[Vnbiz] Chuyện về nông dân sắp thành cổ tích
Tran Dinh Hoanh
tdhoanh at gmail.com
Thu Jul 17 07:59:41 PDT 2008
Dear Brother Khanh, chi Thuy & CACC,
Good to hear from you both. As life moves, things change and I am afraid
many romantic scenes of the countryside will disapper soon . And as
Vietnam's economy one of the fastest growing economies of the world, the
disappearance may be rather fast. Sad. But we may want to think about what
will be gone and shoud be gone and what we may want to preserve.
Thatch huts and buffalo herders may look romantic in pictures, but we don't
want to keep them, do we? We want the kids to be in school instead of on
the buffalo backs. Open ponds for drinking water look great in pictures too,
but they should be replaced with running water eventually, shouldn't they?
Rows of farmers breaking their backs under the parching sun in the fields
look good too, but we do want them to have a better life than that, don't
we? Lots of romantic looking things in pictures indeed show a life most of
us don't want to have and most farmers want to get out of. Thatched huts
will be and should be replaced with brick houses and buildings, much less
romantic, but much better to live in. So let's put the romance aside and
get ready to move the rural areas toward a modern life as fast as we can.
But what do we want to preserve?
The village may have historical landmarks that should be preserved--an old
house where a general hid for awhile during the Resistance, the old orchard
where there was a battle between a famous general and the French, an old
temple that was the first in the province, etc. All these historical
landmarks should be preserved. But how?
1. Local people have to know what may be historical landmarks and want to
preserve them. This is the education job of the cultural authorities, which
should be made a part of rural development.
2. The cultural authorities (national and local) should have plans to help
preserve cultural landmarks. (Say, if that is the current residence of
someone, there must be ways to encourage the owner to preserve the look of
the residence, say, via soft property-maintenance loans).
3. Help local people to be sophisticated and turn historical landmarks into
cultural tourist attractions (Give me any poor village in the country, and
I will turn that village into a cultural tourist destination, just by
working with the villagers and existing historical stories and landmarks of
the village). If a historical landmark may help make money, it will be
preserved by the people.
About the disappearance of the old gentle way, yes, industrialization tends
to do that. But we can't just blame industrialization. Another major
reason is that the government (most governments of the world, for that
matter) focuses solely in economic activities in their development planning
and pay no attention to the "intangible things," which are more spiritual
and directly related to the "gentle way" that the author of the posted
article is talking about. I travelled through the countryside of Vietnam
and was shocked that thieves were every where. In the old days, in the
countryside, you can just left your door open and went somewhere and chances
are everything would still be there when you got back.
That is why in my strategy for rural development, mainstream religions
should play a major role. Say, if I am the local chief of an area, I would
form a "development team" for my area, and I would invite a couple of local
religious leaders and teachers into that team. Here is something to keep
in mind: Intangible things are usually crucial but very hard to grasp.
That is why only people who is "intelligent at heart" can see and understand
intangible things; other people usually only see things they can touch.
Ex: Giving your lady a bottle of perfum or a nice shirt is easy; sensing her
happiness, sadness, loneliness and anxiety is much more difficult. But
which one is more crucial to your relationship?
We all know that religion is a key part and very deep part of the culture,
but if we look at all the Vietnamese newspapers and TV programs, how much of
their time and space is allowed for religion, even in the "Van Hoa" section,
especially when you see how much "Van Hoa" is devoted to junk stuffs like
what dumbs things some movie stars are doing.
I have studied development and philosophy all my life and, for the general
public, I know of no better way to train their heart other than religion.
If you know of a non-religious way to tame the human heart for the general
public, I would love to know. The government should not do religion, but
the government should create an environment for mainstream religions to
develop healthily. just like music, painting and sports, and incorporate
religion, as a major component of culture, into the development scheme. If
we don't take care of the human hearts in our development plan, and if we
plan only with materialistic elements, we will continue to face the problem
that we and many other countries are facing around the world: The more
money and better houses we have, the more crimes we have and the more
miserable we are. We should be wise enough to have a development scheme
that develops both the materialistic and spiritual elements side by side.
