BuddhaSasana Home Page
This document is written in Vietnamese, with Unicode Times font


Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam
Phật Học Khái Luận -- Thích Chơn Thiện
In Lần Thứ Hai - 2026


 

  

Chương Một - Phật Bảo
Tiết I

Lược sử Ðức Phật


Nhận Xét Về Sử Liệu.

Có rất nhiều sử liệu ghi lại khác nhau về ngà y, tháng, năm liên hệ đến các sự kiện lịch sử đức Phật. Các nhà học giả Phật giáo và các nhà nghiên cứu Phật học đã nêu nhiều lý do về sự sai biệt đó. Chẳng hạn, Lương Khải Siêu trong tập "Phật học Nghiên cứu Thập bát thiên" cho rằng: "Vì người Ấn Ðộ xem thường lịch sử, vả lại, quan niệm thời gian của họ rất mơ hồ, nên những sách vở Ấn ngữ đối với niên đại sanh diệt của đức Phật không một sách nà o chép rõ rà ng, minh xác" (1). Về điều nà y, không hẳn là người Ấn không có quan niệm rõ rà ng về thời gian, hay không có quan niệm lịch sử rõ rà ng. Lịch sử cho thấy người Ấn có quan niệm lịch sử sớm nhất, đặc biệt là ở Phật giáo. Chúng ta có thể nhìn thấy nhiều sử liệu qua năm Nikà yas và bốn A-hà m (Agamas), qua bia ký của vua A-dục (Asoka), trong Thiện Kiến Luật, Tỳ-bà -sa, A-tỳ-đạt-ma v.v...

Người viết nghĩ rằng sự sai khác về các niên đại lịch sử đức Phật có thể là do các lý do đơn giản sau đây:

- Lịch ghi của các nước thời xưa khác nhau, và các lịch ghi ấy lại khác hẳn với Tây lịch mà thế giới hôm nay đang dùng, nó cũng khác hẳn với âm lịch của Trung Hoa.

- Thời đức Phật tại thế, gồm cả kỳ kiết tập đầu tiên, các vị tu sĩ thiếu điều kiện ghi chép, chỉ trùng tuyên. Khi trùng tuyên, các vị đệ tử thường nhớ rõ nội dung giáo lý giải thoát mà khó nhớ đúng ngay, tháng của các sự kiện lịch sử, hoặc không chú ý ghi lại các ngà y, tháng ấy... Cũng có thể các sử liệu ghi lại đúng các ngà y, tháng lịch sử, nhưng trải qua các thay đổi, chiến tranh, các thế kỷ truyền thừa v.v... các sử liệu ấy bị thất lạc, hoặc bị ghi chép sai lầm.

- Có khi do sự tranh chấp ảnh huởng giữa các học phái mà ngà y, tháng, năm ra đời của đấng Giáo chủ hay của hệ tư tưởng bị sửa lại khác đi, như trường hợp cạnh tranh ảnh hưởng Phật, Lão, Khổng ở Trung Hoa.

- Cũng có thể có các tà i liệu giả do ngoại đạo đánh tráo và o các tà i liệu lịch sử của Phật giáo để phục vụ ý đồ của ngoại giáo.

- Cũng có thể do các lý do xã hội, chính trị của các thời đại, tà i liệu bị ghi lại lệch đi, hoặc do sự ghi chép chủ quan và bị giới hạn của người biên khảo.

- Cũng có thể sử liệu được ghi lại và được điều chỉnh theo quan niệm của bộ phái.

Qua một số lý do vừa nêu, chúng ta không phải quá bận tâm đến sự chính xác của một số sự kiện lịch sử và các ngà y, tháng, lịch sử của đức Phật. Ðiều đáng ghi nhận nhất là hầu hết các sử liệu, gồm bia ký của vua A-dục, đều xác nhận đức Phật là một nhân vật lịch sử, chứ không phải là một nhân vật thần thoại, dù được nhìn dưới cái nhìn của Bắc tạng hay Nam tạng.

Ở đây, người viết lược sử đức Thế Tôn dựa trên kinh tạng Nikà ya, kinh tạng A-hà m (Agama), bia ký của vua A-dục, tà i liệu của kỳ đại hội Tổng Hội Phật giáo Thế giới họp lần II tại Tokyo năm 2026, với sự tham khảo thêm tà i liệu Phật giáo của Edward J. Thomas (tác giả cuốn "The Life of Buddha as Legend and History", "Buddhist Thought", "Early Budhist Scriptures") và của Kimura Taiken (tác giả của bộ "Lịch sử Tư tưởng Nguyên Thủy, Tiểu thừa và Ðại thừa").

Bồ Tát Trước Khi Nhập Thai.

Nam tạng và Bắc tạng nhìn khác nhau về đức Phật, Thượng tọa bộ và Ðại chúng bộ cũng nhìn khác nhau về Ngà i.

Bắc tạng cho rằng đức Phật đã thà nh Phật từ lâu, kiếpy nà chỉ là thị hiện. Nam tạng thì cho rằng kiếp nà y của Thế Tôn là kiếp cuối cùng thà nh Phật; kiếp trước đây, Ngà i là Bồ Tát ở cung trời Ðâu-suất (Tusita) -- cõi trời thứ tư trong sáu cõi trời Dục giới (Tứ thiên vương, Tam thập tam, Dạ-ma, Ðâu-suất. Hóa lạc và Tha hóa tự tại). Cõi nà y có bốn ngà n tuổi thọ, tương đương với năm trăm bảy mươi sáu triệu năm của con người trên trái đất (theo kinh Ðại Bổn, Trường Bộ kinh III; kinh Hi Hữu Vị Tăng Hữu Pháp, Trung Bộ III; Vị Tăng Hữu Pháp, Trung A-hà m, số 32 đại I, 469c; và Kinh Tập, Tiểu Bộ kinh).

Quan niệm của Bắc tạng thì tương tự với quan niệm tôn giáo của phần lớn các tôn giáo khác, thường có khuynh hướng siêu thực, Thánh hóa vị Giáo chủ.

Thượng tọa bộ thì nhìn đức Phật một cách hiện thực hơn, đi sát với các sự kiện lịch sử. Nhưng cả hai Nam và Bắc tạng, đều xác nhận: trước khi thà nh Phật, Thế Tôn được gọi là một Bồ Tát ở Ðâu-suất.

Cách nay chín mươi mốt kiếp (1 kiếp "kappa, kalpa": bằng đời sống của một thế giới, bằng một ngà y đêm của cõi trời Phạm thiên, bằng bốn ngà n ba trăm hai mươi triệu năm ở trái đất: theo Tự điển Sanskrit của Amarasimhakosa), Thế Tôn Tỳ-bà -thi (Vipassi) ra đời. Cách nay ba mươi mốt kiếp, Thế Tôn Thi-khí (Sikhi), Tỳ-xá-phù (Vessasbhù), Câu-lưu-tôn (Kakusandha), Câu-na-hà m (Konà gamana) và Thế tôn Ca-diếp (Kassapa) đã ra đời. (Theo kinh Ðại Bồn và Vị Tằng Hữu Pháp, như vừa trích dẫn ở trên).

Ở Ðâu-suất, Thế Tôn luôn luôn an trú trong chánh niệm tỉnh giác. Một lần, một số chư Thiên ở Ðâu-suất và chư Thiên ở các cõi Sắc giới, "các vị Trời trước đây đã được Thế Tôn Tỳ-bà -thi giáo hóa - thuật lại cho Bồ Tát nghe về các sự kiện chư Thế Tôn trước đây đã ra đời và thỉnh cầu Bồ Tát xuống trần để hóa độ chúng sinh". Nay là thời điểm của đức Thế Tôn.

