[Vnbiz] Fwd: CONG NGHIEP HOA - HIEN DAI HOA DAT NUOC
Tran Dinh Hoanh
tdhoanh at gmail.com
Sat May 5 07:06:18 PDT 2007
Dear CACC,
FYI.
Hoanh
---------- Forwarded message ----------
From: jphan at club-internet.fr <jphan at club-internet.fr>
Date: May 5, 2007 2:56 AM
Subject: CONG NGHIEP HOA - HIEN DAI HOA DAT NUOC
*( Neu Ban khong xem duoc Tieng Viet ) --> View --> Encoding -->
Unicode*
**
* Các Trang Web : **http://niemtin.free.fr** và
http://niemtin1.free.fr*
**
<http://niemtin.free.fr/index.shtml>
<http://niemtin.free.fr/lienhe.htm>
NIỀM TIN VÀO TƯƠNG LAI
Đi tắt đón đầu để Công Nghiệp Hóa - Hiện Đại Hoá đất nước - TS Phạm Đức ,
Kiều bào Mỹ
Với phương thức này, 15 năm cho việc thực thi mục tiêu Công Nghiệp Hóa -
Hiện Đại Hoá đất nước có khả năng thành hiện thực.
Mặc dù tăng trưởng cao trong những năm qua nhưng nền kinh tế nước ta chủ yếu
vẫn là gia công, lắp ráp và xuất khẩu những sản phẩm thô. Việt Nam không thể
dựa vào lợi thế giá nhân công rẻ và tài nguyên thiên nhiên để đưa nền kinh
tế đất nước khỏi cảnh tụt hậu; xu hướng phát triển kinh tế ngày nay phải đặt
cơ sở trên nền kinh tế tri thức
Chính phủ đặt ra mục tiêu là Công Nghiệp Hóa - Hiện Đại Hoá đất nước sẽ được
hoàn tất vào năm 2020. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra ở đây là: Tính khả thi của
mục tiêu? Những yếu tố dẫn đến thành công?...
Thưc tiễn từ những nước phát triển cho thấy cần một nền tảng khoa học kỹ
thuật vững chắc làm tiền đề cho mọi sự phát triển của các nghành công
nghiệp.
Trong đó, những nhân tố chủ yếu để xây dựng nền khoa học tiến bộ là :
(1) Môi trường chính trị, xã hội hòa bình, ổn định.
(2) Các chiến lược phát triển kinh tế rõ ràng, gắn kết ( có cơ sở khoa học
và thực tiễn ).
3) Luật pháp rõ ràng., đầy đủ bảo đảm cho một thị trường cạnh tranh lành
mạnh.
(4) Hệ thống tài chính thích hợp, linh hoạt và năng động.
Đi tắt đón đầu
Khởi đầu bằng việc thu thập công nghệ tiên tiến từ các nước phát triển, ứng
dụng, từng bước nâng cao và kết hợp với nền khoa học kỷ thuật trong nước
nhằm phát huy triệt để hiệu quả kinh tế mang lại từ khoa học kỷ thuật. Từ
sản xuất, lắp ráp, từng bước phát triển qua tiến trình cải cách, canh tân,
và phát triển nền công nghệ kỹ thuật cao - phương thức này sẽ gặp rất nhiều
khó khăn lúc ban đầu nhưng sẽ rút ngắn thời gian cần thiết một cách rõ rệt
trong việc xây dựng một nền công nghệ tân tiến – mà thường phải cần cả 30
năm để hoàn thành.
Trong thực trạng nước ta hiện nay, vấn đề cấp bách phải nâng cao khả năng
cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thương trường trong nước và cả trên thế
giới, hơn nữa rất ít doanh nghiệp Việt Nam có khả năng tự phát triển sản
phẩm mang tính kỹ thuật công nghệ cao. Bằng cách lựa chọn để nhập khẩu các
công nghệ tiên tiến từ các nước phát triển, ứng dụng, và nhanh chóng cho ra
đời những sản phẩm có trình độ công nghệ và chất lượng cao, từ đó từng bước
nâng cao, nội địa hóa từng phần sản phẩm bằng sự thông minh và trình độ khoa
học công nghệ của con người Việt Nam.
