[Vnbiz] DAI HOC CHAT LUONG CAO TAI VN
Tran Dinh Hoanh
tdhoanh at gmail.com
Tue Apr 24 18:02:00 PDT 2007
Dear CACC,
A proposal, FYI.
Hoanh
______________
From: jphan at club-internet.fr <jphan at club-internet.fr>
Date: Apr 24, 2007 7:05 PM
Subject: DAI HOC CHAT LUONG CAO TAI VN
*( Neu Ban khong xem duoc Tieng Viet ) --> View --> Encoding --> Unicode
*
**
<http://niemtin.free.fr/index.shtml>
<http://niemtin.free.fr/lienhe.htm>
NIỀM TIN VÀO TƯƠNG LAI
Sử dụng trí thức Việt kiều để xây dựng giáo dục đại học chất lượng cao tại
Việt Nam : Một đề án
Có thể nói cải tổ hệ thống giáo dục ở Việt Nam đòi hỏi một cách nhìn và giải
pháp có tính toàn bộ và lâu dài, dựa trên một triết lý giáo dục được xã hội
chấp nhận. Cần khẳng định rằng nền tảng của toàn bộ hệ thống giáo dục chính
là giáo dục cấp cơ sở như tiểu học và trung học cơ sở. Tuy nhiên sự chuyển
biến của hai cấp này lại phụ thuộc một phần quan trọng vào đội ngũ giáo viên
được đào tạo ở đại học. Tiếc là, do nhiều nguyên nhân trong đó có việc mở
rộng hệ thống giáo dục một cách ồ ạt trong thời gian gần đây ở nước ta, chất
lượng ở các đại học hiện có, đặc biệt chất lượng đào tạo bậc thạc sĩ và tiến
sĩ, đã trở thành vấn đề bức xúc cho toàn xã hội. Cải tổ đại học, vì thế, vừa
là yêu cầu của bản thân nó (đại học không chỉ có nhiệm vụ đào tạo giáo viên)
vừa là bước đi thiết yếu cho công cuộc cải tổ nền giáo dục nói chung. Nhưng
việc cải tổ toàn bộ hệ thống giáo dục là việc lâu dài. Trong một phạm vi hẹp
và cụ thể hơn, bài viết này đề xuất một đề án nhằm thiết lập ngay vài đại
học chất lượng cao (ĐHCLC) ở Việt Nam; chúng có vai trò xây dựng nền tảng
tri thức lâu dài cho xã hội, như cái đỉnh của hệ thống giáo dục. Đề án này
cũng nhấn mạnh đến vai trò trí thức Việt kiều như một giải pháp trong các
đại học chất lượng cao này nói riêng, và trong công cuộc cải tổ giáo dục đại
học và phát triển đất nước nói chung.
Lịch sử thế giới cho thấy thông qua các đóng góp khoa học của giáo sư và các
sinh viên ra trường, giáo dục đại học và uy tín của nó có vị trí đặc biệt
trong sự phát triển tự do tư duy độc lập, là niềm tự hào về trí tuệ con
người, và trở thành trung tâm bồi đắp nền văn minh của các dân tộc. Khắp thế
giới, những đại học đầu tiên và đại học hàng đầu bao giờ cũng là nơi quy tụ
lao động trí óc, tư duy sáng tạo, không bị khiên cưỡng bởi một thể chế chính
trị hoặc một mô hình suy nghĩ nào. Có thể nói thế giới trong khuôn viên đại
học là thế giới của tư duy độc lập. Sự hiện hữu của các đại học chất lượng
cao do đó có thể xem là một tiêu chuẩn để đánh giá mức độ phát triển của mỗi
quốc gia.
Cho nên dù hoài bão của mọi người là đại chúng hoá giáo dục đại học, chúng
ta phải luôn nhớ rằng vai trò tiên phong của đại học là trung tâm của tư duy
độc lập, là vườn ươm những ý tưởng sáng tạo, bồi đắp cho tri thức nhân loại.
