BuddhasasanaHome Page
This document is written in Vietnamese, with Unicode Times font


Cuộc Ðời Ðức Phật

Bình Anson


Ngà y rằm tháng tư âm lịch mỗi năm là một ngà y đặc biệt cho tất cả các Phật tử trên thế giới. Theo truyền thống Theravada (Nguyên thủy, Nam tông), đó là ngà y Tam Hợp - Vesakha (Vesak) - kỷ niệm ngà y sinh (Phật Ðản), ngà y chứng đắc (Thà nh Ðạo), và tịch diệt (Ðại Niết Bà n) của Ðức Phật. Trong khi đó, một số các quốc gia theo truyền thống Mahayana (Ðại thừa, Bắc tông) cử hà nh ba dịp trọng đại trên và o ba ngà y khác nhau trong năm. Tuy nhiên, ngà y rằm tháng tư được xem như là ngà y lỠPhật giáo quan trọng nhất, và đã được toà n thể các tông phái Phật giáo thống nhất và o kỳ Ðại hội lần thứ VI của Phật giáo Thế giới năm 2026 [1].

Ðến nay, mọi người đều thống nhất rằng Ðức Phật sinh ra trong đêm trăng rằm tháng tư âm lịch năm 623 trước Công Nguyên (CN), tại vườn Lumbini (Lâm Tỳ Ni), ngoại ô thà nh Kapilavatthu (Ca Tỳ La Vệ), ngà y nay thuộc xứ Nepal, gần biên giới Ấn Ðộ [1]. Thân phụ Ngà i là vua Suddhodana (Tịnh Phạn) và thân mẫu là hoà ng hậu Maha Maya (Ðại Tịnh Diệu). Ngà i thuộc sắc tộc Sakya (Thích Ca), có họ Gotama (Cồ Ðà m), và được vua cha đặt tên là Siddharta (Tất Ðạt Ða), có nghĩa là Như Ý. Năm 16 tuổi, Ngà i lập gia đình với công chúa Yasodhara (Gia Du Ðà La) và có một người con trai, tên là Rahula (La Hầu La).

Năm 29 tuổi, Ngà i rời bỏ cung và ng, vượt sông Anoma (một chi nhánh của thượng lưu sông Gange - Hằng hà ), tầm sư học đạo, sống một cuộc đời du tăng. Sau 6 năm học hỏi với nhiều bậc đạo sư nỗi tiếng thời đó với nhiều pháp môn tu tập khác nhau, Ngà i cảm thấy vẫn còn nhiều vướng mắc, và vẫn không tìm ra được con đường giải thoát tối hậu.

Cuối cùng, Ngà i quyết định không sống lệ thuộc và o một vị đạo sư, một pháp môn nà o cả. Từ bỏ lối tu khổ hạnh hà nh xác, Ngà i bắt đầu đi khất thực trở lại để phục hồi sức khỏe, và tham thiền dưới cội cây assatha (ficus religiosa), sau nầy được gọi là cây bồ đề (bodhi), trong vùng Gaya - ngà y nay được gọi là Bodhgaya, Bồ Ðề Ðạo Trà ng, bên bờ sông Neranjara (Ni Liên Thuyền).

Ngà i lập tâm nhất quyết nỗ lực cùng tột bất thối chuyển: "Dù chỉ còn da, gân và xương, máu và thịt đã cạn khô và tan biến, ta nguyện không xê dịch chỗ nầy cho đến khi chứng ngộ Toà n Giác (samma-sambodhi)". Và o đêm rằm tháng tư năm 588 trước CN, Ngà i nhập định tham thiền, quán niệm hơi thở và chân tâm, an trú và o bốn tầng thiền-na (jhana), rồi hướng tâm hồi tưởng các tiền kiếp. Và o cuối canh một đêm đó, Ngà i chứng đạt trí tuệ "túc mạng minh". Sau đó, Ngà i hướng tâm quán triệt nguyên do đưa đến sự sinh tử của mọi loà i, về luật nghiệp quả, và và o cuối canh hai, Ngà i chứng đạt "thiên nhãn minh". Sau đó, Ngà i quán triệt sự chấm dứt các lậu hoặc, quán triệt Khổ, Khổ tập, Khổ diệt, và con Ðường diệt khổ (Tứ Diệu Ðế), và chứng đạt "lậu tận minh".

Lậu đã tận diệt, tuệ đã toà n khai, Ngà i quán triệt chân lý và giác ngộ, trở thà nh một vị Chánh Ðẳng Chánh Giác (Samma Sambuđho), và được xem như là đã nhập Niết Bà n Hữu Dư Y (Sopadisera Nibbana Dhatu), nghĩa là trạng thái tâm trí hoà n toà n giải thoát nhưng thân xác vẫn còn tồn tại. Lúc đó Ngà i được 35 tuổi.