Another thing I would like to add is that we need to increase grass-root
democracy and bring local villagers into the management of their village.
Say, the village can vote on a common village regulation, saying that the
village will have no houses higher than 2 story, and whoever wants to open a
factory of a certain big size has to have the majority votes of the
village's UBND, and before the vote there must be an open hearing for all
villagers to raise their voice, etc.
With Internet services, we can find effective ways to pump lots of
sophisticate ideas on local management to local leaders to be updated.
Thank, brother Khanh and chi Thuy, for sharing on these crucial points.
Have a great day!
Hoanh
2008/7/16 Thuy Reed <lthh at sbcglobal.net>:
> [ Vietnam Business Forum ]
>
>
> WOW!...
>
> ----- Original Message ----
> From: Khanh Truong Xuan <truongxuankhanh at gmail.com>
> To: vnbiz at vietlinks.net
> Sent: Wednesday, July 16, 2008 8:06:24 AM
> Subject: Re: [Vnbiz] Chuyện về nông dân sắp thành cổ tích
>
> [ Vietnam Business Forum ]
>
>
> Chúng ta bàn nhiều về lạm phát, CPI, IPO, TTCK rồi, có lẽ cũng nên nhìn một
> chút vào một góc cạnh khác của sự phát triển nhanh của xã hội Việt nam. Đó
> là sự mất đi những vùng quê, những làng cổ, những tập quán văn hóa đã hình
> thành qua hàng trăm, nghìn năm phát triển của đất nước. Tôi đi công tác,
> nhìn những vườn táo, vườn cam rất sai, trải dài hàng cây số ven sống, thấy
> rất đẹp - nhưng anh lái xe nói một công ty BĐS mới xin được làm chủ dự án
> phát triển sân golf ở đó, nay mai dân sẽ không còn trồng trái ngọt nữa, mà
> sẽ trồng cỏ phục vụ cho sân golf. Tôi đi qua vùng quê khác, người dân đang
> sống khá thanh bình, ruộng vườn còn xanh lắm, ao làng, dòng sông chay qua
> rất nên thơ - nhưng tôi lại nghe nói dự án du lịch sinh thái, dự án xây
> dựng khu Công nghiệp sắp được mở ra và sẽ thu hồi đất nông nghiệp và đất
> công trong một thời gian không xa.... Tôi cảm giác chúng ta đang CNH, HĐH
> quá gấp gáp mà dường như không tính toán hết những giá trị vô hình như văn
> hóa, tinh thần, khiến những quyết định xóa bỏ những làng quê biến nó thành
> đô thị hay khu công nghiệp trở nên quá đơn giản. Nếu tính toán không hết,
> thì quyết định đưa ra có thể rất sai lầm. Nhân tiện đọc trên báo Tuổi trẻ có
> bài viết đăng lại trên tạp chí Tia Sáng, tôi muốn chia sẻ cùng các ACE ở
> đây. Không biết với những ACE khác nghĩ thế nào, cá nhân tôi cảm thấy rất
> yêu quý những làng quê Việt Nam, và không khỏi xót xa khi nhìn thấy những
> nét văn hóa và giá trị nhân văn gắn liền với những làng quê cổ bị xóa đi,
> không phục hồi được.
>
> http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=268989&ChannelID=330
>
> Chuyện về nông dân sắp thành cổ tích
>
> Khi những dòng sông Tiêu Tương, sông Dâu đã chết, sông Châu Giang không
> chảy đục ngầu, sông Đáy trong xanh giờ thành ao rau muống. Khi đầm hồ bị lấp
> dần, đình chùa bị tô vẽ xanh đỏ sặc sỡ, khi những nhà bê tông thay cho nhà
> đất nhà gạch với kiến trúc, vì kèo thì con người cũng đổi khác...
>
> ..........................................
