BuddhaSasanaHome Page
This document is written in Vietnamese, with Unicode Times font


Kinh Thủy tịnh hà nh (Sangârava)

Hòa thượng Thích Thiện Châu


I - Chánh kinh

Lúc bấy giờ , Thế tôn ở tại Sâvatthi, và Bà lamôn Sangârava cũng ở tại Sâvatthi (1) là nhà Thủy tịnh hà nh (2) tin tưởng nhờ nước được thanh tịnh, chiều sáng sống theo hạnh tắm nước.

Rồi tôn giả Ânanda, và o buổi sáng đắp y, cầm y bát, và o Sâvatthi khất thực. Sau khi khất thực ở Sâvatthi, dùng cơm xong, trên đường khất thực trở về, đi đến Thế tôn; Sau khi đến, kính lỠThế tôn rồi, Ngồi xuống một bên.

Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ânanda bạch Thế tôn: "Bạch Thế tôn, có Bà lamôn Sangârava tại Sâvatthi, là nhà Thủy tịnh hà nh, tin tưởng nhờ nước được thanh tịnh, chiều sáng sống theo hạnh tắm nước. Là nh thay, Thế tôn, nếu Thế tôn dủ lòng thương xót đi đến trú xứ của Bà lamôn Sangârava.".

Thế tôn im lặng nhận lời.

Rồi Thế tôn và o buổi sáng đắp y, cầm y bát đi đến trú xứ của Bà lamôn Sangârava, sau khi đến, ngồi trên chỗ soạn sẵn.

Rồi Bà lamôn Sangârava đi đến Thế tôn; Sau khi đến, chà o hỏi Thế tôn; Sau khi chà o hỏi thân hữu, ngồi xuống một bên.

Thế tôn nói với Bà lamôn Sangârava đang ngồi một bên: "Có thật chăng, nầy Bà lamôn, người là nhà Thủy tịnh hà nh, tin tưởng nhờ nước được thanh tịnh, chiều sáng sống theo hạnh tắm nước?"

"Ðúng như thế, tôn giả Gotama".

"Nầy Bà lamôn, nhắm đến lợi ích gì mà người là nhà Thủy tịnh hà nh, tin tưởng nhờ nước được thanh tịnh, chiều sáng sống theo hạnh tắm nước?"

"Nơi đây, tôn giả Gotama, tôi ban ngà y tạo nghiệp ác (3) thì buổi chiều tắm để gột sạch, ban đêm tạo nghiệp ác, thì buổi sáng tắm để gột sạch. Tôn giả Gotama, vì nhắm đến lợi ích ấy mà tôi là nhà Thủy tịnh hà nh, tin tưởng nhờ nước được thanh tịnh, chiều sáng sống theo hạnh tắm nước."

" Nầy Bà lamôn, chánh pháp (4) là ao hồ, giới (5) là bến nước, không nhớp nhúa, được thiện nhân ca ngợi. Ấy thật là nơi bậc minh trí tắm thân thể sạch sẽ, chứng qua bờ bên kia (6)"

Nghe nói như vậy, Bà lamôn Sangârava bạch Thế tôn: "Thật là vi diệu, Tôn giả Gotama; mong Tôn giả Gotama nhận con là m đệ tử cư sĩ (7); Từ nay cho đến chết, con xin trọn đời qui y."

II- Chú thích

Câu (1) và đoạn nầy được dịch thoát để khỏi rườm rà và rõ rà ng.

Thủy tịnh hà nh: tu hà nh theo sự tin tưởng nước có thể trừ sạch các nghiệp ác.

Nghiệp ác: các hà nh động xấu xa, ác hại đưa đến kết quả đau khổ cho mình, cho người trong hiện tại và tương lai. Theo Phật giáo có 10 nghiệp ác: về thân có 3 (sát sanh, trộm cướp, tà hạnh), về miệng có 4 (nói dối, nói thêu dệt, nói hai lưỡi, nói thô ác), về ý có 3 (tham lam, tà n bạo, hiểu sai).

Chánh pháp (Dharmma, Dharma): ở đây có ý nghĩa Chân lý hay là Ðạo lý do Phật tổ giảng dạy, tóm tắt trong 4 chân lý vi diệu: khổ, khổ nhân, khổ diệt và con đường đưa đến khổ diệt (đạo). Ðạo lý nầy nói rõ thực tế của cuộc đời (khổ, khổ nhân) và lý tưởng giải thoát (khổ diệt, đạo). Chánh pháp là ao hồ có nghĩa là chánh pháp có khả năng trừ sạch các nghiệp ác, nguyên nhân của đau khổ, cũng như nước ở ao hồ có thể trừ sạch bụi bậm dính nơi người, nguyên nhân của ghẻ hủi.

Giới (sîla): Giới là trạng thái tâm ý hay ý chí quyết định không là m hay là m, không nói hay nói, thể hiện qua ngôn ngữ và hà nh động. Ở đây có nghÄ©a là thiện giới (kusalasîla), nền tảng cá»§a tất cả hà nh trình trong Phật giáo, và là 1 trong 3 điều tu học: giới, định, tuệ. Rõ hÆ¡n, giới chỉ cho các giới điều như 5, 8, 10, 227 hoặc 250 giới, v.v... Giới trong nghÄ©a rộng là giáo pháp cá»§a Phật mà bà i kệ sau đây có thể tóm tắt:

Bỏ các điều ác,
Là m các điều là nh,
Thanh tịnh tâm ý,
Ấy lời Phật dạy.  -- (Pháp cú, 183)

Giới là bến nước có nghĩa từ bến giới người ta có thể ra tới ao hồ Chánh pháp để rồi gột sạch tất cả bụi trần phiền não.