Bất cứ nước nào cũng cần những trung tâm như thế để làm tấm gương phản chiếu
cho toàn xã hội. Hầu như ai cũng cảm nhận được vai trò quan trọng của đại
học Việt Nam từ năm 1954 đến nay. Nơi đây đã quy tụ được những bậc thầy khả
kính trong đóng góp khoa học cũng như tác phong sư phạm, thí dụ như Giáo sư
Đặng Thai Mai, Đào Duy Anh, Tôn Thất Tùng, ... và nhiều sinh viên xuất thân
từ đó cũng trở thành những bậc thầy đáng kính như Giáo sư Hà Văn Tấn, Trần
Quốc Vượng, Hoàng Tụy, … ở miền Bắc, hay Ngô Gia Hy, Đặng Đình Áng, … ở miền
Nam trước 1975. Những vị này được sinh viên và xã hội kính trọng không nhất
thiết vì bằng cấp (nhiều người chỉ có bằng tương đương với cử nhân hiện nay)
nhưng vì những công trình nghiên cứu và tác phong lao động trí tuệ của họ.
Hiển nhiên, mở rộng giáo dục đại học là cần thiết để đáp ứng nhu cầu của nền
kinh tế và hoài bão thăng tiến của người dân. Tuy nhiên, đại học sẽ không là
đúng nghĩa của nó nếu đó chỉ là nơi huấn nghệ cao cấp, nhẹ tính hàn lâm. Bất
cứ nước nào cũng cần các đại học có chất lượng cao (ở tính hàn lâm lẫn khả
năng huấn nghệ) để đào tạo những lớp người chủ chốt cho sự phát triển kinh
tế, khoa học, xã hội và văn hoá của nước ấy. Ta chưa có những đại học như
vậy.
Một điều đáng ghi nhận nữa là hầu hết các đại học hàng đầu trên thế giới (cụ
thể là khối sử dụng tiếng Anh) hiện nay đã trở về với việc đòi hỏi sinh viên
dù theo ngành chuyên môn nào cũng phải qua một chương trình giáo dục cơ bản
(khoảng hai năm). Chương trình này bao trùm mọi khía cạnh của nhân văn, xã
hội và khoa học, từ toán, vật lý, hoá học cho đến mỹ thuật, âm nhạc, triết
học, lịch sử, kinh tế, xã hội học. Nói cách khác, khả năng tư duy và phân
tích sự vật từ nhiều góc cạnh khác nhau được chú trọng ngay từ những năm đầu
đại học. Chương trình này được gọi là "liberal arts", và bắt nguồn từ quan
điểm về "liberal education", tức là giáo dục khai phóng vì mục đích hiểu
biết, nhằm trang bị cho sinh viên kiến thức tổng quát và khả năng tư duy độc
lập, chứ không chỉ nhằm mục đích huấn nghệ. Đây là một mô hình mà giáo dục
đại học cấp cử nhân tại Việt Nam nên theo.
Ở một nước đang phát triển (và mong muốn bắt kịp các nước tiên tiến) như
nước ta, đòi hỏi đại học phải đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế là rất cấp
bách, không những từ phía người dân mà cả từ phía hệ thống chính trị. Phải
khẳng định: đi học là để có việc làm xứng đáng. Đào tạo để sinh viên ra
trường dễ dàng tìm được vị trí đúng khả năng của họ là quan trọng, nhưng bảo
đảm tính hàn lâm của đại học cũng quan trọng không kém. Để thực hiện việc
này, chúng ta cần thiết lập trong thời gian sớm nhất hai đại học công lập,
chất lượng cao, ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Sau này, tùy khả năng và
rút kinh nghiệm từ hai đại học này, ta có thể thiết lập nhiều đại học chất
lượng cao ở những nơi khác, và đồng thời nâng cấp những đại học đã có hiện
nay.
Mục tiêu : đại học chất lượng cao tại Việt Nam nhằm đạt đến chất lượng đào
tạo ngang hàng các đại học hàng đầu trong khu vực hoặc các đại học chất
lượng cao ở các nước phát triển cho một số ngành khoa học xã hội - nhân văn
và khoa học tự nhiên, cần cho sự phát triển của Việt Nam.
Tiêu chuẩn : Nhằm đạt mục tiêu trên, đại học chất lượng cao cần có các tiêu
chuẩn sau:
- Là nơi tự do phát huy trí tuệ, tư duy độc lập và sáng tạo.
- Có nội dung và phương pháp đào tạo với chất lượng của các đại học có uy
tín trên thế giới.
- Có đội ngũ giáo sư giỏi, trình độ cao, tha thiết với giảng dạy và nghiên
cứu, và có đủ điều kiện để đảm bảo duy trì chất lượng đào tạo, đặc biệt là
lương bổng đúng mức để không phải lo kiếm sống thêm.
- Có sinh viên giỏi với động lực học tập cao.