>
> *Áo xông hương của chàng vắt mắc
> Đêm em nằm em đắp lấy hơi
> Gửi khăn gửi túi gửi lời
> Gửi đôi chàng mạng cho người đường xa *
>
> Tôi là một nông dân, biết đọc, biết viết và làm những con tính cộng trừ
> nhân chia đơn giản. Trước đây như vậy đã được coi là xóa nạn mù chữ, nhưng
> so với học vấn bây giờ, thì coi như chưa biết gì. Việc nhà nông cày bừa gặt
> hái, trồng lúa và trồng màu, chăn nuôi và làm nhà, tôi đều làm được cả bằng
> kiến thức cha truyền con nối. Xem âm lịch, nhìn trời đất thì biết thời tiết,
> tính toán ít nhiều cho phù hợp với vụ mùa. Ốm đau thì đánh gió bằng gừng,
> xông hơi bằng lá tre, ngải cứu, tía tô và xả.
>
> Tóm lại là một người nông dân có thể hoàn toàn sống tự cung tự cấp, cốt yếu
> là giữ đạo gia phong: kính cha mẹ, thuận vợ chồng, con cái biết nghe lời,
> yên vui với làng xóm, thế cũng tạm gọi là hạnh phúc. Chính sách của Nhà nước
> vừa nhiều vừa ở xa, chúng tôi chỉ có thể hiểu bằng sự cụ thể hóa trong hành
> vi của cán bộ xã thôn. Chủ trương tốt thì làng xóm yên bình, nhà nhà no đủ.
> Chủ trương có điều bất cập thì đời sống lộn xộn, lòng người phân tán, nhà ai
> biết nhà ấy, chuyện hay dở ngoài đường mặc kệ.
>
> Khi đời sống phát triển, khoa học kỹ thuật ít nhiều cũng đã về đến làng
> quê, tuy nhiên phần nhiều không phải do trí thức kỹ sư từ thành phố, mà do
> nhu cầu của nông dân và sự buôn bán các máy móc công cụ. Máy bơm, máy tuốt,
> máy xay xát, xe công nông, máy kéo, máy cày, người quê mày mò học lấy, điều
> khiển và sửa chữa. Nhiều xưởng cơ khí, sản xuất và chữa máy móc ra đời. Kỹ
> thuật tuy thô sơ, nhưng tay nghề không phải là kém và ứng dụng được, thay
> cho lao động thủ công.
>
> Tiện thì có tiện, nhưng tai nạn do thiếu hiểu biết cũng nhiều. Kỹ thuật
> hiện đại thay thế cho các kinh nghiệm cổ truyền, cũng làm mất đi hầu hết
> những chế tác cũ. Nông dân trẻ không còn biết cày bừa và chữa bệnh theo kinh
> nghiệm nữa. Ốm đau nhất định phải đi viện, tốn kém vô cùng. Người nông dân
> là nơi đào mỏ của các bác sĩ thành phố. Ruộng đất không tăng, nhưng người
> lại đẻ nhiều, làng xóm trở nên chật chội. Đất canh tác đã ít, nay lại càng
> thu hẹp cho các doanh nghiệp. Thanh niên không có việc làm tràn ra thành
> phố, làm cửu vạn, ôsin, buôn bán, thậm chí làm đĩ điếm, khá giả thì chạy
> chọt đi xuất khẩu lao động. Nếu học không giỏi hơn người, một con em nông
> dân muốn vào một trường đại học mất từ 30 – 50 triệu đồng hối lộ, đi lao
> động nước ngoài mất từ 120 – 150 triệu. Số tiền đó là mấy cơ nghiệp đối với
> những gia đình nông dân Bắc Bộ, mà cả họ phải góp lại cho một cháu.
>
> Làng quê tôi vốn rất thuần hậu tươi đẹp. Lũy tre xanh bao phủ xóm làng.
> Đồng ruộng rập rờn cánh cò bay. Bãi ngô ven sông xanh xa tắp. Cua cá, chim
> thú đầy đồng ruộng bụi cây, sống hài hòa với con người, thỉnh thoảng bắt ăn
> không mất tiền. Trong làng có ngôi đình mái cong duyên dáng, có việc làng
> các cụ và hội đồng kỳ mục kỳ lão tới họp, ngày hội trai gái tới vui chơi. Có
> ngôi chùa nhiều tượng Phật đẹp, thập phương xa xôi cũng đến hương khói. Có
> nghề in tranh khắc gỗ dân gian, nghề làm tương, làm bún, làm đậu phụ. Mùa
> đông có mía ngọt ăn không hết thì kéo mật. Mùa thu có bưởi và hồng. Mùa hạ
> có nhãn, vải và chuối. Mùa xuân thì đủ các thức bánh chưng, bánh dày, bánh
> tét, bánh giò, bánh gio, chè lam, chè bà cốt. Rượu nấu bằng lá men lá thơm
> và nồng, có thể ngâm thuốc chữa bệnh.