Bồ Tát Và o Thai Mẹ.

(Theo kinh Hi Hữu Vị Tằng Hữu Pháp; Vị Tằng Hữu Pháp...)

Khi hết tuổi thọ ở Ðâu-suất, Bồ tát chánh niệm tỉnh giác đi và o thai mẹ, Hoà ng hậu Ma-da (Mà yadevi) ở kinh thà nh Ca-tỳ-la-vệ (Kapilavatthu, Skt. Kapilavastu).

Bấy giờ một hà o quang kỳ diệu, thắng xa hà o quang chư Thiên, thắng xa ánh sáng mặt trời, soi sáng khắp các cõi, khắp đến những nơi tối tăm mà ánh sáng mặt trời không thể soi thấu, mười nghìn thế giới rung động, chấn động mạnh Bồ tát ở trong thai mẹ như ở trong chiếc hộp kim cương trong sáng, có bốn Thiên tử canh gác bốn góc trời, không để cho loà i Người hay khác loà i Người xúc phạm đến thai nhi và Hoà ng hậu.

Trong lúc mang thai, người mẹ hưởng đầy đủ năm dục công đức (sắc, thanh, hương, vị, xúc) và thấy rõ thai nhi như thấy rõ viên ngọc ở trong lòng bà n tay, với đầy đủ các bộ phận của cơ thể, rất hoà n mỹ. Thời gian mang thai là mười tháng. Trong thời gian nà y, tâm người mẹ thường hoan hỷ, không khởi lên dục ý với bất cứ người khác phái nà o.

Ngà y Ðản Sanh.

(Theo kinh Ðại Bổn; Vị Tằng Hữu Pháp...)

Theo truyền thuyết Phật giáo, mẹ của Bồ tát đứng mà sanh. Hoà ng hậu Ma-da sanh Hoà ng tử nơi cội hoa Vô-Ưu, khi đang thưởng hoa ở vườn Ngự Lâm-tỳ-ni (Lumbini). Khi ra khỏi lòng mẹ, Thái tử oai nghiêm như một Pháp sư đang bước xuống Pháp tòa, sáng chói như một viên hồng ngọc, thanh tịnh, không dính một chất dơ nà o từ lòng người mẹ, chân Thái tử không chạm đất, có bốn Thiên tử đỡ (rồi chuyển qua tay con người), đặt Thái tử trước Hoà ng hậu và thưa: "Hoà ng hậu hãy hoan hỷ. Hoà ng hậu vừa sanh một vĩ nhân". Từ hư không có một dòng nước ấm và một dòng nước mát tắm gội cho Thái Tử và Hoà ng hậu. Thái tử đứng vững chân, mặt hướng về phương Bắc, buớc đi bảy bước (đây là bảy bước đi truyền thống của chư Phật), có lọng trắng che, nhìn khắp mọi phương, rồi cất tiếng nói với giọng êm ả như tiếng chim Ca-lăng-tần-già (sống ở Hi-mã), vừa trầm hùng như tiếng Ngưu vương, rằng: "Ta là bậc Tối thượng ở đời. Ta là bậc Tôn kính ở đời. Nay là đời sống cuối cùng, không còn sanh lại nữa".

Truyền thống kinh Bắc tạng và A-hà m (Kinh Ðại Bản Duyên) cho rằng Thái tử sanh ra từ hông bên hữu của Hoà ng hậu, bước đi hay bước, tay chỉ trời, tay chỉ đất mà nói rằng: "Trên trời và dưói đất chỉ có Ta là hơn cả".

Bấy giờ, một hà o quang kỳ diệu... chiếu khắp mưòi nghìn thế giới, các thế giới đều chấn động, rung động.

Ðại hội Phật giáo Thế giới họp kỳ II tại Tokyo (Nhật Bản), 2026, ghi ngà y Phật đản sinh là ngà y trăng tròn tháng Vesaskha của Ấn Ðộ, năm 624 trước Tây lịch. Ngà y, tháng, năm nà y dựa và o truyền thống của Phật giáo Tích Lan. Theo đó, Phật lịch tính từ năm đức Phật nhập Niết bà n, năm 544 trước Tây lịch.

Theo Edward J. Thomas trong cuốn "The life of Buddha as Legend and History", ấn hà nh ở London năm 2026, thì ngà y Ðản sanh và o năm 563 trước Tây Lịch. Cách tính nà y dựa và o bia ký của triều đại các vua xứ Ma-kiệt-đà , vua A-dục và Chandagupta, liên hệ đến sự kiện lịch sử của đức Phật.

Theo tà i liệu của Lương Khải Siêu, trong tập "Phật học Nghiên cứu Thập bát thiên", dẫn chứng từ "Thiện Kiến Luật" thì Phật nhập Niết Bà n và o năm thứ 35 vua Kinh Vương nhà Châu, hay là nhằm đời Ai Công năm thứ 7 nước Lỗ, tức trước Tây Lịch 485 năm; liền sau khi Phật nhập Niết bà n, Tôn giả Ưu-ba-ly (Upà li) kiết tập Luật tạng, lập nên bộ Thiện Kiến Luật. Mỗi năm, và o ngà y Tự tứ, bộ luật được dâng hương cúng dường và ghi và o phía sau một điểm (chấm). Bộ luật nà y được truyền thừa liên tục. Ngà i Tăng-già -bạt-đà -la (Sanghabhadra) đem bộ Luật sang Trung quốc và o đời Tề, năm 489 Tây lịch và dịch ra Hán văn tại chùa Trúc Lâm, Quảng Châu. Ngà y Tự tứ năm ấy ghi đến điểm thứ 967 (Dựa và o đây để xác định năm Phật nhập Niết bà n).

Thân Thế Hoà ng Tử.

(Theo Kinh Ðại Bổn; Kinh Tập - Sutta Nipatta; bia ký của vua A-Dục; và tà i liệu Edward J. Thomas).

Thái tử tên là Tất đạt đa (Siddhattha, Skt. Siddhar-tha), thân phụ là vua Tịnh Phạn (Suddhodana) và thân mẫu là Hoà ng hậu Ma-da (Mà yà ), dòng dõi Thích Ca (Sakya, Skt. Sà kya), giai cấp Sát-đế-lợi (Khattya, Skt. Kastriya), ở kinh đô Ca-tỳ-la-vệ (Kapilavatthu, Skt. Kapilavastu) thuộc xứ Nepal Therai, Ðông Bắc Ấn Ðộ.

Di mẫu của Thái tử là Ma-ha-ba-xà -ba-đề (Mahà pajapati) em ruột của Hoà ng hậu Ma-da, con gái của vua Anjana, dòng họ Koliya.

Bảy ngà y sau khi đản sanh, hoà ng hậu Ma-da thác sinh về cung trời Ðâu-suất. Bà Ma-ha-ba-xà -ba-đề nuôi dưỡng Hoà ng tử để về sau kế vị vua Tịnh Phạn.

Tướng Mạo Của Hoà ng Tử

(Kinh Ðại Bổn, Kinh Tập, Tiểu Bộ Kinh).

