiếng Anh cần được tiến hà nh tiếp theo sau. Sau đó, phổ biến rộng rãi trên khắp thế giới, để các ban biên tập và phiên dịch địa phương trong một nước nà o đó tiến hà nh dịch ra tiếng mẹ đẻ của mình, chẳng hạn như tiếng Trung Quốc, Pháp, Ðức, Nhật, Liên Xô, Miến Ðiện, Thái, Tích Lan v.vẨ

5. Văn phong cá»§a các bản dịch kinh thánh Phật giáo phải là một loại văn phong thuần ngôn ngữ mẹ đẻ cá»§a từng dân tộc và quốc gia. Phong cách ngôn ngữ dịch thuật tuy có nhiều loại tùy theo trình độ, sở thích và phong cách riêng cá»§a người dịch, có thể chia thà nh 2 dạng chính: dạng ngôn ngữ tá»± giải thích và dạng ngôn ngữ tá»± điển. Dạng thứ nhất là phong cách chuyển ngữ văn bản kinh điển gốc sang tiếng được chuyển ngữ theo một văn phong thuần chất cá»§a người bản địa. NghÄ©a là tá»± bản thân các từ ngữ thuật ngữ được diá» n tả đã mang tính giải thích rõ rà ng. Người đọc kinh điển không cần phải tra cứu các bộ tá»± điển Phật học để tìm hiểu ý nghÄ©a cá»§a chúng. Trái lại, dạng thứ hai là dạng sá»­ dụng quá nhiều từ ngữ, thuật ngöõ chuyên ngà nh Phật học, hoà n toà n xa lạ với quần chúng. Ðây là loại văn dịch theo phong cách kinh viện, phải cần đến tá»± điển mới hiểu được ý nghÄ©a chứa đựng trong nó. Văn phong cá»§a bản dịch cá»§a kinh thánh Phật giáo phải là loại văn phong thuần ngôn ngữ mẹ đẻ, để giúp cho người Phật tá»­ đọc hiểu dá» dà ng và ứng dụng không trở ngại. Rõ rà ng để có một văn phong như vậy, ban biên dịch cá»§a từng nước trên thế giới phải cần đến sá»± nhuận văn cá»§a các văn gia và thi sÄ© lỗi lạc trong mỗi nước, trước khi bản dịch được đem đi in ấn.

6. Bản dịch từ bản Pali và Sanskrit ra tiếng mẹ đẻ (hay tiếng địa phương) phải được các hội đồng đại diện của một nước phụ trách. Hội đồng đó có thể bao gồm các tu sĩ, cư sĩ và học giả Phật lỗi lạc và tinh thông Phật pháp trong một nước.

7. Ðể bộ kinh thánh Phật giáo nà y có trong tay từng tu viện và gia đình Phật tử, Ban biên tập có thể vận động các tổ chức từ thiện Phật giáo trên khắp thế giới ủng hộ phần kinh phí ấn tống bộ kinh thánh Phật giáo. Ngoà i ra, các đại diện của một nước cũng nên vận động ấn tống hay phát hà nh bộ kinh thánh Phật giáo trên tinh thần không lời không lỗ, để bạn đọc Phật giáo có thể mua dỠdà ng. Giá ấn bản, nếu không phải ấn tống, nên bằng với giá chi phí ấn loát thực tế. Có như vậy thì mỗi tăng ni và gia đình Phật tử đều có thể có trong tay một bộ kinh thánh Phật giáo để đọc tụng và thực hà nh lời Phật dạy ở mỗi nơi và mọi lúc.

VI. Thay lời kết

Những điều được trình bà y bên trên chỉ là nguyện vọng của cá nhân chúng tôi trong việc mong mỏi có một bộ kinh thánh Phật giáo thống nhất trên khắp thế giới. Nguyện vọng tuy chánh đáng nhưng việc thực hiện không phải là chuyện dỠdà ng. Mặc dù có nhiều khó khăn nhưng công việc cần thiết nà y không phải không thực hiện được. Chúng tôi mong sao các nhà lãnh đạo Phật giáo, các nhân văn trí thức Phật giáo trên khắp thế giới lưu tâm nhiều hơn về vấn đề nà y, để sớm có ngà y ngồi lại bên nhau phát thảo công trình biên tập một bộ kinh thánh Phật giáo trong vòng 2026 trang. Những điểm cần thảo luận chi tiết cho công trình nà y là :

-- Những kinh điển nà o cần được đưa và o trong bộ kinh thánh Phật giáo.

-- Những phần nà o nên được tỉnh lược và loại ra khỏi bộ kinh thánh Phật giáo.

-- Phong cách trình bà y lời Phật dạy một cách có hệ thống, từ thấp đến cao, để giúp cho người đọc dỠnhớ và ứng dụng và o trong cuộc sống.

-- Văn phong của bản dịch phải đơn giản, phổ thông và quen thuộc với ngôn ngữ đời sống hằng ngà y của từng quốc gia và dân tộc trên thế giới.

Ðược như vậy, người viết tin chắc rằng lời Phật dạy sẽ được nhiều người biết đến, sự ứng dụng Phật pháp và o cuộc sống sẽ có nhiều lợi ích hơn, và do đó, cuộc sống con người hôm nay và mai sau sẽ an lạc và hạnh phúc hơn trong ánh sáng chánh pháp của đức Phật./.

-oOo-


Source: Ðạo Phật Ngà y Nay - Buddhism Today, https://members.xoom.com/budtoday/


[Trở về trang Thư Mục]