>
> Tất cả những thứ giản dị ấy dần dà chìm vào trong giấc mộng. E rằng mươi
> năm nữa không biết có còn cái làng cổ truyền từ ngàn đời nữa không? Có còn
> ai là người nông dân không? Và không biết chúng tôi có trở thành công nhân
> nông nghiệp như các nhà khoa học vẫn nói hay không.
>
> Ruộng cấy lúa ngày một mất dần vì dành cho công nghiệp. Đương nhiên phát
> triển kinh tế cần có công nghiệp, nhưng tôi nghĩ khu công nghiệp phải tập
> trung và xa dân cư. Đằng này huyện nào cũng xây nhà máy, chất thải cứ tự
> nhiên tuôn ra đồng ruộng, khác nào đem thuốc chuột rải ra toàn tỉnh. Khi khu
> công nghiệp hình thành, hàng trăm đến hàng nghìn công nhân tới, đông hơn cả
> dân làng, lại còn vợ con bè bạn của họ. Hàng quán, cờ bạc, hút xách, nhà thổ
> kéo theo, thanh niên làng tôi đâm hỏng cả. Lời hứa sau khi lấy đất sẽ cho
> con em nông dân vào làm trong nhà máy phần nhiều là hão huyền, vì nông dân
> lấy đâu ra trình độ mà trúng tuyển.
>
> Nhiều gia đình trong cảnh lộn xộn cải biến dần đất ruộng thành đất vườn.
> Đất vườn khó bị lấy hơn và nếu có giải tỏa thì đền bù lại cao hơn. Nhiều nhà
> máy do cổ phần của quan lại trong tỉnh chứ chẳng phải ai khác. Với đồng
> lương Nhà nước, họ đào đâu ra hàng chục, hàng trăm tỉ mà đầu tư như vậy. Đất
> ruộng là cả quá trình đào luyện của nhà nông mới trồng được lúa, không dễ gì
> có được. Vậy tại sao không dùng đất đồi, bãi hoang mà cứ nhè vào đồng ruộng.
>
> Làng dần thành phố. Thuần phong mĩ tục chẳng còn ý nghĩa gì. Chẳng còn lá
> lành đùm lá rách, tắt lửa tối đèn hàng xóm có nhau. Tôi nhớ lắm những ngày
> chạy ra cánh đồng, triền đê hứng gió thả diều. Những ông đồ cẩn thận điền
> từng nét chữ Nho vào tờ sớ. Những bà già váy đụp quần chùng gánh nồi đất ra
> giếng khơi. Nhớ những ngày năm ba đứa trẻ vít dây đạp cối giã gạo. Nhớ hình
> ảnh mẹ và chị buông mái tóc dài gội nước hoa bưởi và quay tóc nước tung bay
> như mưa phùn. Nhớ ông già làng đóng dại cửa, đan thuyền thúng, cẩn trọng
> chuốt từng cật tre quây rổ rá.
>
> Nhớ con giẻ cùi màu lông sặc sỡ chuyên ăn cứt chó, nhớ tiếng ễnh ương lộng
> trong đêm mưa rào. Nhớ căn nhà lá vách đất trộn rơm hăng mùi bùn, mẹ già tựa
> liếp khóc ngày chúng tôi ra trận. Nhớ những cây đa, cây đề đầu làng, ven
> đường treo cái bình vôi, cạnh những miếu hoang, không thấy thần linh mà thấy
> rờn rợn thế nào.