- Có các điều kiện vật chất ( tuy tối thiểu ) của một đại học quốc tế cho
việc dạy, học và nghiên cứu.
- Đào tạo gắn liền với nghiên cứu, và từng bước đạt được trình độ nghiên cứu
quốc tế ở một số ngành. Cụ thể, mỗi khoa sẽ có một hay nhiều phòng thí
nghiệm, và các phòng thí nghiệm của cả trường hoạt động liên kết với nhau.
- Quản lý tốt, hữu hiệu và không lãng phí nguồn lực.
Theo tính toán sơ bộ của chúng tôi, một đại học chất lượng cao với
2.000sinh viên và 150 giáo sư như thế sẽ đòi hỏi đầu tư ban đầu tối
thiểu là 11
triệu USD (176 tỷ đồng) và chi phí hàng năm khoảng 5 triệu USD (80 tỷ đồng),
nếu như tính lương giáo sư ở mức thấp nhất là 500 USD/tháng (8 triệu đồng)
và tỷ lệ giáo sư/sinh viên là 1/15. Trong tương lai không nên xa lắm, phải
tiến tới tỷ lệ 1/10, tương đương với các đại học hàng đầu ở Mỹ. Như vậy, hai
trường như thế cần nhà nước đầu tư khoảng 22 triệu USD (352 tỷ đồng) và chi
phí hàng năm khoảng 10 triệu (160 tỷ đồng) (xem Phụ lục 1).
Nhu cầu tài chính để thiết lập hai trường đại học chất lượng cao này rõ ràng
là không quá lớn (dù trong tình trạng nguồn lực quốc gia còn eo hẹp như hiện
nay), nhất là khi hàng năm nhà nước đang chi ra một số ngoại tệ khá lớn để
gửi sinh viên đi du học hoặc đáp ứng số nhu cầu chi phí cho các lưu học sinh
tự túc kinh phí nhưng số trở về không đáng kể. Đất đai, trường sở, thiết bị
bước đầu cần được nhà nước đầu tư. Diện tích khuôn viên phải đủ rộng (ước
lượng vào khoảng 60 hecta mỗi trường) cho sự tăng trưởng lâu dài của trường.
Phòng ốc, phương tiện giảng dạy phải được thiết kế, trang bị thích hợp cho
từng ngành. Quá trình xây dựng, mua sắm thiết bị, xây dựng thư viện, v.v..
cần rất nhiều công sức và phải được giám sát chặt chẽ ngay từ đầu để tránh
lãng phí.
Khó khăn lớn nhất để thiết lập đại học chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay là
tuyển dụng (cho cả hai trường) được số 300 giáo sư theo đúng chuẩn mực giáo
sư của các trường đại học có uy tín trên thế giới, tức là phải có bằng tiến
sĩ, có công trình đăng trên các tạp chí khoa học quốc tế có uy tín (các tạp
chí mà bài nộp đăng phải thông qua một quy trình thẩm định khách quan, độc
lập của các chuyên gia cùng ngành). Ít nhất một phần tư số giáo sư được bổ
nhiệm chính thức phải hội đủ các điều kiện cao nhất, số còn lại là các giảng
viên trẻ, có bằng tiến sĩ (trên một nửa) hoặc chuẩn bị bảo vệ luận án tiến
sĩ trong năm được bổ nhiệm (phần còn lại), đã chứng tỏ khả năng nghiên cứu
(xem Phụ lục 4).
Để thực hiện dự án này, hai trường đại học chất lượng cao lúc đầu sẽ đào tạo
cấp sau cử nhân và sau đó mở rộng ra cấp cử nhân. Trường có nhiệm vụ kết hợp
nghiên cứu và giảng dạy, cấp bằng thạc sĩ (Masters) và tiến sĩ (Ph.D.) về
những ngành nhân văn (văn học, lịch sử, triết học, chính trị, kinh tế, xã
hội, tâm lý, v.v) và khoa học cơ bản (toán, vật lý, hóa học, sinh học, tin
học, v.v.). Ít nhất là trong giai đoạn đầu, hai trường này sẽ không có những
ngành đào tạo kỹ sư (do kinh phí sẽ cao hơn rất nhiều). Hệ thống các trường
Bách Khoa (Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng), với chương trình đào tạo "kỹ sư
chất lượng cao", được Pháp hỗ trợ, đang làm tốt một phần nhiệm vụ này.