Có công nghệ tiên tiến, sản phẩm của Việt Nam sẽ có tính cạnh tranh cao nếu
phát huy các tính ưu việt sẵn có của nước ta về giá nhân công còn thấp và sử
dụng các tài nguyên sẵn có của mình. 15 năm cho việc thực thi mục tiêu hiện
đại hóa, công nghiệp hóa đất nước có khả năng hiện thực với phương thức này
Trong giai đoạn vừa qua, để giải quyết công ăn việc làm, tận dụng thế mạnh
về tiềm năng nhân lực, chúng ta đã chọn các ngành công nghiệp thực phẩm (
gạo, cà phê, thủy sản…), các ngành công nghiệp nhẹ tiêu dùng ( giầy da, dệt
may, đồ gỗ, sành sứ, giấy…). Những ngành này thực tế không có hiệu quả kinh
tế cao, nhưng là phù hợp với hoàn cảnh và tiềm lực nước ta trong giai đoạn
đầu phát triển công nghiệp. Những ngành công nghiệp này trước tiên đã đáp
ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước, bảo đảm đời sống nhân dân và ổn định tình
hình xã hội
Vấn đề là từ nay tới năm 2020, song song việc duy trì phát triển bền vững
các ngành nghề đã đạt được, để phát triển nhanh hơn, đạt được mục tiêu hiện
đại và Công Nghiệp Hóa với GDP trên đầu người đạt trên 5000 USD, chúng ta
cần lựa chọn các ngành công nghiệp nào cho phù hợp và phải tiến hành phát
triển ra sao?
Mục tiêu ngắn hạn
Vai trò của chính phủ là tạo môi trường để các doanh nghiệp hoạt động có
hiệu quả. Đường lối và chính sách cuả chính phủ nên cải thiện nhằm từng bước
phối hợp cùng doanh nghiệp giải quyết những khó khăn vướng mắc, và khắc phục
sự khiếm khuyết của thị trường phát sinh từ mọi khía cạnh. Chính phủ cần
phân tích, xem xét, giám sát đồng thời đảm bảo sự nhất quán của những chính
sách liên quan. Tạo lập sách lược nhằm khuyến khích và hổ trợ trong việc
canh tân, cải tiến các hoạt động về mọi mặt
Doanh nghiệp có đầu tư vốn nước ngoài ( FDI )
Doanh nghiệp đầu tư vốn nước ngoài ( FDI ) là nhân tố quan trọng trong việc
khai mở thị trường xuất khẩu. Mặt khác, FDI còn giúp huấn luyện những chuyên
viên kỹ thuật, đội ngũ quản lý trong việc nâng cao kỹ năng và bí quyết thành
công trên thương trường. Việt Nam cần cải tổ các chính sách như: tài chính,
mậu dịch, tiền tệ, hệ thống thuế má, ngân hàng là những trọng điểm đáng chú
ý để tạo môi trường đầu tư hấp dẫn, nâng cao khả năng thu hút nguồn vốn đầu
tư từ nước ngoài nhằm kích thích và đẩy mạnh thị trường xuất khẩu hơn nữa.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa
Doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc gia
từ việc phát triển kinh tế đến phổ cập, ứng dụng khoa học công nghệ, và tạo
công việc làm mới. Các doanh nghiệp này có vốn đầu tư vừa tầm phổ cập của đa
số doanh nhân, là đầu mối để phát triển các ngành kinh tế phục vụ dân sinh,
thường là các doanh nghiệp vệ tinh, dịch vụ, sản xuất chi tiết, phụ tùng cho
các tập đoàn công nghiệp. Do tính phổ cập rộng rãi, các doanh nghiệp vừa và
nhỏ sẽ tạo được rất nhiều công việc làm mới.
Chính phủ hiện nay đã có những chính sách thông thoáng cho sự ra đời, phát
triển những doanh nghiệp này, tuy nhiên trong bước đột phá sắp tới Chính phủ
cần có những chương trình đặc biệt khuyến khích và hổ trợ hơn nữa, đánh giá
cao hơn tầm quan trọng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong công cuộc hiện
đại hóa, công nghiệp hóa đất nước. Chính phủ cần có những chương trình hỗ
trợ nhập khẩu và ứng dụng khoa học công nghệ rộng rãi, tạo điều kiện thuận
lợi cho những doanh nghiệp này về đất đai, vay vốn và ưu đãi về thuế cho
những ngành then chốt hoặc sử dụng nhiều lao động
Các doanh nghiệp quốc doanh
Trong điều kiện trước mắt Chính phủ vẫn cần duy trì tỷ lệ thích hợp những
doanh nghiệp này, và nhất là những ngành kinh tế then chốt, các cơ sở hạ
tầng phục vụ dân sinh. Để nâng cao tính cạnh tranh của những đơn vị kinh tế
này, việc trước tiên là cần đẩy mạnh cải tiến và tăng tính hiệu quả trên cơ
sở vật chất hiện có. Những đơn vị kinh tế không có khả năng cạnh tranh cần
loại bỏ, sát nhập, hoặc thanh lý
Hành động quyết liệt này của chính phủ sẽ là sức ép bắt buộc những doanh
nghiệp quốc doanh muốn tồn tại phải tự cải tạo mình, tăng cường sự cạnh
tranh sống còn của các doanh nghiệp. Một khi Việt Nam tham gia vào tổ chức
Thương mại thế giới ( WTO ) những thành phần kinh tế quốc doanh sẽ khó nhận
được sự bảo hộ bởi chính phủ và sẽ phải tự cạnh tranh để sinh tồn.