>
> Mọi người thường bảo trước đây quê hương nghèo nàn lạc hậu, nay ai nấy đều
> khá giả, có xe máy ti vi, thóc gạo dồi dào. Thế nhưng để đổi lấy những cái
> như thế mà thay đổi cả làng cổ xưa thì thật đắt giá. Người nông dân trước
> thì phụ thuộc vào thiên nhiên, giờ thì phụ thuộc vào biến động xã hội. Văn
> hóa đất Việt sinh ra từ nông thôn và nông dân. Khi hai cái đó mất đi hoặc
> biến đổi thì ta sẽ có thứ văn hóa gì.
>
> Kiến thức trong nông dân không nhiều, nhưng có tính chất thực tiễn và
> truyền thừa, là kết quả của nhiều đời trồng cấy và sinh sống. Nhà nông có
> thể cảm nhận những biết đổi của thời tiết, trông trời đất mà đoán mưa nắng,
> hiểu rõ cỏ cây cũng sinh trưởng như con người. Tháng giêng trồng khoai,
> tháng hai trồng đậu, tháng ba trồng cà, Thấy trăng quầng thì biết có hạn,
> trăng tán thì biết có mưa. Thấy gió hanh thì lật đất cho khô, vung vài nhát
> vồ là vỡ vụn, đợi mưa phùn cấy vụ đông xuân. Cây quả chua như me, khế, sấu
> gặp khói lò thường sớm rụi vì chúng nhạy cảm. Cây quả ngọt chịu môi trường ô
> nhiễm tốt hơn. Bùn lầy tưởng bẩn, chát vào vết thương lại mau lành. Đồ gốm
> đất nung nấu cơm kho cá thường ngon, lại giảm triệt được độc tố. Nhà tường
> đất chống ẩm mùa nồm ấm áp mùa đông.
>
> Những kinh nghiệm đó chẳng những không được sách vở tổng kết mà những thế
> hệ trẻ ở nông thôn không còn biết nữa. Chúng thích mặc quần bò áo phông,
> phóng xe bạt mạng, bật nhạc rất to, và sẵn sàng rời bỏ quê hương ra thành
> phố, hoặc không ngần ngại kết hôn với một người nước ngoài xa lạ.
>
> Tôi thuộc về một nền văn hóa khác, lạc lõng trước dòng chảy hào nhoáng của
> cuộc sống công nghiệp. Một nền văn hóa đang tàn lụi, đang trở lại với ông
> bà, không có cách gì ngăn được. Có lẽ không còn lâu nữa chuyện về người nông
> dân Bắc Bộ chỉ còn giống như trong truyện cổ tích và truyền thuyết Tấm Cám,
> Sơn Tinh - Thủy Tinh, Cây khế, hay trong những câu ca dao, những lời Quan họ
> thấm đẫm tình người. Thơ rằng:
>
> *"Thân em như giếng giữa đàng
> Người khôn rửa mặt, người quàng rửa chân"*
>
> Khi những dòng sông Tiêu Tương, sông Dâu đã chết, sông Châu Giang không
> chảy đục ngầu, sông Đáy trong xanh giờ thành ao rau muống. Khi đầm hồ bị lấp
> dần, đình chùa bị tô vẽ xanh đỏ sặc sỡ, khi những nhà bê tông thay cho nhà
> đất nhà gạch với kiến trúc, vì kèo thì con người cũng đổi khác. Tôi là một
> người nông dân già nua như cây cổ thụ, lưu luyến cởi bỏ chiếc áo nâu sồng
> cuối cùng của mình.
>
> Chuyện về nông dân sắp thành cổ tích
>
> Khi những dòng sông Tiêu Tương, sông Dâu đã chết, sông Châu Giang không
> chảy đục ngầu, sông Đáy trong xanh giờ thành ao rau muống. Khi đầm hồ bị lấp
> dần, đình chùa bị tô vẽ xanh đỏ sặc sỡ, khi những nhà bê tông thay cho nhà
> đất nhà gạch với kiến trúc, vì kèo thì con người cũng đổi khác...
>
> ..........................................