Bà i giảng đầu tiên của Ngà i là bà i kinh Chuyển Pháp Luân (Dhammacakkappavattana), giảng cho 5 anh em Kondanna (Kiều Trần Như), đệ tử đầu tiên, tại vườn Lộc Uyển gần thà nh Benares (Ba Na Lại). Ðây là bà i giảng tóm tắt tinh hoa của đạo giải thoát, là một Trung Ðạo (Majjhima Patipada) không lệ thuộc và o hai cực đoan của việc nô lệ dục lạc và việc hà nh khổ thân xác, bao gồm bốn sự thật phổ quát (Tứ Diệu Ðế) và con đường diệt khổ gồm 8 phần chính yếu (Bát Chánh Ðạo) [2].

Từ đó trong suốt 45 năm, Ngà i đi truyền giảng con đường giải thoát, thu nhận đệ tử, có người xuất gia theo Ngà i và lập thà nh Tăng đoà n (Sangha), có người cũng còn tại gia, gọi là các cư sĩ. Vùng truyền giáo của Ngà i là vùng Ðông Bắc Ấn Ðộ giáp biên giới xứ Nepal, dọc theo các nhánh sông thượng nguồn sông Gange (sông Hằng).

Ngà i thường được gọi là Ðức Phật Cồ Ðà m (Buddha Gotama). Chữ "Phật" là tiếng gọi tắt cá»§a "Phật Ðà ", phiên âm từ chữ Phạn "Buddha" - người bình dân Việt Nam có nÆ¡i gọi là ông Bụt - nghÄ©a là người đã giác ngộ (Giác Giả) . Trong các kinh sách ghi lại, Ngà i thường tá»± gọi mình là Tagatatha (Như Lai). Trong kinh điển, Ðức Phật có 10 danh hiệu: ­ng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng SÄ©, Ðiều Ngá»± Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Thế Tôn, Phật [1].

Ngà i giảng rất nhiều chủ đề cho nhiều hạng người khác nhau, tùy theo tâm tính, căn cơ, hoà n cảnh của họ, để giúp họ thăng tiến trên đường tu tập. Thực tế nhất là 37 phẩm trợ đạo (hay 37 phần bồ đề) mà Ngà i đã tóm tắt lại trong những ngà y cuối của cuộc đời tại thế của Ngà i: 4 Niệm xứ, 4 pháp Chánh cần, 4 điều Như ý, 5 Căn, 5 Lực, 7 Giác chi, và 8 Chánh đạo [3].

Ðức Phật tịch diệt năm 543 trước CN, lúc Ngà i 80 tuổi, tại khu rừng cây sala, gần thà nh Kusinara (Câu Thi La). Ðêm đó, sau khi nhập và xuất tám bậc thiền, Ngà i nhập Niết Bà n Vô Dư Y (Anupadisera Nibbana Dhatu) - hay Ðại Niết Bà n (Maha Parinibbana) - nghĩa là Niết Bà n với thân xác không còn mầm sống tồn tại trong thế gian. Lúc đó là canh cuối cùng của đêm rằm tháng tư. Lời dạy cuối cùng của Ngà i là :

"Nầy các vị Tỳ kheo, nay Ta khuyên bảo chư vị: tất cả các pháp hữu vi đều vô thường, hãy tinh tấn, chớ có phóng dật" [3].

Các bà i giảng của Ngà i được kết tập lại thà nh bộ Kinh Tạng (Sutta Pitaka). Các điều giới luật cho các vị tu sĩ được kết tập thà nh bộ Luật Tạng (Vinaya Pitaka). Ngoà i ra còn nhiều bà i giảng đặc biệt khác mà về sau nầy được đúc kết lại trong bộ A Tỳ Ðà m (Abhidhamma Pitaka). Ba tạng nầy kết hợp thà nh bộ Tam Tạng Kinh Ðiển của Phật Giáo ngà y nay.


Tham Khảo

[1] Narada Mahathera (2026), The Buddha and His Teachings, Buddhist Publication Society, Sri Lanka (Ðức Phật và Phật Pháp, bản dịch Việt ngữ của Phạm Kim Khánh)
[2] Thích Nhất Hạnh (2026), Ðường Xưa Mây Trắng, Lá Bối, France
[3] Sister Vijira and Francis Story (1988), The Maha Parinibbana Sutta, Buddhist Publication So-ciety, Sri Lanka.


Bình Anson,
Mùa Phật Ðản 1995
(Hiệu đính: 04/1996; 04/1998)
Perth, Western Australia