Liền sau ngà y Ðản sanh, vua Tịnh Phạn cho mời các Ba-la-môn đến xem tướng Thái tử. Các Bà -la-môn tâu rằng: "Thái tử có đủ ba mươi hai tướng tốt, là một bậc vĩ nhân. Ai có đủ ba mươi hai tướng quý sẽ sẽ là một Chuyển luân Thánh vương nếu sống tại gia; sẽ là một A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác nếu xuất gia". Riêng Ðạo sĩ A-tư-đà (Asita) người tu ở núi Hi-mã, vốn đã được nghe lời chư Thiên Tam thập tam bà n tán về Thái tử rằng Người sẽ là bậc Chánh Ðẳng Giác, quả quyết nói rằng "Thái tử nhất định sẽ xuất gia, nhất định sẽ thà nh Phật và chuyển bánh xe Pháp".

Ba mươi hai tướng quý của Thái tử gồm có:

1. Lòng bà n chân bằng phẳng.
2. Gót chân thon.
3. Ngón tay, ngón chân thon dà i.
4. Tay, chân mềm mại.
4. Chân có mà n da lưới.
6. Mắt cá tròn như con sò.
7. Ống chân như chân con dê rừng.
8. Tay dà i đến đầu gối.
9. Tướng mã âm tà ng.
10. Da trơn mượt, bụi không thể nà o dính.
11. Mỗi lỗ chân lông có một lông mọc.
12. Mà u da như đồng, mà u sắc như và ng.
13. Lông mọc xoáy tròn về phía bên phải, mà u xanh đậm như thuốc bôi mắt.
14. Thân hình cao thẳng.
15. Bảy chỗ tròn đà y.
16. Nửa mình trước thân sư tử.
17. Không có lõm khuyết giữa hai vai.
18. Thân cân đối như cây bà ng (Nigrodha), bề cao của thân bằng bề dà i của hai sải tay dang rộng.
19. Nửa thân trên vuông tròn.
20. Vị giác hết sức bén nhạy.
21. Quai hà m sư tử.
22. Có bốn mươi răng.
23. Răng không khuyết hở.
24. Răng trơn láng.
25. Răng đều đặn.
26. Lưỡi rộng và dà i.
27. Giọng nói êm ả như tiếng chim Ca-lăng-tần-giÃ
28. Ðôi mắt mà u xanh đậm.
29. Có lông mi như con bò cái.
30. Có một sợi lông trắng mịn giữa hai lông mà y.
31. Hai lòng bà n chân có hai hình bánh xe với một ngà n tăm xe.
32. Có nhục kế trên đầu.

Một số tà i liệu khác còn kể thêm tám mươi vẻ đẹp phụ nữa.

Ðời Sống Và Giáo Dục Của Thái Tử

(Theo các Kinh Ðại Bổn, Trường Bộ Kinh III; Kinh Thánh Cầu, Trung Bộ Kinh I; Ðại Kinh Saccaka, Trung Bộ Kinh I; Nidà nakatthà , Tiểu Bộ Kinh; Kinh La-ma, A-hà m; Ðại I 775C).

Thuở nhỏ, Thái tử được vua Tịnh Phạn và Di mẫu cưng chiều, chăm sóc và giáo dục rất hoà n mỹ, được mọi người yêu vì. Các danh sĩ Tỳ-sa-mật-đa-la (Visvà mistra) dạy Thái tử về văn; San-đề-đề-bà (Ksantidiva) dạy về võ kể từ năm bảy tuổi. Không bao lâu sau Thái tử tinh thông văn võ.

Ngoà i tà i năng lỗi lạc, Thái tử được các bậc thầy và mọi người quý kính về đức hạnh và tình người.

Trong một buổi lỠXuống ruộng (hạ điền) do nhà vua chủ trì, giữa lúc các thị nữ mải mê xem lỠ, Thái tử, bấy giờ còn nhỏ, một mình ngồi kiết già dưới cội cây Gioi (Rose-apple) và chứng nhập Sơ thiền. Khi vua cha trở lại thấy dáng dấp trầm tư, tĩnh mặc của Thái tử đầy đạo khí, đã phải kinh ngạc thốt lên: "Ôi, con thân yêu! Ðây là lần thứ hai cha nghiêng mình trước con" (Lần thứ nhất và o lúc Ðản sanh).

Lớn lên, Thái tử Tất-đạt-đa luôn luôn lộ vẻ trầm tư về cuộc sống. Vua Tịnh Phạn lo lắng, cho xây cất ba tòa nhà hợp với ba mùa khí hậu, và truyền cho Thái tử hưởng thọ sung mãn năm thứ dục lạc. Nhưng hạnh phúc trần gian không là m khuây khoả được ưu tư của người xuất thế, Thái tử vẫn mỗi ngà y xích lại gần với quyết định xuất gia. Nhà vua lại vội cưới Công chúa nước láng giềng Da-du-đà -la (Yasodhà ra), một trang tuyệt sắc, cho Thái tử với hy vọng hương sắc tình yêu của nà ng sẽ buộc chân Thái tử.

Có những lần ra khỏi bốn cửa thà nh, dạo chơi vườn Ngự, chứng kiến các cảnh sanh, già , bệnh, chết, lòng Thái tử trở nên u buồn, dao động đến cực độ.

Một hôm, nói chuyện với một Ðạo sĩ sống đời ly dục, Thái tử thấy thoáng hiện đằng sau mẫu người thanh thoát nà y một con đường giải thoát.

Bấy giờ, Thái tử vừa hai mươi chín tuổi, bà Da-du-đà -la vừa mới mang thai (có tà i liệu chép bấy giờ bà đã sanh Rà hula). Thái tử nhất quyết từ bỏ cung và ng và o rừng xanh tìm đạo.

Quãng Ðường Tu Hà nh Của Thái Tử.

(Theo Kinh Thánh Cầu, Trung Bộ Kinh I; Ðại Kinh Saccaka; Kinh La-Ma; Ðại I. 775C; Kinh Sư Tử Hống, Ðại I, Trung Bộ I; Kinh Khô Ấm, A-hà m, Ðại I. 584-C; bia ký của vua A-dục; và tà i liệu Kimura Taiken).

Nhìn thấy rõ tướng vô thường và khổ đau đang bủa xuống quanh cuộc sống, đêm rằm tháng hai âm lịch, Thái tử lên ngựa Kiền-trắc (Kanthaka) cùng với người hầu cận trung thà nh Xa-nặc (Chandaka) vượt hoà ng thà nh và o Hy-mã để lại đằng sau cuộc sống thương yêu và vương vị.

Dưới chân núi Tuyết, Thái tử lại một lần nữa từ giã Xa-nặc thân thương và Kiền-trắc trân quý (Sử chép, về sau Kiền-trắc bỏ ăn mà chết). Ðằng trước Ngà i là rừng xanh, đằng sau Ngà i là sanh tử.

Thái tử tìm đến học đạo với A-đa-la Già -đa-na (Alà ra Kà là ma), một đạo sĩ đã chứng đắc Vô sở hữu xứ định. Không bao lâu, Ngà i chứng đắc những gì mà Alà ra đã chứng đắc. Biết rằng đây không phải là đích giải thoát, Ngà i từ giã Alà ra đến học đạo với Ưu-đà Già -la-ma Tử (Uddaka Rà maputta), vị đạo sĩ đã chứng đắc Phi tưởng phi phi tưởng xứ định. Chỉ trong một thời gian ngắn, Ngà i chứng đắc những gì mà Uddaka đã chứng đắc. Lại biết rằng đây vẫn còn ở trong vòng sanh tử, Ngà i lại ra đi, chẳng còn ai để theo học đạo nữa. Ngà i cùng với năm anh em Tôn giả Kiều-trần-như (Kodanna) tu khổ hạnh sáu năm. Ngà i trở thà nh đạo sĩ đệ nhất khổ hạnh, đệ nhất bà n uế, đệ nhất yếm ly, và đệ nhất độc cư Thiền định. Cho đến khi thân chỉ còn da bọc xương, Ngà i nhận ra rằng đây chỉ là một ngõ đường tu lầm lẫn; rồi một mình một bóng ra đi.