Trong giai đoạn đầu, trường có thể tập trung vào năm khoa: văn-triết,
sử-địa-chính trị, kinh tế-xã hội, toán-lý-tin học, hóa-sinh. Tuy nhiên, như
ở các đại học lớn của thế giới, sinh viên mỗi khoa không bị buộc phải giới
hạn theo học các môn trong khoa mình. Ngược lại, họ được khuyến khích mở
rộng kiến thức bằng việc phải theo học một tỉ lệ nhất định (khoảng 15-25%)
một số môn của các khoa khác.
Cụ thể, hai trường đại học chất lượng cao này có nhiệm vụ :
- Đào tạo các trí thức hàng đầu cho đất nước, những người có thể trở thành
chuyên gia cho bộ máy hành chính, kinh tế hoặc các giáo sư giỏi trong tương
lai;
- Trở thành trung tâm nghiên cứu về khoa học xã hội - nhân văn và khoa học
tự nhiên có uy tín trong khu vực, luôn luôn là nơi cổ vũ và đón nhận thường
xuyên các tranh luận khoa học được phản ánh qua các cuộc trao đổi trên các
tạp chí khoa học do trường xuất bản;
- Thiết lập chương trình, soạn thảo, dịch thuật và xuất bản sách nghiên cứu
và sách giáo khoa;
- Thiết lập nhà xuất bản riêng về sách khoa học đại học;
- Qua hoạt động và tổ chức, đóng vai trò cầu nối giữa giáo dục đại học trong
nước và trí thức gốc Việt ở nước ngoài.
Trong đề án này, đại học chất lượng cao sẽ có tư cách pháp nhân của một
trường công, có thể thu học phí nhưng hoàn toàn phi lợi nhuận. Để gây quỹ
nghiên cứu và hỗ trợ các hoạt động khác, trường sẽ tích cực vận động đóng
góp của các cá nhân, các tổ chức hảo tâm trong và ngoài nước. Trường cũng
được quyền ký kết hợp đồng nghiên cứu với các doanh nghiệp, cơ quan chính
phủ, và tổ chức quốc tế. Tuy nhiên, các đóng góp và hợp đồng với những đối
tác bên ngoài không được phép đi ngược tinh thần tự quản, độc lập, và vô vị
lợi của trường.
Chúng tôi đã nghĩ đến giải pháp biến vài trường đại học hiện nay thành đại
học chất lượng cao như phác họa trên đây, hoặc kết hợp một số viện nghiên
cứu với đại học để xây dựng những khoa có uy tín. Song các giải pháp này
không khả thi vì nhiều lẽ :
- Thứ nhất, không dễ nhanh chóng thay đổi quy chế hiện có ở những trường và
viện đang đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo (GD&ĐT);
- Thứ hai, khó được sự đồng tình của những người mà chức vụ hiện tại của họ
sẽ phải xoá đi khi tái tổ chức;
- Thứ ba, không thể giải quyết thoả đáng những giáo chức hoặc quan chức
không đủ tiêu chuẩn trong hệ thống được kết hợp này;
- Thứ tư, quy chế hiện hành không cho phép trả lương khác nhau cho giáo chức
trong cùng một đại học;
- Thứ năm, việc bổ nhiệm giáo sư hiện nay không do đại học mà do Bộ GD&ĐT,
với quy chế tuyển dụng mà một người mới lấy tiến sĩ ở nước ngoài, hay một
Việt kiều dù có công trình đáng kể, khó vào được với chức danh phù hợp.
Chính vì những lý do nói trên mà chúng tôi đề nghị là hai trường này được có
quy chế đặc biệt: đó là tính tự quản cao. Ngân sách được cấp thẳng và Viện
trưởng được Thủ tướng bổ nhiệm (hoặc bãi nhiệm) dựa trên đề nghị của Hội
đồng Quản trị (Board of Trustees) của trường (xem Phụ lục 3).
Hội đồng Quản trị trường gồm những người có uy tín về giáo dục, chính trị,
doanh thương trong xã hội (kể cả người nước ngoài) được Thủ tướng bổ nhiệm
với nhiệm kỳ (chẳng hạn như 5 năm).
Viện trưởng phải là người có uy tín khoa học trong và ngoài nước, biết quản
lý, có khả năng tiếp xúc với cộng đồng giáo dục quốc tế và đặc biệt là có
khả năng gây quỹ cho trường. Viện trưởng được một Hội đồng Khoa học tham mưu
và cố vấn trong các định hướng nghiên cứu và phát triển nghiên cứu. Hội đồng
Khoa học bao gồm một số giáo sư trong và ngoài trường, những nhà khoa học
ngoài trường (từ 30 đến 40% Hội đồng) do Bộ trưởng Bộ GD&ĐT bổ nhiệm, họp
mỗi năm ít nhất hai lần.