Cải cách ngành Khoa học công nghệ
Hệ thống các cơ sở nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ hiện nay của
nước ta quá cồng kềnh, ít hiệu quả, và đặc biệt không gắn liền với nhu cầu
phát triển của các ngành kinh tế. Chính phủ cần có các hành động cải cách
mạnh mẽ về tổ chức, cung cách làm việc của ngành khoa học công nghệ , có
những chính sách hợp lý nhằm phát huy tiềm năng của hàng ngũ tri thức.
Để quản lý và đưa ra được các ý kiến tư vấn về khoa học công nghệ của các
Bộ, Ngành, Nhà nước cần thiết lập lại Ủy Ban Quản lý khoa học công nghệ Nhà
nước, thay vì Bộ khoa học công nghệ hiện nay ( chỉ nằm ngang hàng với các
Bộ, Ngành khác ). Ủy ban Quản lý khoa học công nghệ Nhà nước là cơ quan quản
lý tổng hợp khoa học công nghệ của các Bộ, Ngành, do đó sẽ đưa ra được các
tư vấn về các chương trình khoa học công nghệ Quốc gia trọng điểm, sát thực
với yêu cầu của thực tế phát triển của các Ngành kinh tế khác nhau.
Để giúp Ủy Ban thực hiện các chương trình trọng điểm, trước khi mở rộng vào
các lĩnh vực sản xuất của các Bộ, Ngành, dưới Ủy Ban cần có một Tổng công ty
( hoặc Liên hiệp ) Nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ Quốc gia, thay
vì Viện khoa học công nghệ Quốc gia hiện nay. Tổng công ty được tập trung
nguồn ngân sách và viện trợ để đầu tư con người và trang thiết bị đầy đủ cho
các Ngành khoa học công nghệ trọng điểm Quốc gia. Các cơ sở này ngoài chức
năng thực hiện hoặc tổ chức thực hiện các chương trình khoa học công nghệ
trọng điểm Quốc gia ( theo đơn đặt hàng của Ủy Ban Quản Lý khoa học công
nghệ Nhà Nước), còn đóng vai trò là một chợ khoa học công nghệ và các giải
pháp, phục vụ trực tiếp cho mọi thành phần kinh tế quốc dân có nhu cầu.
Ở đây, mọi doanh nghiệp, mọi tổ chức, cá nhân, mọi thành phần kinh tế trong
nước, ngoài nước đều có thể tìm được các giải pháp khoa học công nghệ cho sự
nghiệp sản xuất kinh doanh của mình.
Bên cạnh đó, Chính phủ nên thiết lập các cơ chế hỗ trợ các doanh nghiệp nhập
khẩu khoa học công nghệ tiên tiến, tiết kiệm năng lượng, vật tư, nuôi dưỡng
hệ thống phát triển khoa học công nghệ nhằm khuyến khích, hổ trợ, và từng
bước nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp mọi thành phần kinh
tế. Có chính sách khuyến khích nghiên cứu khoa học cơ bản nhằm mục đích phát
triển khoa học ứng dụng một cách hiệu quả.
Cải cách ngành Giáo dục và Đào tạo
Để cung cấp nhân lực đầy đủ và có chất lượng cho công cuộc phát triển kinh
tế nói chung và cho các ngành công nghiệp nói riêng, ngành Giáo Dục và Đào
Tạo không phải chỉ theo kịp mà phải đi trước một bước để đáp ứng các đòi hỏi
cấp bách của thực tế sản xuất.
Hiện trạng Giáo Dục và Đào Tạo hiện nay quá dàn trải, chi phí chiếm tỷ lệ
GDP quá cao so với các nước cùng hoàn cảnh mà chất lượng đào tạo không theo
kịp yêu cầu phát triển của sản xuất. Ngay cả trong các nước khu vực như Thái
Lan, Philipine, Malaysia đều có các Trường Đại học được công nhận đạt đẳng
cấp châu Á…
Để tập trung được nguồn lực tài chính và đầu tư ngân sách của Nhà nước, phát
huy hợp lý đóng góp của xã hội và thực hiện được mục tiêu hội nhập với trình
độ thế giới, ngành Giáo Dục và Đào Tạo chuyên gia phải phân ra rõ rệt 3 thể
loại trường Đại học và Dạy nghề khác nhau. Đối với mỗi loại đều quy định mục
tiêu đào tạo rõ ràng, có giáo trình thích hợp và có các địa chỉ bảo đảm đầu
vào và đầu ra, không đào tạo lãng phí. Những phương án cụ thể như sau:
1. Các Trường Đại học Tổng hợp có đẳng cấp Quốc tế hoặc khu vực:
Số lượng : Tối đa chỉ cần 1 trường Đại Học Tổng hợp Quốc gia và 1 trường Đại
Học Tổng hợp Quốc tế.
Nhiệm vụ : Chỉ đào tạo các chuyên gia chiến lược, các nhà khoa học tự nhiên,
xã hội và công nghệ chuyên sâu, trọng điểm Quốc gia ( có thể sẽ thay đổi cho
phù hợp theo từng thời kỳ ).