Trong thời gian khổ hạnh, có ba tư tưởng đặc biệt chưa từng có trước đây đã khởi lên trong tâm Ngà i.

- Như với một khúc cây xanh, đầy nhựa sống, để trong nước thì sẽ không nhúm lên lửa được. Cũng vậy, với lòng đầy dục vọng, tham ái, người tu sẽ không chứng được Chánh Ðẳng Giác.

- Như với khúc cây xanh ấy, sau khi vớt ra khỏi nước, sẽ không nhúm lên được lửa. Cũng vậy, với lòng đầy tham ái, nhiệt não, người tu sẽ không đi đến chứng ngộ Vô thượng Bồ Ðề?

- Như với khúc cây khô, được lấy ra khỏi nước, và được để trên một chỗ đất khô, với đồ là m lửa, người ta có thể nhúm lên được lửa. Cũng vậy, với lòng xả ly dục ái, tham ái, người tu có thể chứng đắc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác (2).

Ngà i bắt đầu dồn hết nổ lực và o việc tu tập Thiền định, dùng tâm chế ngự tâm. Nỗ lực tu tập quá mức, thân Ngà i bị đau đớn và tâm Ngà i dao động. Ngà i tập nín thở đến thời gian lâu nhất có thể nín được, lại cà ng nghe đau đớn bất an. Nỗ lực nín thở thêm nhiều lần nữa, Ngà i vẫn không thấy được ánh sáng giải thoát. Bỗng nhiên, trong một thoáng, Ngà i nhớ lại kinh nghiệm và o Sơ thiền trong dịp lỠXuống ruộng (Hạ điền), lòng đầy hân hoan, Ngà i tin rằng đây là ngõ và o Chánh giác.

Ngà i đi đến nước Ma-kiệt-đà (Magadha) tụ lạc Ưu-lâu-tần-loa (Uruvelà ), nơi có một khóm rừng xinh đẹp, có con sông trong trẻo, êm ả chạy gần, có là ng mạc rất dỠkhất thực. Ngà i dừng chân và chọn đây là m cứ điểm tìm đạo sau cùng.

Ngà i giữ chánh niệm, tỉnh giác hà nh Thiền, ly dục và lần lượt và o Tứ sắc định, hướng tâm đến Tam minh, Ngà i thấy rõ lý Duyên khởi, khéo tác ý thuận chiều, biết rằng:

Do cái nà y có mặt, cái kia có mặt;
Do cái nà y sanh, cái kia sanh;
Do vô minh có hà nh, do hà nh có thức v.v...

Ngà i thấy rõ nguyên nhân của khổ đau: chính sự tập khởi của Mười hai nhân duyên là tập khởi của toà n bộ khổ uẩn. Ở canh một nà y, Ngà i chứng Túc mệnh thông (Túc mệnh minh) thấy rõ vô lượng kiếp quá khứ của mình (Tự thân).

Sang canh hai, Ngà i chứng Thiên nhãn thông (Thiên nhãn minh), thấy rõ vô lượng kiếp quá khứ của chúng sanh, với các nghiệp nhân và nghiệp quả, và thấy rõ con đường thọ nghiệp của chúng sanh.

Qua canh ba, Ngà i tác ý nghịch chiều Duyên khởi:

Do cái nà y không có, cái kia không có;
Do cái nà y diệt, cái kia diệt;
Do vô minh diệt nên hà nh diệt v.v...

Ngà i như thật thấy khổ đau, nguyên nhân của khổ đau, sự đoạn tận khổ đau và con đường đưa đến đoạn tận khổ đau. Ở canh nà y, Ngà i chứng Lậu tận thông (Lậu tận minh), biết rằng đây ra đời sống cuối cùng, không còn tái sanh nữa - Ở đầu canh một, khi và o Thiền định lạc là khi Ngà i đã chứng rốt ráo Thiên nhĩ thông, Tha tâm thông và Thần túc thông. Như thế ở canh ba, Ngà i chứng đủ Lục thông.

Ðến canh năm, Ngà i tác ý thuận và nghịch chiều. Duyên khởi, thấy rõ:

Do cái nà y có, cái kia có;
Do cái nà y sanh, cái kia sanh;
Do cái nà y không có, cái kia không có;
Do cái nà y diệt, cái kia diệt.

Ðúng lúc sao mai mọc, Ngà i chứng đắc Vô thượng Chánh Ðẳng Giác. Ngà i là vị A-la-hán Chánh Ðẳng Giác đầu tiên trong hiện kiếp. Về sau, Ngà i được xưng tán là Thế Tôn, đầy đủ mười danh hiệu: Như Lai, ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.

Con Ðường Giáo Hóa.

Ðức Thế Tôn phân vân trước con đường giáo hóa: Giáo lý giải thoát thì tế nhị, thâm sâu, ly dục, vô ngã, đi ngược với tập quán ham muốn và suy tư chấp ngã của con người, là m sao để con người chấp nhận giáo lý ấy?

Giữa lúc ấy, Phạm thiên Sahampati xuất hiện thỉnh cầu Thế Tôn cứu thế, chuyển bánh xe Pháp vì hạnh phúc cho chư Thiên và loà i Người. Rồi hình ảnh hồ sen trước mặt, có những cọng sen vươn ra khỏi mặt nước, có những cọng lưng chừng, có những cọng ở sâu trong lòng nước v.v... gợi lên trong Thế Tôn hình ảnh căn cơ bất đồng của con người: Có những căn cơ thấp như những cánh sen ở đáy hồ, những căn cơ trung bình như những cánh sen ở lưng chừng nước, cũng có những căn cơ cao có thể tiếp nhận giáo lý giải thoát của Ngà i, như những cánh sen đã nhô ra khỏi mặt nước có thể tiếp thu ánh sáng mặt trời. Thế Tôn liền quyết định lên đường chuyển vận bánh xe Pháp.

Ngà i dùng tuệ nhãn quán sát ai sẽ là người có cơ duyên được độ trước. Ngà i nghĩ đến hai vị thầy cũ, Alà ra và Uddaka. Hai người đã thác sanh. Tiếp đến Ngà i nghĩ đến năm người bạn cùng tu khổ hạnh, thấy họ đang trú ở vườn Nai (Lộc Uyển), ở Banares (Bà ranà si). Ngà i liền đi bộ đến đấy. Tại đây, bà i pháp đầu tiên về Tứ đế được giảng gọi là "Sơ Chuyển Pháp Luân". Nghe xong, Tôn giả Kiều-trần-như (Kodanna) chứng đắc Tu-đà -hoà n. Thế Tôn thu nhận năm Tôn giả là m các đệ tử đầu tiên.

* Lần đầu tiên, Ngôi Tam Bảo được hình thà nh, khởi đầu của Giáo hội Phật giáo.

Thế Tôn giảng tiếp Vô ngã, rằng Năm uân là vô thường, nếu ai thoát khỏi tham ái, thì sẽ ra khỏi tái sinh, được giải thoát. Năm Tôn giả: Kiều-trần-như (Kodanna) Bà -phạ (Vappa), Bà -đề (Bhaddhiya), Ma-ha-nam (Mahà nà ma) và Thuyết Thị (Assaji) lần lượt chứng đắc A-la-hán.

Thế Tôn tiếp độ Da-xá (Yasa) ở Benares với bốn người khác nữa, tất cả đều đắc A-la-hán. Thế là , tại Benares, Giáo hội được hình thà nh gồm mười một vị A-la-hán (kể cả Thế Tôn).