Mỗi khoa có Hội đồng Khoa phụ trách điều hành công việc nghiên cứu và giảng
huấn trong khoa. Thành viên của Hội đồng này được giáo chức trong khoa bầu
ra trong số những giáo sư cơ hữu của trường.
Viện trưởng và Hội đồng Quản trị được giao quyền tự quản trường. Viện
trưởng, từ đề nghị của Hội đồng Khoa học, quyết định bổ nhiệm giáo sư, đặt
định quy trình tuyển chọn sinh viên theo các tiêu chuẩn do Hội đồng Quản trị
đề ra và phù hợp với chính sách chung của nhà nước. Chương trình giảng dạy
do các giáo sư đề xuất 6 tháng trước mỗi đầu niên khóa, được Hội đồng Khoa
thông qua và Viện trưởng chuẩn y.
Đội ngũ giáo sư có thể tuyển chọn từ các giáo sư hàng đầu ở các trường đại
học và các viện nghiên cứu trong nước hiện nay, từ trí thức người Việt hiện
đang giảng dạy hoặc làm nghiên cứu ở nước ngoài và các trí thức Việt kiều về
hưu có tên tuổi (xem Phụ lục 4). Trường cũng sẽ có chương trình tích cực gửi
những sinh viên vừa tốt nghiệp xuất sắc trong nước ra nước ngoài để lấy tiến
sĩ, hoặc nghiên cứu hậu tiến sĩ, để bồi dưỡng cho ban giảng huấn tương lai
của trường. Việc quy định thang chức giáo sư được tuyển là hoàn toàn do
trường quyết định trong một phiên họp của Hội đồng Quản trị mở rộng tới các
Khoa trưởng.
Thời điểm này là lúc mà nhiều người Việt ở nước ngoài đến tuổi về hưu và có
lẽ họ cũng là lớp người cuối cùng giỏi tiếng Việt, gắn bó với đất nước và có
thể sẵn sàng hồi hương. Chúng ta phải khai thác ngay "cửa sổ cơ hội" này
trước khi nó khép lại. Hai trường đại học chất lượng cao với quy chế tự quản
như đề nghị ở đây sẽ là nơi tiếp thu những trí thức Việt kiều về hưu mà vẫn
còn nhiều ý chí và khả năng đóng góp. Trường cũng là nơi phát triển liên hệ
gần gũi, cụ thể với các trí thức người Việt ở nước ngoài trong việc thỉnh
giảng, đỡ đầu các luận án làm nghiên cứu chung.
Vì hai đại học chất lượng cao đề nghị ở đây phải trở thành trung tâm giảng
huấn và nghiên cứu tầm cỡ, giáo sư ở trường sẽ không dạy hơn 9 giờ mỗi tuần
và được cung cấp những phương tiện nghiên cứu tốt nhất (chẳng hạn như phòng
làm việc riêng cho từng người, Internet băng rộng, đội ngũ nhân viên hành
chính đầy đủ khả năng). Việc bổ nhiệm và thăng tiến của giáo sư vào các
ngạch cao hơn và vào biên chế hoàn toàn tùy thuộc vào các công trình nghiên
cứu, các hoạt động chuyên ngành, và khả năng sư phạm của đương sự. Để đảm
bảo chất lượng sư phạm, các giáo sư cần có mặt ít nhất là 20-25 giờ/tuần tại
nhà trường và không nhận chức vụ nơi khác (nếu chưa được Viện trưởng cho
phép).
Hai đại học chất lượng cao này có thể mở rộng thêm trong tương lai nhưng
không nên có hơn 10.000 sinh viên (theo kinh nghiệm các nước tiên tiến). Dù
dưới hình thức nào trong tương lai, trường đại học được đề nghị ở đây phải
trở thành trung tâm giáo dục và nghiên cứu hàng đầu của Việt Nam và có uy
tín trên thế giới. Mong rằng đề nghị này được chính phủ xem xét và sớm thực
thi. Vì là ý kiến ban đầu, chúng tôi không đi vào những ý kiến quá chi tiết
về tổ chức mà chỉ xin phác thảo một số nét đại cương trong các Phụ lục để dễ
thảo luận và điều chỉnh.