Chế độ : Nhà nước tập trung kinh phí, ngân sách và tài trợ từ bên ngoài.
Giáo viên và giáo trình : Xây dựng từ các giáo trình 20 đại học hàng đầu Thế
giới. Giảng viên: thuê Giáo Sư nước ngoài, Giáo Sư Việt kiều tự nguyện, Giáo
Sư trong nước đủ tiêu chuẩn.
Đầu vào : Các thí sinh đậu đầu bảng trong kỳ thi tuyển sinh năm đó và Các
Sinh viên xuất sắc học xong năm thứ nhất của các trường loại phía dưới. Thi
tuyển theo phỏng vấn của các giáo sư đầu ngành.
Đầu ra : Nhà nước bảo đảm các địa chỉ sử dụng cho các chuyên gia và các Nhà
khoa học đạt trình độ xuất sắc. Thị trường và doanh nghiệp sử dụng phần còn
lại.
2. Các trường Đại học chuyên nghiệp và dạy nghề do các Bộ, Ngành quản lý
chuyên môn, đào tạo và cấp kinh phí chủ yếu.
Số lượng : Giới hạn mỗi bộ hoặc ngành không quá 1 trường Đại học và 2 trường
dạy nghề. Bộ Đại học và Giáo Dục chỉ quản lý tình hình, thống kê tổng hợp,
tư vấn cho Nhà nước các chỉ đạo và can thiệp cần thiết theo Luật Giáo dục.
Kinh phí : Nhà nước chỉ hỗ trợ kinh phí và nghiệp vụ theo khả năng thực tế.
Tìm tài trợ từ bên ngoài. Đóng góp của các Đơn vị sử dụng nhân lực ( đào tạo
theo địa chỉ ).
Giảng viên : Do các Bộ chuyên ngành quản lý: Thuê Giáo Sư quốc tế, Giáo Sư
Việt kiều tự nguyện, Giáo Sư trong nước đúng chuyên môn, kinh nghiệm và nghề
nghiệp
Giáo trình : Xây dựng từ giáo trình các trường chuyên nghiệp Top 20 hàng đầu
Thế giới, cộng điều chỉnh theo yêu cầu thực tế trong nước của các Ngành.
Đầu vào : Thi tuyển theo chuẩn của Luật Giáo Dục.
Đầu ra : Bộ, ngành bảo đảm sử dụng các Sinh Viên tốt nghiệp từ khá trở lên.
Phần còn lại thị trường và các doanh nghiệp đảm nhận.
3. Các trường Đại học và dạy nghề chuyên nghiệp cổ phần Dân lập ( nội địa và
Quốc tế ).
Số lượng : Mỗi ngành không quá 3 trường đại học, và 3 trường dạy nghề, phân
3 khu vực địa lý Bắc, Trung, Nam.
Đầu vào : tuyển sinh theo chuẩn của Luật Giáo Dục, Bộ Đại học và Giáo Dục
chỉ quản lý tình hình, thống kê, tư vấn Nhà nước can thiệp theo luật Giáo
Dục.
Giáo viên : Do các trường thuê và tuyển lựa ngoài nước, trong nước, đủ tiêu
chuẩn quy định trong Luật giáo dục.
Giáo trình : lấy từ top 20 các trường chuyên nghiệp Quốc Tế. Đầu vào tuyển
sinh theo chuẩn Luật Giáo Dục .
Kinh phí : Do Học viên trả học phí. Các tài trợ của các ngành, tổ chức quốc
tế hoặc nhà nước chỉ cấp học bổng cho học sinh giỏi hoặc học sinh nghèo từ
khá trở lên.
Đầu ra : Cung cấp cho thị trường trong nước hoặc xuất khẩu Lao Động.
Như vậy,chúng ta phải có Luật Giáo Dục và Đào Tạo đủ chi tiết về các quy
định chuẩn mực cho hoạt động Giáo Dục và Đào Tạo, liên quan đến các thể loại
đào tạo nêu trên.
Tương tự tổ chức cấp trung học phổ thông cũng phải đáp ứng, bảo đảm sự liên
thông mềm mại giữa các cấp học.
Nếu không có sự cải cách mạnh mẽ, kịp thời của ngành Giáo Dục và Đào Tạo,
với hiện trạng hôm nay của Giáo Dục và Đào Tạo sẽ là mối nguy cơ lớn cho sự
phát triển của các ngành công nghiệp và kinh tế trong tương lai.
Lời kết :
Cơ hội luôn gắn liền với thử thách. Vận mạng nước Việt trong tay người Việt.
Sứ mạng chấn hưng Tổ quốc trong tay của thế hệ ngày nay, chỉ còn cách nắm
bắt vận hội, vượt qua thử thách, và cùng nhau hướng đến tương lai.