Sau khi dạy mười vị A-la-hán đầu tiên mỗi vị đi về một phưong để hoằng hóa, Thế Tôn tiếp tục đi đén Ưu-lâu-tần-loa (Uruvela) thuyết pháp độ ba anh em Ca-diếp (Kassapa) và ngót một ngà n đệ tử của ba Ngà i. Ở đây, vua Tần-bà -sa-la (Bimbisà ra) yết kiến Thế Tôn. Sau khi nghe Thế Tôn thuyết giảng, nhà vua hiểu pháp, liền cung thỉnh Thế Tôn cùng một ngà n vị A-la-hán thọ trai, rồi dâng cúng Thế Tôn và chư Tăng tịnh xá Trúc Lâm (Veluvana), một khuôn viên rộng lớn gần thà nh Vương Xá. Bấy giò là tháng Vesakha, giữa tháng tư và tháng năm dương lịch, đầu mùa kiết hạ. Giáo hội của Thế Tôn an cư mùa mưa đầu tiên ở đây. Hai tháng tiếp theo mùa an cư, Thế Tôn và chư Tăng trú ở Vương Xá. Chính trong thời gian nà y, một đạo sĩ tu khổ hạnh có ngót năm trăm đệ tử, trong đó có tôn giả Xá-Lợi-Phất (Sà riputta) và Mục-Kiền-Liên (Moggallà na), được Thế Tôn hóa độ. Từ đấy, thường có một ngà n hai trăm năm mươi vị Tỳ-kheo tháp tùng Thế Tôn.

Tôn giả Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên vốn là hai người bạn chí thân. Trên đường tìm đạo giải thoát, trước khi gặp Thế Tôn, Tôn giả Xá-lợi-phất đã chứng đắc Tu-đà -hoà n quả khi lần đầu tiên nghe Tôn giả Thuyết thị nói tóm tắt giáo lý Duyên khởi. Sau đó, trước Thế Tôn, hai Tôn giả đều chứng đắc A-la-hán.

Tôn giả Xá-lợi-phất là bậc trí tuệ bậc nhất của Giáo hội, Tôn giả Mục-kiền-liên là bậc thần thông đệ nhất. Do lẽ đó, Thế Tôn chọn Tôn giả Xá-lợi-phất là m trưởng tử, bậc Tướng quân Chánh pháp và chọn Tôn giả Mục kiền liên là đại đệ tử thứ hai. Từ đấy, hai Tôn giả thường thay mặt Thế Tôn để hướng dẫn Tăng chúng. Ðây là thời điểm đánh dấu sự phát triển mạnh của Giáo hội Phật giáo dưới sự lãnh đạo của Thế Tôn.

Giữa mùa đông năm ấy, Thế Tôn trở về Ma-kiệt-đà , Vua Tịnh Phạn hay tin, liền gởi một sứ thần và phái đoà n gồm một ngà n người đến thỉnh mời Thế Tôn về thăm hoà ng triều. Cả phái đoà n đều xuất gia. Nhà vua lại phái một phái đoà n gồm một ngà n người khác đi thỉnh mời. Tất cả lại đều xuất gia, không trở về triều. Lần thứ ba nhà vua cử Ka-lưu-đà -di (Kà ludà yi), con một đại thần, là bạn cùng tuổi thời trai trẻ của Thái tử Tất-đạt-đa, Ka-lưu-đà -di cũng xuất gia. Tất cả hai ngà n người của hai đoà n sứ giả và Ka-lưu-đà -di đều chứng đắc A-la-hán. Liền sau đó, Ka-lưu-đà -di bạch lên Thế Tôn lời thỉnh cầu của vua Tịnh Phạn. Thế Tôn nhận lời, rồi cùng một ngà n hai trăm năm mươi vị Tỳ-kheo lên đường hóa độ Hoà ng tộc.

Bấy giờ, Nan-đà (Nanda), em trai của Thế Tôn, và La-hầu-la (Rà hula) con của Thế Tôn đều xuất gia. Vua Tịnh Phạn đắc Tư-đà -hà m, di mẫu Ma-ha-ba-xà -ba-đề đắc Tu-đà -hoà n (về sau di mẫu cùng bà Da-du-đà -la xuất gia và đắc A-la-hán); vua Tịnh Phạn ở tại vị và đắc A-la-hán và o lúc xả báo thần, đúng theo truyền thống của Phật-đà ghi ở Kinh Ðại Bổn. Các hoà ng thân Bà -đề (Bhaddiya), A-nậu-lâu-đà (Anuruddha), A-nan (Ananda), Bà -già (Bhagu), Bạc-câu-la (Kimbila), Ðề-bà -đạt-đa (Devadatta) cùng người thợ hớt tóc của các hoà ng thân, Ưu-ba-ly (Upà li), cũng xin xuất gia. Bà -đề từ đầu đắc liền Tam minh, A-nậu-lâu-đà đắc Thiên nhãn và Túc mệnh minh, A-nan đắc Tu-đà -hoà n. Ưu-ba-ly về sau đắc A-la-hán, Ðề-bà -đạt-đa đắc Tứ thiền sắc giới.

Tiếp tục cuộc hà nh trình hoẵng hóa, Thế Tôn đến Xá-vệ (Sà vatthì) độ cư sĩ Cấp Cô Ðộc (Anà thapindika), nhận ngội vườn và Tịnh xá Kỳ Hoà n (Jetavana) do cư sĩ nà y dâng cúng, và độ nữ cư sĩ Lộc Mẫu (Visà khà ). Hai người cư sĩ nà y hộ pháp rất đắc lực, hà ng ngà y đến vấn an sức khỏe đức Thế Tôn và lo tứ sự cúng dường (y áo, thức ăn, thuốc men và sà ng tọa) cho chư Tăng.

Năm thứ năm sau ngà y Thế Tôn thà nh đạo, bà Ma-ba-xà -ba-đề được Thế Tôn nhận lời, qua lời khẩn khoản thỉnh cầu của Tôn giả A-nan, cho xuất gia kèm theo điều kiện "Bát Kỉnh Pháp". Giáo hội Ni ra dời từ đây.

Từ đây, khi Giáo hội Tăng và Ni thà nh lập với số Tăng-Ni khá đông, nhiều qui luật tu hà nh bắt đầu được thiết lập.

Theo tà i liệu của Edward J. Thomas, Chương X, trong cuốn "The Life of Buddha as Legend and History", thì một số vấn đề giới luật bắt đầu tượng hình và o năm thứ sáu sau ngà y Thế Tôn chuyển bánh xe Pháp, và thà nh hình rõ từ năm thứ mười sau ngà y thà nh đạo. Theo Luật tạng thì giới luật hẳn nhiên được đặt ra từ năm thứ mười ba, do Tôn giả Ưu-bà -ly đặc trách (vấn đề nà y sẽ được bà n đến ở phần Giới học, chương Pháp Bảo).

Trong giáo hội Tăng và Ni, Thế Tôn đã tuỳ duyên hóa độ đủ mọi giai cấp trong xã hội, không phân biệt già u nghèo, nam nữ, sang hèn, ngưòi có trình độ văn hóa cao, thấp, địa vị v.v.:

- Tôn giả Xá lợi Phất và Mục-kiền-liên đại biểu thà nh phần học giả, trí thức.
- Tôn giả A-nậu-lâu-đà , A-nan... đại biểu cho thà nh phần hoà ng tộc, vua chúa.
- Tôn giả Ưu-ba-ly đại biểu giai cấp công nhân.
- Tôn giả Angulimà la là một tướng cướp.
- Nữ tôn giả Patà cà rà là người bình dân, đã loạn trí vì đau khổ cùng độ (mất hết cha mẹ, em, chồng và con).
- Một cô gái giai cấp cùng đinh.
- Ni cô Addahakasi vốn là kỹ nữ, v.v... (Trưởng lão Ni kệ).