Phụ lục 1
Tài chính và tư cách pháp nhân
Giải trình thêm về tư cách pháp nhân của đại học chất lượng cao
Các doanh nghiệp tự chủ kinh doanh ở nhiều nước được phân loại như sau:
doanh nghiệp công và doanh nghiệp tư tùy theo sở hữu là công hay tư. Cả hai
loại doanh nghiệp lại chia làm hai loại: loại vị lợi và vô vị lợi. Sự khác
biệt giữa vị lợi và vô vị lợi là vấn đề phân chia cổ tức. Doanh nghiệp vị
lợi chia cổ tức cho người sở hữu cổ tức (người sở hữu cổ tức có thể là chính
phủ hay tư nhân). Loại vô vị lợi có thể có lợi nhuận nhưng không bị đánh
thuế; chúng không có cổ tức và do đó lợi nhuận không được phân chia mà phải
dùng để đầu tư phát triển. Trong các loại doanh nghiệp này, ban giám đốc
doanh nghiệp được tự chủ về tuyển dụng nhân viên, về tài chính mặc dù giá cả
sản phẩm làm ra có thể bị kiểm soát nếu là doanh nghiệp độc quyền hoặc doanh
nghiệp vô vị lợi. Ngoài các hình thức doanh nghiệp trên là các "đơn vị sự
nghiệp" thuộc nhà nước; chúng không có quyền tự chủ về tài chính, hoạt động
sản xuất chỉ nhằm phục vụ lợi ích công cộng đặc biệt như chuyên chở công
cộng trong thành phố và giáo dục công như trong các trường công hiện nay ở
Việt Nam; công nhân viên của doanh nghiệp này là công chức nhà nước.
Đại học chất lượng cao sẽ có tư cách pháp nhân là doanh nghiệp công vô vị
lợi (thay vì là một "đơn vị sự nghiệp"). Loại doanh nghiệp này phù hợp với
Nghị quyết của chính phủ số 05/2005/NQ-CP:
Chuyển các cơ sở công lập đang hoạt động theo cơ chế sự nghiệp mang nặng
tính hành chính bao cấp sang cơ chế tự chủ cung ứng dịch vụ công ích không
bao cấp tràn lan và không nhằm lợi nhuận (gọi tắt là cơ chế cung ứng dịch
vụ): có đầy đủ quyền tự chủ về tổ chức và quản lý; thực hiện đúng mục tiêu
và nhiệm vụ; hạch toán đầy đủ chi phí, cân đối thu chi...; thường xuyên nâng
cao hiệu quả và chất lượng dịch vụ, sản phẩm; bảo đảm quyền lợi và cơ hội
tiếp cận bình đẳng của người thụ hưởng.
Đổi mới chế độ thu phí đi đôi với việc thực hiện tốt chính sách ưu đãi các
đối tượng chính sách và trợ giúp người nghèo. Mức phí quy định theo nguyên
tắc đủ trang trải các chi phí cần thiết, có tích luỹ để đầu tư phát triển
và xoá bỏ mọi khoản thu khác. Người thụ hưởng có quyền lựa chọn cơ sở cung
ứng dịch vụ phù hợp với từng lĩnh vực.
Đại học chất lượng cao là loại doanh nghiệp công vô vị lợi, khác hẳn doanh
nghiệp công vị lợi có tên gọi hiện nay là "doanh nghiệp quốc doanh". Đại học
chất lượng cao do đó sẽ được nhà nước bỏ vốn, có thể tài trợ một phần chi
phí thường xuyên, nhưng sẽ phải cố gắng bươn chải tự túc về chí phí thường
xuyên và đi tới ngày tự chủ hoàn toàn về tài chính.
Ước lượng sơ lược vốn ban đầu và chi phí thường xuyên tối thiểu cho một
trường được tính dựa vào các giả thiết như sau :
- Số sinh viên: 2.000. Số giáo sư 150. Số nhân viên hành chính và công nhân
: 200.
- Đất với diện tích 60 hecta để có một khuôn viên đại học có khả năng mở
rộng cho một trường với 10.000 sinh viên. Đất do nhà nước cấp.
- Chi phí xây dựng dựa trên tỷ lệ chi phí xây dựng/sinh viên của trường RMIT
ở Việt Nam.
- Giáo sư : lương tối thiểu 500 USD/tháng. Nhân viên hành chính và công
nhân: lương tối thiểu 100 USD/tháng.