Bờ bên kia: giác ngộ giải thoát hoà n toà n, tức là Niết bà n không còn sống chết luân hồi đau khổ.

Cư sĩ: Những người vẫn sống với gia đình, xã hội, song lấy chánh pháp là m kim chỉ nam cho cuộc sống tâm linh. Nói cách khác, cư sĩ là người qui y ba ngôi báu và sống theo năm giới.

III- Luận giải

Bản kinh nầy rút ra từ "Tương ưng bộ" (Samyuttanikâya) tập I, trang 182-183 (Pâli Text Society).

Nội dung kinh là Phật giáo hoá cho Bà lamôn Sangârava, nhà Thủy tịnh hà nh. Trong thời Phật có những người tin rằng nước có quyền năng thần lực có thể trừ sạch tội lỗi; Do đó, họ thường tắm rửa với mục đích là được thanh tịnh. Ngà y nay, ở Ấn Ðộ cũng còn rất nhiều người tin tưởng và tu hà nh như thế. Rất nhiều người Ấn Ðộ tin rằng sông Hằng (Gange), nhất là ở khúc sông chảy qua Bénarès (Vanarasi) là thiêng liêng. Người sống tắm rửa ở sông Hằng thì hết tội được phước. Người chết mà xương tro hay thể xác, nếu được bỏ xuống sông Hằng thì linh hồn được lên thiên giới. Không riêng gì ở Ấn Ðộ, ở Âu Mỹ cũng có một và i giáo phái, có lẽ vì ảnh hưởng của Ấn Ðộ giáo, vẫn giữ phép rửa tội bằng nước, người chịu phép rửa tội phải ngụp lặn xuống nước. Ở Nhật bản cũng có nhiều người theo Thủy tịnh hà nh, người ta thường ngâm tắm ở các suối nước, ngay cả trong mùa đông, như một hà nh động tu dưỡng và cầu nguyện.

Phật tổ không hề bác bỏ quan niệm thanh tịnh hoá thân tâm của Bà lamôn Sangârava mà chỉ khuyên ông ta thay đổi phương pháp tu hà nh: thay vì rửa tội bằng nước thì nên thanh tịnh hoá thân tâm bằng cách sống đạo và giữ gìn giới luật, bỏ ác là m là nh, giữ gìn tâm ý cho trong sạch.

Lý lẽ thật là rõ rà ng và giản dị. Nghiệp ác không gì khác hơn là những hà nh động, lời nói, ý nghĩa xấu hại cho mình, cho người trong hiện tại cũng như tương lai. Do đó muốn trừ sạch nghiệp ác, không thể là m cách nà o khác hơn là dừng lại nghiệp ác và tạo ra nghiệp là nh và lần lần không còn tạo ra nghiệp nữa. Quan trọng và xâu sa hơn là gạn lọc tâm ý bằng thiền quán không để cho tâm ý nhơ bẩn bởi tham sân si mà là m cho tâm ý sáng đẹp với từ bi trí tuệ. Nói cách khác giữ gìn giới luật và sống theo Chánh pháp là phương pháp có hiệu quả nhất trong sự nghiệp tu hà nh tức là thanh tịnh hoá thân tâm. Phương pháp nầy được các bậc minh trí là m theo và kết quả là vượt khỏi dòng sống chết khổ đau và đạt đến bờ bên kia giác ngộ, giải thoát, an vui tự tại.

Có lẽ ngà y nay trong giới Phật giáo không có những nhà Thủy tịnh hà nh, song không phải không có những người tin tưởng hời hợt một cách tương tợ. Có nhiều người hiểu lầm tu dưỡng là kiêng cử: người ta ăn chay, giữ giới để không phạm và o những điều Phật cấm mà không biết rằng ăn chay chỉ là vì từ bi, giữ giới là vì thanh tịnh. Có nhiều người hiểu sai tu hà nh là cúng lỠ: người ta quá bận rộn với nghi thức lỠbái mà không biết đó chỉ là hình thức diỠn tả lòng cung kính mà chưa phải là tu hà nh. Ðó là chưa kể đến những người mê tín dị đoan và những người "tà mạng" sống nhờ và o mê tín dị đoan. Trong số người theo chơn Phật, có không ít những người chấp chước hình thức bên ngoà i mà không đi sâu và o đời sống tâm linh hoặc chỉ dừng lại ở nấc thang "tín ngưỡng" mà không bước lên nấc thang tu dưỡng. Tin đạo là tốt song chưa đủ. Tu đạo, chứng đạo mới là thiết yếu cho những người muốn giác ngộ, giải thoát như Phật.

Thích Thiện Châu dịch từ Pâli


Source: Người Cư Sĩ, France, https://www.multimania.com/cusi/


[Trở về trang Thư Mục]