CHIÊU MỘ HIỀN TÀI, CHẤN HƯNG VÀ KIẾN THIẾT ĐẤT NƯỚC
Hiện có hàng trăm ngàn người Việt được đào tạo, rèn luyện và làm việc trong
các ngành khoa học, kỹ thuật tiên tiến đang sống tại hải ngoại, và đây là
tiềm năng không nhỏ trong việc chấn hưng và kiến thiết đất nước. Vì vậy việc
đưa được những nguồn chất xám này về nước là một hoạt động cần thiết.
Hiện nay ở Việt Nam các khu công nghiệp được phát triển mạnh mẽ, những công
ty trong các khu công nghiệp phần lớn tập trung vào các nghành sản xuất, tận
dụng nhân công rẻ, không có khả năng nghiên cứu, phát triển và chế tạo những
sản phẩm mới mà dựa vào những công nghệ đã hoàn chỉnh để tồn tại. Một khi
nền kinh tế Việt Nam phát triển, chi phí nhân công tăng lên, sẽ không còn
hấp dẫn những công ty này và họ sẽ tìm những nơi khác trên thế giới với giá
nhân công rẻ hơn.
Ngược lại với những khu công nghiệp, những khu công nghệ kỹ thuật cao lại là
nơi hội tụ của những công ty với khả năng nghiên cứu, phát triển, và chế tạo
những sản phẩm, kỹ thuật mới. Thường những công ty này được trang bị thiết
bị và kỹ thuật tân tiến với nguồn nhân lực phần lớn là khoa học gia và kỹ
thuật gia .
Khác với những công ty tập trung trong những khu công nghiệp; sản xuất là
chính yếu; Những công ty trong những khu công nghệ kỹ thuật cao sẽ nghiên
cứu, chế tạo, sản xuất, đồng thời quảng bá và tự kinh doanh sản phẩm của họ,
nên những công ty này có khả năng làm thay đổi thị trường và phát triển vượt
bậc cũng như định hướng được lối đi riêng của họ.
Khoa học kỹ thuật có tiềm năng vô cùng to lớn và có khả năng đưa nền kinh tế
của đất nước phát triển vượt trội. Chẳng hạn như Silicon Valley, California,
USA, từng là một vùng nông nghiệp đã vươn lên thành một trong những nền kinh
tế hàng đầu trên thế giới trong vòng vài chục năm và là nơi xuất khẩu sản
phẩm kỹ thuật ra thế giới đứng đầu nước Mỹ. Là vùng mà hầu hết các công ty
tập trung vào việc phát triển và sản xuất những sản phẩm kỹ thuật cao, trải
dài từ viện đại học Stanford đến San Jose, CA. Hiện nay Silicon Valley có
hơn 8.000 quỹ đầu tư, với nguồn nhân lực hơn 150.000 và doanh số bán ra hằng
năm đạt hơn 120 tỷ đô la mỹ. Silicon Valley đã tạo dựng được một môi trường
thuận lợi nhằm thúc đẩy doanh nghiệp phát triển, nguồn nhân lực phong phú;
với khả năng sáng tạo cao; được đào tạo, nuôi dưỡng, xử dụng hợp lý và hiệu
qủa, cộng thêm nguồn vốn dồi dào cung cấp bởi các quỹ đầu tư, và một thị
trường tự do là những nguyên nhân đưa đến sự thành công vượt bậc của vùng
này.
Ngày nay trào lưu kinh tế thế giới dần dần chuyển sang cơ cấu kinh tế tri
thức, giá trị sản phẩm không còn dựa trên vật liệu căn bản của sản phẩm mà
là dựa trên giá trị sáng chế của sản phẩm đó, giá trị sáng chế của sản phẩm
trở thành điểm trọng yếu trong việc cạnh tranh lâu dài. Là kỹ nguyên của
công nghệ thông tin, với sự thay đổi nhanh chóng của các ngành công nghệ;
các ngành kỹ thuật cao như là công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, công
nghệ vật liệu cơ bản mới, clean energy…dần dần trở nên cốt lõi trong các nền
kinh tế. Trong buổi giao thời này, việc thiết lập và phát triển những công
ty mới, hãng xưỡng mới nhằm tận dụng và phát huy khả năng ưu việt của khoa
học kỹ thuật ( kỹ thuật cao, lợi nhuận cao ) trở nên cấp thiết và sẽ trở
thành nguồn động lực quan trọng cho nền kinh tế quốc gia.
Khu công nghệ kỹ thuật cao được thành lập với mục đích này, mang trọng trách
hổ trợ, nuôi dưỡng và phát triển thị trường kỹ thuật cao bằng cách tạo điều
kiện và phương tiện để học đường, các đơn vị kinh tế, các tổ chức chính phủ
có cơ hội phát huy triệt để tiềm năng thông qua những chính sách khuyến
khích và tài trợ từ chính phủ, hổ trợ doanh nhân thành lập và phát triển
công ty, cũng như làm cầu nối cho mối hệ vững chắc giữa các viện nghiên cứu,
trung tâm nghiên cứu, các trường đại học và các ngành công nghệ.