>
> *Áo xông hương của chàng vắt mắc
> Đêm em nằm em đắp lấy hơi
> Gửi khăn gửi túi gửi lời
> Gửi đôi chàng mạng cho người đường xa *
>
> Tôi là một nông dân, biết đọc, biết viết và làm những con tính cộng trừ
> nhân chia đơn giản. Trước đây như vậy đã được coi là xóa nạn mù chữ, nhưng
> so với học vấn bây giờ, thì coi như chưa biết gì. Việc nhà nông cày bừa gặt
> hái, trồng lúa và trồng màu, chăn nuôi và làm nhà, tôi đều làm được cả bằng
> kiến thức cha truyền con nối. Xem âm lịch, nhìn trời đất thì biết thời tiết,
> tính toán ít nhiều cho phù hợp với vụ mùa. Ốm đau thì đánh gió bằng gừng,
> xông hơi bằng lá tre, ngải cứu, tía tô và xả.
>
> Tóm lại là một người nông dân có thể hoàn toàn sống tự cung tự cấp, cốt yếu
> là giữ đạo gia phong: kính cha mẹ, thuận vợ chồng, con cái biết nghe lời,
> yên vui với làng xóm, thế cũng tạm gọi là hạnh phúc. Chính sách của Nhà nước
> vừa nhiều vừa ở xa, chúng tôi chỉ có thể hiểu bằng sự cụ thể hóa trong hành
> vi của cán bộ xã thôn. Chủ trương tốt thì làng xóm yên bình, nhà nhà no đủ.
> Chủ trương có điều bất cập thì đời sống lộn xộn, lòng người phân tán, nhà ai
> biết nhà ấy, chuyện hay dở ngoài đường mặc kệ.
>
> Khi đời sống phát triển, khoa học kỹ thuật ít nhiều cũng đã về đến làng
> quê, tuy nhiên phần nhiều không phải do trí thức kỹ sư từ thành phố, mà do
> nhu cầu của nông dân và sự buôn bán các máy móc công cụ. Máy bơm, máy tuốt,
> máy xay xát, xe công nông, máy kéo, máy cày, người quê mày mò học lấy, điều
> khiển và sửa chữa. Nhiều xưởng cơ khí, sản xuất và chữa máy móc ra đời. Kỹ
> thuật tuy thô sơ, nhưng tay nghề không phải là kém và ứng dụng được, thay
> cho lao động thủ công.
>
> Tiện thì có tiện, nhưng tai nạn do thiếu hiểu biết cũng nhiều. Kỹ thuật
> hiện đại thay thế cho các kinh nghiệm cổ truyền, cũng làm mất đi hầu hết
> những chế tác cũ. Nông dân trẻ không còn biết cày bừa và chữa bệnh theo kinh
> nghiệm nữa. Ốm đau nhất định phải đi viện, tốn kém vô cùng. Người nông dân
> là nơi đào mỏ của các bác sĩ thành phố. Ruộng đất không tăng, nhưng người
> lại đẻ nhiều, làng xóm trở nên chật chội. Đất canh tác đã ít, nay lại càng
> thu hẹp cho các doanh nghiệp. Thanh niên không có việc làm tràn ra thành
> phố, làm cửu vạn, ôsin, buôn bán, thậm chí làm đĩ điếm, khá giả thì chạy
> chọt đi xuất khẩu lao động. Nếu học không giỏi hơn người, một con em nông
> dân muốn vào một trường đại học mất từ 30 – 50 triệu đồng hối lộ, đi lao
> động nước ngoài mất từ 120 – 150 triệu. Số tiền đó là mấy cơ nghiệp đối với
> những gia đình nông dân Bắc Bộ, mà cả họ phải góp lại cho một cháu.
>
> Làng quê tôi vốn rất thuần hậu tươi đẹp. Lũy tre xanh bao phủ xóm làng.