- Thư viện : tối thiểu 50.000 quyển sách.
- Máy tính : mỗi giáo sư một máy tính PC, hai sinh viên một máy tính, có nối
mạng vào workstation và internet.
- Máy tính khấu hao trong vòng 3 năm.
- Phòng thí nghiệm khấu hao trong 5 năm.
- Xây dựng khấu hao trong 25 năm.
- Chi phí sinh hoạt gồm các hoạt động tổ chức hội thảo, tham dự hội nghị và
các hoạt động tương tự.
Vốn ban đầu ( Triệu USD ) Đất Nhà nước cấp Xây dựng 5,0 Thư viện 2,5 Máy
tính 1,5 Dụng cụ phòng thí nghiệm 2,0 Tổng vốn 11,0 Triệu USD Chi phí
thường xuyên hàng năm * Lương giáo sư 1,5 Lương nhân viên 0,5 Thư
viện 0,5 Khấu
hao 1,1 Xây dựng 0,2 Máy tính 0,5 Phòng thí nghiệm 0,4 Chi phí tổ chức,
sinh hoạt 0,5 Chi phí khác (điện nước, sửa chữa) 0,5 Chi phí khó dự trù
0,5 Tổng chi hàng năm 5,1 Triệu USD
Trên đây là ước lượng tối thiểu. Tổng chi hàng năm có thể tính tăng khoảng
5% một năm với dự trù lạm phát.
Phụ lục 2
Chương trình tuyển sinh trong 10 năm đầu
Năm 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Tuyển sinh thạc sĩ 200 180 * 200 180 * 200 180 *
200 * * 200 180 * 200 180 * 200 180 * * * * 200 180 * 200 180 * 200 180 Sinh
viên thạc sĩ 200 380 380 380 380 380 380 380 380 380 Tuyển sinh tiến sĩ * *
* * * * * * * * Lấy từ trong trường 0 0 0 0 0 30 27 24 21 18 Lấy từ ngoài 30
27 24 21 18 30 27 24 21 18 * * 0 0 0 0 0 30 27 24 21 * * 30 27 24 21 18 30
27 24 21 * * * 30 27 24 21 18 30 27 24 * * * 30 27 24 21 18 30 27 24 * * *
* 30 27 24 21 * 30 27 * * * * 30 27 24 21 * 30 27 * * * * * 30 27 24 21 18
30 * * * * * 30 27 24 21 18 30 Sinh viên tiến sĩ 30 57 111 159 201 222 240
204 240 240 Tổng số sinh viên sau cử nhân 230 437 491 539 581 602 620 584 620
620 Tuyến sinh cử nhân * * 350 315 315 315 350 315 315 315 * * * * 350 315
315 315 350 315 315 * * * * * 350 315 315 315 350 315 * * * * * * 350 315 315
315 350 Tổng số sinh viên cử nhân 0 0 350 665 980 1295 1295 1295 1295
1295 Tổng
số sinh viên 230 437 841 1204 1561 1897 1915 1879 1915 1915 Số giáo sư cần 15
29 56 80 104 126 128 125 128 128 Chi phí thường xuyên hàng năm (triệu
USD) 0,59
1,11 2,14 3,07 3,98 4,84 4,88 4,79 4,88 4,88 Vốn đầu tư (triệu USD) 10 * * *
* * * * * *
Giả thiết tỷ lệ bỏ học :
- Tuyển sinh tiến sĩ : Mỗi năm 10% .
- Tuyến sinh cử nhân : 10% sau năm thứ nhất.
Phụ lục 3
Sơ đồ về tổ chức Đại học
- Hội đồng quản trị: Đề nghị Thủ tướng bổ nhiệm Viện trưởng. Quyết định
đường hướng phát triển của trường và chính sách lương bổng. Theo dõi, xem
xét các báo cáo về hoạt động của trường. Tham mưu gây quĩ cho trường.
- Viện trưởng: Trách nhiệm toàn bộ mọi hoạt động của trường. Bổ nhiệm Viện
phó, và các Khoa trưởng (phải là GS) dựa trên đề nghị của Hội đồng Khoa. Bổ
nhiệm các chức vụ giáo sư dựa trên danh sách đề nghị của Hội đồng Khoa học.
- Hội đồng Khoa học: Tham mưu và cố vấn trong các định hướng giảng dạy,
nghiên cứu và phát triển nghiên cứu. Xét duyệt các ứng viên vào các chức vụ
giáo sư và đề nghị danh sách lên Viện trưởng quyết định.