Sứ mạng và những yếu tố mang đến thành công cho khu công nghệ
Nhằm cung cấp cơ sở vật chất và hổ trợ mọi mặt cho các ngành công nghệ kỹ
thuật cao.
Tạo cơ hội cho doanh nghiệp huy động vốn từ các quỹ đầu tư.
Tạo nền móng và cơ sở vật chất để thu hút nhân tài.
Có khả năng quảng bá những sản phẩm và dịch vụ kỹ thuật cao ra thế giới cũng
như cung cấp và hổ trợ cho sự quản lý và quảng bá của các công ty được thiết
lập trong khu công nghệ.
Giúp các công ty thiết lập và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ cũng như sản phẩm
trí tuệ.
Ban quản lý cần có khả năng chuyên môn và quản lý cao cũng như có tầm nhìn
chiến lược trong việc quản lý và phát triển kinh tế của khu công nghệ. Có
toàn quyền quyết định các vấn đề hệ trọng và đóng vai trò liên kết giữa các
công ty, các trường đại học, các viện nghiên cứu, chính phủ trung ương và
địa phương cho mọi hoạt động của khu công nghệ.
Chú trọng đến những nhu cầu cấp thiết của doanh nghiệp.
Tận dụng tối đa tiềm lực kinh tế hổ trợ từ bên ngoài, cũng như bảo đảm việc
đào tạo cung cấp nhân lực để đẩy mạnh nghiên cứu khoa học kỹ thuật và phát
triển kinh tế.
Đóng vai trò chiến lược nhằm đưa khoa học kỹ thuật vào việc phát triển kinh
tế, phổ biến, trao đổi thông tin, công bố và truyền bá những thành qủa khoa
học kỹ thuật.
Hổ trợ những sáng kiến cải cách, cải tổ từ phát minh, thí nghiệm thông qua
việc phát triển sản phẩm, đến hổ trợ và đầu tư tài chánh, thử nghiệm, chuyển
giao công nghệ…
Tạo điều kiện trau dồi rèn luyện và nâng cao trình độ học vấn của các nhân
viên làm việc trong các doanh nghiệp có bản doanh tại khu công nghệ. Khuyến
khích và cổ vũ các đại công ty tham gia vào việc xây dựng khu công nghệ và
đề xướng những chương trình hợp tác là việc làm quan trọng, trong phạm vi
nào đó, các đại công ty có thể sẽ mang những nghiên cứu và phát triển tích
cực đến cho khu công nghệ, cung cấp những giá trị kỹ thuật thiết thực cũng
như làm cầu nối giữa khu công nghệ và thế giới.
Sự tổng hợp của những tiện ích đặc biệt như xây dựng những đường thả bộ, nhà
hàng, bưu chính, khách sạn, ngân hàng, nhà ở, môi trường và điều kiện sống
tốt, trường học tốt, những khu giải trí và rèn luyện thân thể…thường bao gồm
trong kiến trúc của khu công nghệ. Đương nhiên việc thu hút các doanh nghiệp
đặt bản doanh tại các khu công nghệ với kiến trúc đẹp đẽ không thôi chưa đủ,
để lôi cuốn giới trí thức, kỹ thuật gia, khoa học gia về làm việc, việc
trước tiên phải bảo đảm đời sống của họ và gia đình, thu hút và khuyến khích
họ vận dụng triệt để trí tuệ cũng như được hưởng những quyền lợi tài chính.
Thường học đường, các đơn vị kinh tế, các viện nghiên cứu khoa học là nơi
qui tụ nhiều tài năng, vì vậy địa điểm của khu công nghệ nên đặt gần những
trung tâm này. Khu công nghệ cần được kiểm soát và quản lý chặt chẽ để bảo
tồn giá trị. Hệ thống giao thông thuận lợi và cơ sở hạ tầng tối tân là những
điều cần thiết.
Để đảm bảo cho sự thành công của khu công nghệ, chính phủ trung ương, chính
quyền địa phương, các ban ngành, các quỹ đầu tư, các phân viện nghiên cứu,
các trường đại học, cần hổ trợ mạnh mẽ, năng động và ổn định.
Vai trò của từng bộ phận
Chính phủ trung ương : Lập kế hoạch xây dựng khu công nghệ, liên tục cung
cấp ngân sách, yểm trợ, triển khai và phát triển khu công nghệ, đồng thời
chỉ đạo, đánh giá và quan sát hoạt động của những chương trình hợp tác. Đưa
ra tầm nhìn chiến lược cũng như những phương pháp quản lý, chương trình hành
động giữa chính phủ trung ương và các tổ chức hổ trợ (các ban ngành, chính
quyền địa phương, và ban quản lý khu công nghệ) là điều cần thiết. Cần mở
rộng những chương trình hổ trợ nhằm đáp ứng nhu cầu chuyển giao công nghệ từ
các viện nghiên cứu sang các đơn vị kinh tế tư nhân và thương nghiệp hoá
những thành quả nghiên cứu. Cũng như cần kích hoạt và tăng cường nghiên cứu
bằng cách giảm thuế cho các doanh nghiệp.