Thế Tôn tiếp tục giáo hóa độ sanh cho đến tám mươi tuổi mới và o Niết bà n vô dư y. Kinh chép, hà ng đệ tử nổi bật của Ngà i gồm có:

* Về chư Tăng: (Tăng Chi Bộ Kinh I, Phẩm Tối Thắng).

- Tôn giả Kiều-trần-Như là vị xuất gia đầu tiên.
- Tôn giả Xá-lợi-phất: Trí tuệ đệ nhất.
- Tôn giả Mục-kiền-liên: Thần thông đệ nhất.
- Tôn giả Ca-diếp: Ðầu đà đệ nhất.
- Tôn giả Ưu-ba-ly: Trì giới đệ nhất.
- Tôn giả A-nậu-lâu-đà : Thiên nhãn đệ nhất.
- Tôn giả Bà -đề (Bhaddiya): Âm thanh vi diệu đệ nhất.
- Tôn giả Phú-lâu-na (Punna Mantà niputta): Thuyết pháp đệ nhất.
- Tôn giả Ca-chiên-diên (Mahà Kaccana): Thuyết giảng rộng rãi đệ nhất
- Tôn giả Bà -đề (Bhaddiya): Quí tộc đệ nhất.
- Tôn giả Pindola Bhà radyà ja: Nói pháp với tiếng rống sư tử đệ nhất.
- Tôn giả La-hầu-la: Ưa thích học tập đệ nhất.
- Tôn giả Tu-bồ-đề (Subhùti): Thanh tịnh và vô tránh đệ nhất, được cúng dường đệ nhất.
- Tôn giả Rà dha: Biện tà i đệ nhất.
- Tôn giả Kiếp-tân-na (Mahà Kappina): Giáo giới đệ nhất.
- Tôn giả Revata: Ðộc cư Thiền định đệ nhất.

* Về chư Ni:

- Nữ tôn giả Ma-ha-ba-xà -ba-đề: Trưởng lão Ni đệ nhất (tu đầu tiên).
- Khemà : Trí tuệ đệ nhất.
- Uppalavannà : Thần thông đệ nhất.
- Dhammadinnà : Thuyết pháp đệ nhất.
- Nandà : Tu thiền đệ nhất.
- Bakulà : Thiên nhãn đệ nhất.
- Bhaddakà ccà na: đại thắng trí đệ nhất.
- Kisagotami: Ðệ nhất mang thô y.
- Sigalà kamà tà : Tín giải đệ nhất.
- Sonà : Tinh cần đệ nhất.

* Về Nam cư sĩ:

- Cư sĩ Tapassubhalli: quy y đầu tiên.
- Cấp Cô độc: Bố thí đệ nhất.
- Citta: Thuyết pháp đệ nhất.
- Hatthaka Alavaka: Nhiếp phục hội chúng đệ nhất.
- Hatthigà maka Uggata: Hộ trì chư Tăng đệ nhất.
- Ambattha: Tịnh tín đệ nhất.
- Nakulapità : Thân mật đệ nhất.
- ...

* Về Nữ cư sĩ:

- Sujà ta (Tu-xà -đề): Quy y đầu tiên.
- Visà khà : Bố thí đệ nhất.
- Khujjutarà : Ða văn đệ nhất.
- Uttara: Tu thiền đệ nhất.
- Suppiyà : Săn sóc bệnh nhân đệ nhất.
- Kà tiyà ni: Tịnh tín đệ nhất.
- Nakulamà tà : Thân mật đệ nhất.
- ...

Những Ngà y Cuối Cùng.

(Theo kinh Ðại Bát Niết bà n. Trường Bộ Kinh III).

Năm tám mươi tuổi, trở nên già yếu, Thế Tôn quyết định nhập Niết Bà n Vô dư y, sau ba lần Ma vương (Mà ra) thỉnh cầu, và sau ba lần Thế Tôn gợi ý cho Tôn giả A-nan thỉnh cầu Thế Tôn trú thế mà Tôn giả không nhận ra ý của Ngà i.

Ba tháng cuối cùng, Thế Tôn cùng Tôn giả A-nan đi bộ từ thà nh Vương Xá đến Beluva.

Trên đường đi, trong thời gian nà y, Thế Tôn đã ngăn được một chiến sắp xảy ra giữa xứ Ma-kiệt-đà của vua A-xà -thế (Ajatasattu) và xứ Bạt-kỳ (Vajji).

Thế Tôn tiếp tục độ những ai đáng được độ. Du sĩ ngoại đạo Subbaddha là ngưòi sau cùng được Thế Tôn cho xuất gia, thọ đại giới. Không bao lâu sau đó, Subbaddha đắc A-la-hán. Ðây là vị A-la-hán sau cùng trước khi Thế Tôn nhập diệt.

Một cư sÄ© khác, Cư sÄ© Thuần-đà (Cunda), người thợ sắt, được Thế Tôn thuyết pháp khích lệ, đã dâng cúng Thế Tôn chiếc áo kim sắc (và ng chói) và cúng dường bữa ăn sau cùng. Trong bữa ăn nà y, ngoà i món ăn thượng vị còn có thứ mộc nhÄ© (Sùkara-madde). Dùng xong, Thế Tôn bị bệnh lî huyết, đau đớn, nhưng Thế Tôn dùng định lá»±c nhiếp phục khỏi bệnh cùng Tôn giả A-nan tiếp tục cuộc hà nh trình đến Kusinà ra. Thế Tôn dạy Cunda "Ðó là một loại nấm độc; chỉ trừ Như Lai ăn xong mới không bị chết, hãy đem chôn phần thức ăn còn lại". Thế Tôn lại dặn dò Tôn giả A-nan hãy đánh tan mọi hối hận có thể xảy ra trong lòng Cunda về bữa cÆ¡m cúng dường ấy, và đánh tan dư luận bà n tan hiểu lầm về lòng thà nh cúng dường cá»§a Cunda - (Theo kinh Ðại Bát Niết-Bà n, Trường Bộ III).

Những Lời Dạy Cuối Cùng.

- "Nà y A-nan, Pháp và Luật mà Ta đã giảng dạy và trình bà y, sau khi Ta diệt độ, chính Pháp và Luật ấy sẽ là bậc Ðạo sư của các Ông" (Ibid. tr. 154).

- "Nà y A-nan, sau khi Ta diệt độ, có thể huỷ bỏ những học giới nhỏ nhặt" (Ibid. tr. 154).

- "Nà y các Tỳ-kheo (Bấy giờ có mặt năm trăm vị Tỳ-kheo đều là Thánh hữu học), vô học, nếu có Tỳ-kheo nà o nghi ngờ về Phật, Pháp và chúng Tăng, Ðạo hay phương pháp, thời hãy hỏi đi, về sau chớ có hối tiếc...".

Thế Tôn hỏi ba lần, nhưng tất cả đều im lặng, biểu lộ sự không còn có nghi ngờ.

- "Nà y các Tỳ-kheo, nay Như Lai khuyên các Ông; Các pháp hữu vi là vô thường, hãy tinh tấn, chớ có phóng dật" (Ibid. tr. 156).