> Đồng ruộng rập rờn cánh cò bay. Bãi ngô ven sông xanh xa tắp. Cua cá, chim
> thú đầy đồng ruộng bụi cây, sống hài hòa với con người, thỉnh thoảng bắt ăn
> không mất tiền. Trong làng có ngôi đình mái cong duyên dáng, có việc làng
> các cụ và hội đồng kỳ mục kỳ lão tới họp, ngày hội trai gái tới vui chơi. Có
> ngôi chùa nhiều tượng Phật đẹp, thập phương xa xôi cũng đến hương khói. Có
> nghề in tranh khắc gỗ dân gian, nghề làm tương, làm bún, làm đậu phụ. Mùa
> đông có mía ngọt ăn không hết thì kéo mật. Mùa thu có bưởi và hồng. Mùa hạ
> có nhãn, vải và chuối. Mùa xuân thì đủ các thức bánh chưng, bánh dày, bánh
> tét, bánh giò, bánh gio, chè lam, chè bà cốt. Rượu nấu bằng lá men lá thơm
> và nồng, có thể ngâm thuốc chữa bệnh.
>
> Tất cả những thứ giản dị ấy dần dà chìm vào trong giấc mộng. E rằng mươi
> năm nữa không biết có còn cái làng cổ truyền từ ngàn đời nữa không? Có còn
> ai là người nông dân không? Và không biết chúng tôi có trở thành công nhân
> nông nghiệp như các nhà khoa học vẫn nói hay không.
>
> Ruộng cấy lúa ngày một mất dần vì dành cho công nghiệp. Đương nhiên phát
> triển kinh tế cần có công nghiệp, nhưng tôi nghĩ khu công nghiệp phải tập
> trung và xa dân cư. Đằng này huyện nào cũng xây nhà máy, chất thải cứ tự
> nhiên tuôn ra đồng ruộng, khác nào đem thuốc chuột rải ra toàn tỉnh. Khi khu
> công nghiệp hình thành, hàng trăm đến hàng nghìn công nhân tới, đông hơn cả
> dân làng, lại còn vợ con bè bạn của họ. Hàng quán, cờ bạc, hút xách, nhà thổ
> kéo theo, thanh niên làng tôi đâm hỏng cả. Lời hứa sau khi lấy đất sẽ cho
> con em nông dân vào làm trong nhà máy phần nhiều là hão huyền, vì nông dân
> lấy đâu ra trình độ mà trúng tuyển.
>
> Nhiều gia đình trong cảnh lộn xộn cải biến dần đất ruộng thành đất vườn.
> Đất vườn khó bị lấy hơn và nếu có giải tỏa thì đền bù lại cao hơn. Nhiều nhà
> máy do cổ phần của quan lại trong tỉnh chứ chẳng phải ai khác. Với đồng
> lương Nhà nước, họ đào đâu ra hàng chục, hàng trăm tỉ mà đầu tư như vậy. Đất
> ruộng là cả quá trình đào luyện của nhà nông mới trồng được lúa, không dễ gì
> có được. Vậy tại sao không dùng đất đồi, bãi hoang mà cứ nhè vào đồng ruộng.
>
> Làng dần thành phố. Thuần phong mĩ tục chẳng còn ý nghĩa gì. Chẳng còn lá
> lành đùm lá rách, tắt lửa tối đèn hàng xóm có nhau. Tôi nhớ lắm những ngày
> chạy ra cánh đồng, triền đê hứng gió thả diều. Những ông đồ cẩn thận điền
> từng nét chữ Nho vào tờ sớ. Những bà già váy đụp quần chùng gánh nồi đất ra
> giếng khơi. Nhớ những ngày năm ba đứa trẻ vít dây đạp cối giã gạo. Nhớ hình
> ảnh mẹ và chị buông mái tóc dài gội nước hoa bưởi và quay tóc nước tung bay
> như mưa phùn. Nhớ ông già làng đóng dại cửa, đan thuyền thúng, cẩn trọng
> chuốt từng cật tre quây rổ rá.
>
> Nhớ con giẻ cùi màu lông sặc sỡ chuyên ăn cứt chó, nhớ tiếng ễnh ương lộng
> trong đêm mưa rào. Nhớ căn nhà lá vách đất trộn rơm hăng mùi bùn, mẹ già tựa
> liếp khóc ngày chúng tôi ra trận. Nhớ những cây đa, cây đề đầu làng, ven
> đường treo cái bình vôi, cạnh những miếu hoang, không thấy thần linh mà thấy
> rờn rợn thế nào.