Chính quyền địa phương : Duy trì sự ổn định của các công ty bằng cách cung
cấp nhân lực cũng như tiếp sức cho việc mở rộng và bành trướng của các công
ty.
Các trường đại học : Cung cấp chất xám, nhân tài, hổ trợ thiết bị nghiên
cứu, mở rộng các chương trình hợp tác nghiên cứu, phát triển, quản lý, tư
vấn, và cố vấn về những chính sách về quản lý và hoạt động cuả khu công nghệ
Các đại công ty : Triển khai và phát triển các chương trình hợp tác giữa các
công ty nhỏ và vừa với các đại công ty, cung cấp ngân sách phụ trợ các công
trình nghiên cứu khoa học tại các viện nghiên cứu, các trường đại học.
Những khuất mắc hiện thời
Chính phủ trung ương chưa có chương trình khuyến khích một cách thỏa đáng,
hơn nữa thiếu ngân sách đầu tư và thiếu các dự án, công trình nghiên cứu
khoa học và điều quan trọng hơn là thiếu những yếu tố cần thiết như là nhân
lực…để đưa những dự án thành hiện thực. Cho nên chính phủ nên tăng cường hơn
nữa việc đầu tư vào khoa học kỹ thuật, các dự án, các công trình nghiên cứu.
Mục đích chính của khu công nghệ là tận dụng triệt để sức mạnh của khoa học
kỹ thuật để từ đó hình thành và tạo điều kiện thuận lợi cho những công ty
mới cũng như giúp đẩy mạnh và thương nghiệp hóa những kỹ thuật mới. Nhưng
mức độ tham gia của các trường đại học các phân viện nghiên cứu còn ở mức
thấp. Trong quá trình hình thành và phát triển những doanh nghiệp mới, khâu
quản lý và cố vấn kỹ thuật từ các giáo sư đại học hầu như không có. Những
chương trình hợp tác nghiên cứu và ứng dụng khoa học còn sơ sài cũng như
chưa tận dụng triệt để các thiết bị nghiên cứu khoa học.
Những việc cấp bách
Chính sách của khu công nghệ cần được thiết lập và thi hành một cách thỏa
đáng nhằm đảm bảo cam kết hổ trợ các doanh nghiệp. Phương thức này sẽ giúp
đặt một nền móng quan trọng trong việc thiết lập những công ty mang tầm cỡ
quốc tế. Phương thức này cũng đã được thử nghiệm qua tại nhiều quốc gia và
được coi là quan trọng trong việc phát triển những công ty kỹ thuật mới.
Kinh tế nước ta với đa số là doanh nghiệp nhỏ và vừa , nên khả năng nghiên
cứu và tiềm lực kinh tế bị giới hạn, việc đầu tư vào kỹ thuật mới, hay cải
tiến kỹ thuật còn tương đối thấp. Hơn nữa những khó khăn về kỹ thuật và nhân
lực cộng thêm quá tốn kém trong việc nghiên cứu làm chùn bước các doanh
nghiệp nhỏ và vừa trong việc đầu tư để phát triển. Với những giới hạn này,
việc tạo ra một môi trường thuận lợi là công việc hàng đầu của chính phủ
trung ương.
Việt Nam thiếu nền tảng khoa học kỹ thuật vững chắc, các viện nghiên cứu,
các trường đại học, các đơn vị cải cách khoa học kỹ thuật của chính phủ chưa
liên kết chặt chẽ với nhau. Việc xem xét và phân tích nền khoa học kỹ thuật
nước nhà và đưa ra những chính sách cải cách hợp lý là điều cấp bách để đảm
bảo phục vụ một cách hiệu qủa công cuộc phát triển đất nước.
Không những Việt Nam thiếu nền móng khoa học kỹ thuật vững chắc vì nhân lực
và tài lực mà còn chưa đánh gía đúng mức vai trò quan trọng mà khoa học kỹ
thuật mang lại trong công cuộc đổi mới và phát triển đất nước cũng như sự
rời rạc về phương pháp để thiết lập một nền tảng khoa học vững chắc và thiếu
những chính sách liên quan. Điều trước mắt cần làm là phải thiết lập những
ngành kỹ thuật mà các ngành này thường đòi hỏi cơ sở vật chất tốn kém, cần
xây dựng và nuôi dưỡng những tiềm năng khoa học kỹ thuật để phát triển và
thích nghi tùy theo tình hình kinh tế nước ta. Nhằm thu hút khoa học kỹ
thuật từ các công ty nước ngoài, chính phủ nên tạo điều kiện dễ dàng bằng
cách đơn giản hóa thủ tục đăng ký hành chánh, đưa ra những chính sách ưu đãi
đầu tư.