Chính đây là lời dạy sau rốt trong những lời dạy sau cùng của Như Lai.

Thế Tôn Nhập Vô Dư Y Niết-Bà n.

Thế Tôn dạy Tôn giả A-nan cùng đi đến rừng Ta-la (Sà là ) của dòng họ Mallà ở Kusinà ra. Ta-la tự nhiên trổ hoa trái mùa đầy cà nh. Thế Tôn dạy dọn chỗ nằm, đầu hướng về phía Bắc, giữa hai cây Ta-la song đôi. Thế Tôn nằm nghiêng về hông bên phải, hai chân để lên nhau. Sau khi dạy xong những lời dạy cuối cùng. Thế Tôn nhập định sơ Thiền rồi xuất sơ Thiền, nhị Thiền rồi xuất nhị Thiền.... Phi tưởng phi phi tưởng rồi xuất Phi tưởng phi phi tưởng, nhập Diệt thọ tưởng rồi xuất Diệt thọ tưởng định, nhập Phi tưởng phi phi tưởng rồi xuất phi tưởng phi phi tưởng... nhập sơ Thiền, xuất sơ Thiền, cho đến nhập tứ Thiền, xuất tứ Thiền, Thế Tôn lập tức diệt độ.

Sau khi Thế Tôn nhập diệt, chư Thiên và loà i Người, những ai chưa tận trừ trừ tham ái thì khóc than, áo não; những ai đã tận trừ tham ái thì vững trú trong chánh niệm rằng: "Các hà nh là vộ thường, là m sao có thể khác được?"

LỠHỏa Thiêu Xá Lợi Và Dựng Tháp Tôn Thờ Xá Lợi.

Dân chúng Mallà ở Kusinà rà liên tục đảnh lỠ, cung kính cúng dường kim thân Thế Tôn với các điệu múa, điệu nhạc, hướng và hoa, rồi lập những dà n hỏa thiêu tại đền Makuta Bandhana.

Kim thân của Thế Tôn được học 500 lớp vải (cứ một lớp vải tinh, một lớp vải thô), đặt và o một hòm đầu bằng sắt, hòm nà y lại được bọc kín bởi một hòm sắt khác. Dà n hỏa thiêu là m bằng loại gỗ hương thơm.

Dà n hỏa thiêu không thể bắt lửa cho đến khi Tôn giả Ðại Ca-diếp kịp về đảnh lỠdưới chân Thế Tôn. (Khi được tin Thế Tôn thị tịch thì Tôn giả Ðại Ca-diếp đang ở giữa chặng đường từ Pà và đến Kusinà ra).

Khi thiêu xong, không có thân hay tro còn lại, mà chỉ có Xá lợi. Một dòng nước từ hư không và một dòng nước từ cây ta-la rưới tắt dà n hỏa. Dân Mallà thì rưới tắt với các thứ nước thơm.

Dân Mallà tôn tri Xá-lợi trong giảng đường, suốt bảy ngà y cung kính đảnh lỠ, dâng vũ, nhạc, hương hoa cúng dường.

Xá Lợi được phân chia là m tám phần cho:

1. Vua nước Maggadha.
2. Dòng họ Licchavi ở Vesà ni (Dòng Sát-đế-lợi).
3. Dòng Thích-ca ở Ca-tỳ-la-vệ.
4. Dòng người Puli ở Allakappa (Dòng Sát-đế-lợi).
5. Những người Koli ở Rà magà ma (Dòng Sát-đế-lợi).
6. Những người Mallà ở Kusinà ra.
7. Những người Mallà ở Pà và .
8. Bà -la-môn Vethadipaka.

Mười ngôi tháp được dựng lên để tôn thờ Xá-lợi:

- Tám tháp tôn thờ tám phần Xá-lợi.
- Một tháp thờ cái bình dùng để phân chia Xá-lợi.
- Một tháp tôn thờ tro Xá-lợi.

Sự Khác Biệt Giữa Tư Tưởng Ấn Ðộ Và Phật Giáo Dưới Thời Thế Tôn.

Tư tưởng Ấn Ðộ trước thời đức Phật và trong thời đức Phật:

Các nhà nghiên cứu về tư tưởng Ấn Ðộ thường có nhiều nhận định khác nhau. Phát biểu về sự liên hệ giữa Vệ-đà và Phật giáo cũng thế. Phải là một công trình nghiên cứu thật công phu mới có thể có sự phân biệt rõ rà ng và có giá trị về những điểm dị đồng giữa tưởng Ấn Ðộ và Phật giáo.

Trong phần trình bà y ngắn gọn nà y, chúng tôi chủ trương trưng dẫn và i nhận định tiêu biểu và thêm và o ý kiến của riêng mình dựa và o năm Nikà ya và bốn Agà ma.

Theo Radhakrishnan và Moore, trong cuốn "Indian Philophy", Triết lý Ấn Ðộ chia ra là m năm giai đoạn:

* Giai đoạn I: Từ 2026 TTL đến 600 TTL là giai đoạn của tư tưởng Vệ-đà .

* Giai đoạn II: Từ 600 TTL đến 200 TL là giai đoạn tư tưởng Anh hùng ca.

* Giai đoạn III: Là giai đoạn của những thế kỷ đầu Tây Lịch, giai đoạn của Kinh (Sutra). Giai đoạn nà y gồm các phái Triết học:

- Nyà na hay Thực tại luận lý (Logical Realism).
- Vaisesika hay Thắng luận, hay Ða nguyên thực tại luận.
- Sà mkhya hay số luận, hay Tiến hóa nhị nguyên luận (Evolutionary Dualism).
- Yoga hay Thiền định.
- Pùrva Mìmamsa: những công trình diỠn dịch đầu tiên về Vệ-đà liên hệ đến Giới, và Uttara Mimamsa hay những khảo cứu về sau về Vệ đà liên hệ đến tri kiến, cũng gọi là Vệ-đà n-đà (Vedanta), đích của Vệ-đà .

* Giai đoạn IV: là giai đoạn học thuật, giai đoạn của các bản luận viết để giải thích các Kinh đã ra đời.

* Giai đoạn V: Tư tưởng Ấn Ðộ đương thời.

Giai đoạn Vệ-đà là giai đoạn tư tưởng của văn hóa và văn minh Aryans, từ Trung Á truyền qua. Ðây là giai đoạn triết học tựu thà nh ở Upanishads. Có bốn loại Vệ-đà : Xưng tụng cái Biết (Rig-Veda), Vệ-đà về Tế tự (Yajur-Veda); Vệ-đà về Thần chú, Ca vịnh (Samma-Veda), và Vệ-đà do Ðạo sĩ Atharva truyền lại, có tính cách tham bác và triển khai ý nghiã của ba bộ kia (Atharva-Veda).

Tư tưởng chủ yếu của người Ấn trong thời Vệ-đà nà y là : Chân lý do Thượng Ðế mặc khải cho loà i Người ở đầu mỗi chu kỳ vũ trụ (mỗi chu kỳ: 2026 triệu năm trên trái đất. Rig-Veda đề cập đến rất nhiều vị thần như thần Mặt trời (Sùrya), thần Lửa (Aggi), thần Bầu trời (Dyaus), thần Bão tố (Maruts), thần Gió (Vayu hay Và ta), thần Nước (Apas), thần Bình minh (Usas), thần Ðất (Prthivì), v.v... Nhưng theo Radhakrishnan và Moore (Ibid, tr. 5) khi dân Ấn thờ vị thần nà o thì vị thần ấy trở nên vị Thần chúa tể (đấng sáng tạo và hủy diệt vũ trụ.) Vì thế, Vệ-đà vừa mang ý nghĩa đa thần, vừa mang ý nghĩa nhất thần, có thể được gọi là Ưu đẳng thần (Henotheism hay Kathenotheism).