>
> Mọi người thường bảo trước đây quê hương nghèo nàn lạc hậu, nay ai nấy đều
> khá giả, có xe máy ti vi, thóc gạo dồi dào. Thế nhưng để đổi lấy những cái
> như thế mà thay đổi cả làng cổ xưa thì thật đắt giá. Người nông dân trước
> thì phụ thuộc vào thiên nhiên, giờ thì phụ thuộc vào biến động xã hội. Văn
> hóa đất Việt sinh ra từ nông thôn và nông dân. Khi hai cái đó mất đi hoặc
> biến đổi thì ta sẽ có thứ văn hóa gì.
>
> Kiến thức trong nông dân không nhiều, nhưng có tính chất thực tiễn và
> truyền thừa, là kết quả của nhiều đời trồng cấy và sinh sống. Nhà nông có
> thể cảm nhận những biết đổi của thời tiết, trông trời đất mà đoán mưa nắng,
> hiểu rõ cỏ cây cũng sinh trưởng như con người. Tháng giêng trồng khoai,
> tháng hai trồng đậu, tháng ba trồng cà, Thấy trăng quầng thì biết có hạn,
> trăng tán thì biết có mưa. Thấy gió hanh thì lật đất cho khô, vung vài nhát
> vồ là vỡ vụn, đợi mưa phùn cấy vụ đông xuân. Cây quả chua như me, khế, sấu
> gặp khói lò thường sớm rụi vì chúng nhạy cảm. Cây quả ngọt chịu môi trường ô
> nhiễm tốt hơn. Bùn lầy tưởng bẩn, chát vào vết thương lại mau lành. Đồ gốm
> đất nung nấu cơm kho cá thường ngon, lại giảm triệt được độc tố. Nhà tường
> đất chống ẩm mùa nồm ấm áp mùa đông.
>
> Những kinh nghiệm đó chẳng những không được sách vở tổng kết mà những thế
> hệ trẻ ở nông thôn không còn biết nữa. Chúng thích mặc quần bò áo phông,
> phóng xe bạt mạng, bật nhạc rất to, và sẵn sàng rời bỏ quê hương ra thành
> phố, hoặc không ngần ngại kết hôn với một người nước ngoài xa lạ.
>
> Tôi thuộc về một nền văn hóa khác, lạc lõng trước dòng chảy hào nhoáng của
> cuộc sống công nghiệp. Một nền văn hóa đang tàn lụi, đang trở lại với ông
> bà, không có cách gì ngăn được. Có lẽ không còn lâu nữa chuyện về người nông
> dân Bắc Bộ chỉ còn giống như trong truyện cổ tích và truyền thuyết Tấm Cám,
> Sơn Tinh - Thủy Tinh, Cây khế, hay trong những câu ca dao, những lời Quan họ
> thấm đẫm tình người. Thơ rằng:
>
> *"Thân em như giếng giữa đàng
> Người khôn rửa mặt, người quàng rửa chân"*
>
> Khi những dòng sông Tiêu Tương, sông Dâu đã chết, sông Châu Giang không
> chảy đục ngầu, sông Đáy trong xanh giờ thành ao rau muống. Khi đầm hồ bị lấp
> dần, đình chùa bị tô vẽ xanh đỏ sặc sỡ, khi những nhà bê tông thay cho nhà
> đất nhà gạch với kiến trúc, vì kèo thì con người cũng đổi khác. Tôi là một
> người nông dân già nua như cây cổ thụ, lưu luyến cởi bỏ chiếc áo nâu sồng
> cuối cùng của mình.
>
> _______________________________________________
> To subscribe/unsubscribe, please contact admins at
> vnbizadmin at vietlinks.net
> Info at http://mail.saigon.com/mailman/listinfo/vnbiz
> Archive at http://groups.yahoo.com/group/vnbiz/
> or http://groups-beta.google.com/group/VNBIZforum/
> or http://mail.saigon.com/pipermail/vnbiz
>
--
Tran Dinh Hoanh, Esq., LLB, JD
Washington DC
-------------- next part --------------
An HTML attachment was scrubbed...
URL: http://mail.saigon.com/pipermail/vnbiz/attachments/20080717/58e5d9fe/attachment-0001.html
More information about the Vnbiz
mailing list