Chiêu mộ nhân tài và xử dụng tài năng của họ một cách đúng mức cho mục tiêu
phát triển kinh tế ; hiện nay có hàng trăm ngàn nhân viên, cán bộ khoa học
kỹ thuật đang làm việc trong các nghành trong cả nước nhưng chưa được phát
huy và tận dụng khả năng của họ một cách đúng mức. Mặc dù hàng ngũ này được
trang bị kiến thức và kỹ thuật còn cách xa so với thế giới hiện nay. Ngoài
ra, Việt Nam còn có hàng trăm ngàn người Việt được đào tạo, rèn luyện và làm
việc trong các nghành khoa học, kỹ thuật tiên tiến đang sống tại hải ngoại,
và đây là tiềm năng không nhỏ trong việc chấn hưng và kiến thiết đất nước.
Đem những tiến bộ khoa học ở nước ngoài vào trong nước và động viên những
chuyên gia kỹ thuật đang sống ở nước ngoài trở về làm việc tại quê nhà sẽ
đem lại nhiều thành quả kỹ thuật không ngờ. Khuyến khích một lượng lớn người
Việt hải ngoại về nước làm việc, họ sẽ đóng góp một cách đáng kể trong việc
nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật trong nước. Việc cấp giấp phép làm việc
cho những khoa học gia, kỹ thuật gia về nước sinh sống và làm việc nên được
dễ dàng cũng như chú trọng đến những chính sách ưu đãi như là: khuyến khích
kinh tế, quỹ hổ trợ nghiên cứu, được dự phần trong những thành quả kinh tế
mang lại từ công ty của họ…là những chính sách nên có.
Ngoài ra chính phủ cần khuyến khích sinh viên học sinh theo học các nghành
khoa học, kỹ thuật nhằm mục đích đào tạo và cung cấp nhân sự cũng như tăng
cường đầu tư và hỗ trợ các công trình nghiên cứu tại các trường đại học và
các viện nghiên cứu quốc gia.
Bằng cách cải thiện môi trường đầu tư, môi trường sống, điều kiện làm việc
và các chính sách khuyến khích, ưu đãi, hổ trợ từ phía chính phủ nhằm tạo cơ
hội cho người Việt hải ngoại và trong nước cùng chung sức xây dựng và kiến
thiết đất nước. Tôi tin tưởng Việt Nam sẽ có khả năng phát triển vượt trội
về kinh tế.
Phạm Đức
Giám đốc điều hành Công ty Advanced Science Inc - Hoa Kỳ
Cử nhân tại Cal Poly, San Luis Obispo, cao học tại San Jose State
University, tiến sĩ tại Santa Clara University.
Chuyên tư vấn về sách lược đầu tư cho các công ty , chính phủ các nước và
các tập đoàn trong việc nghiên cứu thị trường và chiến lược kinh tế.
--
Tran Dinh Hoanh, LLB, JD
Washington DC
-------------- next part --------------
An HTML attachment was scrubbed...
URL: http://mail.saigon.com/pipermail/vnbiz/attachments/20070505/db6530b9/attachment-0001.html
-------------- next part --------------
A non-text attachment was scrubbed...
Name: trangchu.gif
Type: image/gif
Size: 1211 bytes
Desc: not available
Url : http://mail.saigon.com/pipermail/vnbiz/attachments/20070505/db6530b9/attachment-0004.gif
-------------- next part --------------
A non-text attachment was scrubbed...
Name: lienhe.gif
Type: image/gif
Size: 1097 bytes
Desc: not available
Url : http://mail.saigon.com/pipermail/vnbiz/attachments/20070505/db6530b9/attachment-0005.gif
-------------- next part --------------
A non-text attachment was scrubbed...
Name: chh hdh.jpg
Type: image/jpeg
Size: 36337 bytes
Desc: not available
Url : http://mail.saigon.com/pipermail/vnbiz/attachments/20070505/db6530b9/attachment-0002.jpg
-------------- next part --------------
A non-text attachment was scrubbed...
Name: email2.gif
Type: image/gif
Size: 1934 bytes
Desc: not available
Url : http://mail.saigon.com/pipermail/vnbiz/attachments/20070505/db6530b9/attachment-0006.gif
-------------- next part --------------
A non-text attachment was scrubbed...
Name: logo.jpg
Type: image/jpeg
Size: 62978 bytes
Desc: not available
Url : http://mail.saigon.com/pipermail/vnbiz/attachments/20070505/db6530b9/attachment-0003.jpg
-------------- next part --------------
A non-text attachment was scrubbed...
Name: email3.gif
Type: image/gif
Size: 12009 bytes
Desc: not available
Url : http://mail.saigon.com/pipermail/vnbiz/attachments/20070505/db6530b9/attachment-0007.gif
More information about the Vnbiz
mailing list