Ðến thời kỳ thứ hai của tư tưởng Ấn Ðộ, Phật giáo xuất hiện cùng với Kỳ-na giáo (Jainism), Saivism và Vaisnavism.

Phật giáo xuất hiện có nghĩa là Phật giáo mang một nội dung khác với nội dung tư tưởng Ấn Ðộ bấy giờ và trước đó.

P.D. Mehta, trong cuốn "Early Indian Religious Thought", nhà xuất bản Lusac và Company Limited xuất bản ở London năm 2026, viết rằng: "Tôn giáo được đức Phật đề xuất thì rất độc đáo, nó khác biệt một cách sửng sốt với tất cả các tôn giáo lớn khác. Chánh pháp, mà không phải là một con người thần thánh hay tuyệt đối, là suối nguồn. Mục đích là vô ngã, sự chấm dứt khổ đau, và sự chứng ngộ bất tử, Niết-bà n...".

(But Religion as pronounced by the Buddha is so orginal that it is startling different from all the other great religions. The Dhamma, and not a Divine Person or Absolute, is the fountain head. The goal is selflessness, the cessation from being a source of sufffering and evil, and the realization of the Deathlessness of Nirvà na...) (p. 186-187).

Geogre Grimm, một học giả người Ðức, là một Phật tử, trong phần phụ lục "The Doctrine of the Buddha as the Flower of Indian Thought" của cuốn "The Doctrine of the Buddha" (Bản dịch ra Anh ngữ của Tỳ-kheo Sìlà cà ra) viết: "Giáo lý của đức Phật cũng gọi là giáo lý của Vô ngã, tương phản với giáo lý Ngã của Vệ-đà n-đa" (..."The Doctrine of the Buddha is also called the doctrine of not-I, anattà -và da, as contrasted with the I-doctrine, the Attà -và da, of the Vedanta") - (p. 370).

Có rất nhiều kinh ở Nikà ya và Agama trình bà y sự khác biệt rõ rà ng giữa các học thuyết Ấn Ðộ và Phật giáo. Chúng tôi, người viết, ghi nhận đây là quan điểm riêng của Thượng tọa bộ và Nhứt thiết hữu bộ.

Kinh Phạm Võng (Brahmajà la Suttam) trình bà y có sáu mươi hai luận chấp của các học thuyết Ấn Ðộ bấy giờ khác biệt hẳn với Phật giáo. Trong đó có mười tám luận chấp về quá khứ (gồm bốn thường trú luận, bốn bán thườụng bán vô thường luận, bốn hữu biên vô biên luận, bốn ngụy biện, và hai vô nhân luận), ba mươi chín luận chấp về tương lai (gồm mười sáu luận chấp có tưởng sau khi chết, tám luận chấp vô tưởng sau khi chết, tám luận chấp không phải có tưởng không phải không có tưởng sau khi chết, và bảy đoạn diệt luận) và năm luận chấp về hiện tại Niết bà n luận (Hán tạng tương đương: kinh Phạm Ðộng, A-hà m).

Phẩm Tương ưng Không Thuyết (Avyà kata), Tương Ưng Bộ Kinh IV, trình bà y các luận chấp, các quan điểm sở dĩ có mặt là do sự có mặt của ái thủ, ái hữu, ái ái, là do có chấp thủ ngã (Sắc, Thọ, Tưởng, Hà nh và Thức). Ðây là điểm khác biệt rõ rà ng giữa các học thuyết Ấn Ðộ dưới thời Thế Tôn với Phật giáo. Một đằng chủ trương các thuyết liên hệ đến Ngã, một đằng chủ trương hết thảy các pháp là Vô ngã. Một số các học giả bấy giờ cho rằng tư tưởng Vệ-đà và Phật giáo gặp gỡ nhau ở thuyết Nghiệp báo (Kamma, Skt. Karma), Luân hồi (Samsà ra) và Giải thoát. Người viết nghĩ rằng đây chỉ là sự giống nhau ở tên gọi (danh từ), nhưng nội dung thì chứa đựng những gì khác hẳn nhau. Chủ trương về nghiệp báo, luân hồi, nhân quả, giải thoát của Phật giáo sẽ được trình bà y ở Chương Pháp Bảo.

Kinh Phạm Ðộng (Hán tạng, Trường A-hà m, quyển 14) trình bà y tương tự về sáu mươi hai luận chấp trên và có kết luận ngay trong phẩm kinh nà y rằng "Ngoại đạo do chấp thủ ngũ uẩn mà khởi xướng sáu mươi hai luận chấp ấy".

Lập trường của Nikà ya và Agama có thể được xem như là lập trường trung thà nh với Phật giáo khởi nguyên (nguyên thủy) nhất. Ở đây hiện rõ điểm khác biệt rất là nền tảng giữa Phật giáo và các tư tưởng Ấn Ðộ đương thời và trước đó.

Ði và o hiện tượng xã hội của sự phân biệt giai cấp Ấn Ðộ, điểm khác biệt so với Phật giáo lại cà ng dỠthấy hơn. Hiện tượng phân chia giai cấp ấy có từ ngà n năm trước đến thời Thế Tôn và kéo dà i cho đến cận đại và hiện đại.

Bốn giai cấp của xã hội Ấn (Gồm Bà -la-môn, Sát đế lợi, Phệ-xá và Thủ-đà ) có nguồn gốc từ kinh Rig-Veda, bản kinh xưa nhất của Ấn giáo. Rig-Veda, chương X, 90, 11 ghi rằng: "Miệng Ngà i thà nh tu sĩ Bà -la-môn (Brahmana), hai tay Ngà i được tạo thà nh chiến sĩ (Kshatriya), hai bắp chân Ngà i thà nh thương nhân (Vaishya), hai bà n chân Ngà i thà nh tôi tớ (Shudra)".

Các người giai cấp khác nhau không được cưới hỏi nhau, không được ăn chung bà n, không được cùng hà nh lỠ. Giai cấp cùng đình Thủ-đà -la đặc biệt bị hà nh hạ và khinh miệt.

Trong khi đó, Phật giáo chủ trương bình đẳng giai cấp, bình đẳng giữa con người có máu cùng đỏ, nước mắt cùng mặn. Quan điểm nà y được trình bà y trong nhiều kinh của Nikà ya và Agama. Chính vì điểm khác biệt nà y mà có một số Bà -la-môn giáo cho đến nay, xem Phật giáo như là thù nghịch, cho rằng chính đức Thế Tôn đã là m đảo ngược truyền thống Ấn Ðộ.

Chủ trương bình đẳng bốn giai cấp Ấn là chủ trương mang đầy tính cách mạng tư tưởng và cách mạng xã hội. Chủ trương đó của Thế Tôn, cùng với quan điểm về giáo lý giải thoát của Ngai, nói lên vị trí độc đáo của Phật giáo trong lịch sử Ấn, cũng như trong lịch sử nhân loại. Cho dù các bộ phái Phật giáo có nhìn một số nét khác biệt nhau về Thế Tôn, điều đó cũng không là m thay đổi giá trị độc đáo đó./.

Ghi chú:

(1) Bản dịch của Nguyên Hồng, Phật học viện Nha Trang, 2026.

(2) Ðại kinh Saccaka (Mahà saccakasuttam), Trung Bộ I.

-oOo-

Mục lục | Bà i kế


[Trở về trang Thư Mục]

update: 06-09-2000