Hội đồng khoa: Tư vấn Khoa trưởng về định hướng giảng dạy và nghiên cứu của
khoa. Đề nghị lên Viện trưởng ứng viên Khoa trưởng.
Phụ lục 4
Tuyển giáo sư
Giáo sư là yếu tố cơ bản tạo nên chất lượng đại học do đó chương trình tuyển
chọn giáo sư là điều cần được thiết kế và thực hiện bài bản với chất lượng
là điều kiện hàng đầu. Dưới đây là một số ý kiến về việc tuyển chọn giáo sư.
Thành phần giáo sư và giảng dạy
Ban giảng huấn của trường sẽ gồm một bộ phận cơ hữu và một bộ phận khác gồm
những giáo sư thỉnh giảng và các giảng viên trẻ, chưa khẳng định được chỗ
đứng lâu dài trong trường.
- Bộ phận cơ hữu trong ban giảng huấn gồm những người có trình độ tiến sĩ
hay tương đương trở lên, được Viện trưởng bổ nhiệm theo đề nghị của Hội đồng
khoa học. Hội đồng này có nhiệm vụ xét duyệt lý lịch khoa học và thực hiện
các cuộc phỏng vấn các ứng viên. Chức vụ của họ gọi chung là giáo sư, tuy sẽ
gồm ba ngạch "Giáo sư thực thụ" (full professor), gọi tắt là "Giáo sư" (GS),
"Phó giáo sư" (PGS) (associate professor) và "Giảng sư" (assistant
professor).
* GS và PGS đều phải có ít nhất 5 công trình khoa học sau luận án tiến sĩ
được đăng trong những tạp chí khoa học có uy tín quốc tế, có kinh nghiệm
giảng dạy. Cả hai được đề nghị hợp đồng kéo dài 10 năm (có thể gia hạn).
Những người được tuyển vào hai chức vụ này chỉ khác nhau trong uy tín khoa
học và kinh nghiệm nghiên cứu, giảng dạy, nhưng có nh�
--
Tran Dinh Hoanh, LLB, JD
Attorney of Law
Washington DC
-------------- next part --------------
An HTML attachment was scrubbed...
URL: http://mail.saigon.com/pipermail/vnbiz/attachments/20070424/cdf49bd4/attachment-0001.html
-------------- next part --------------
A non-text attachment was scrubbed...
Name: email3.gif
Type: image/gif
Size: 12009 bytes
Desc: not available
Url : http://mail.saigon.com/pipermail/vnbiz/attachments/20070424/cdf49bd4/attachment-0004.gif
-------------- next part --------------
A non-text attachment was scrubbed...
Name: daihocchatluongcao1.jpg
Type: image/jpeg
Size: 33256 bytes
Desc: not available
Url : http://mail.saigon.com/pipermail/vnbiz/attachments/20070424/cdf49bd4/attachment-0003.jpg
-------------- next part --------------
A non-text attachment was scrubbed...
Name: trangchu.gif
Type: image/gif
Size: 1211 bytes
Desc: not available
Url : http://mail.saigon.com/pipermail/vnbiz/attachments/20070424/cdf49bd4/attachment-0005.gif
-------------- next part --------------
A non-text attachment was scrubbed...
Name: lienhe.gif
Type: image/gif
Size: 1097 bytes
Desc: not available
Url : http://mail.saigon.com/pipermail/vnbiz/attachments/20070424/cdf49bd4/attachment-0006.gif
-------------- next part --------------
A non-text attachment was scrubbed...
Name: logo.jpg
Type: image/jpeg
Size: 61654 bytes
Desc: not available
Url : http://mail.saigon.com/pipermail/vnbiz/attachments/20070424/cdf49bd4/attachment-0004.jpg
-------------- next part --------------
A non-text attachment was scrubbed...
Name: email2.gif
Type: image/gif
Size: 1934 bytes
Desc: not available
Url : http://mail.saigon.com/pipermail/vnbiz/attachments/20070424/cdf49bd4/attachment-0007.gif
-------------- next part --------------
A non-text attachment was scrubbed...
Name: daihocchatluongcao.jpg
Type: image/jpeg
Size: 43448 bytes
Desc: not available
Url : http://mail.saigon.com/pipermail/vnbiz/attachments/20070424/cdf49bd4/attachment-0005.jpg
More information about the Vnbiz
mailing list