[Vnbiz] Fwd: CHINH SACH TAI CHINH PHAT TRIEN BEN VUNG
Tran Dinh Hoanh
tdhoanh at gmail.com
Thu Apr 5 05:01:56 PDT 2007
Dear CACC,
FYi.
Hoanh
---------- Forwarded message ----------
From: jphan at club-internet.fr <jphan at club-internet.fr>
Date: Apr 2, 2007 7:21 PM
Subject: CHINH SACH TAI CHINH PHAT TRIEN BEN VUNG
*( Neu Ban khong xem duoc Tieng Viet ) --> View --> Encoding --> Unicode
*
**
<http://niemtin.free.fr/index.shtml>
<http://niemtin.free.fr/lienhe.htm>
NIỀM TIN VÀO TƯƠNG LAI
CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG - Chuyên gia tài chính Bùi
Kiến Thành , Kiều bào Mỹ
Mục tiêu và phương hướng phát triển đất nước tổng quát 5 năm : 2006 - 2010
5 năm ( 2006 - 2010 ) có ý nghĩa quyết định đối với việc hoàn thành Chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm đầu thế kỷ 21. Mục tiêu và phương
hướng tổng quát của 5 năm 2006 - 2010 là đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước ; chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế; sớm đưa nước
ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta
cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
Phấn đấu tăng trưởng kinh tế với nhịp độ nhanh hơn, có chất lượng cao hơn,
bền vững hơn. Ðến năm 2010 tổng sản phẩm trong nước ( GDP ) tăng gấp 2,1 lần
so với năm 2000; mức tăng trưởng GDP bình quân đạt 7, 5% đến 8% /năm và phấn
đấu đạt trên 8% /năm.
Từng bước phát triển vững chắc thị trường tài chính, hoàn thiện thị trường
tiền tệ; lành mạnh hóa các hoạt động giao dịch vốn ngắn hạn và mua bán các
giấy tờ có giá trên thị trường. Phát triển mạnh thị trường vốn, thúc đẩy
mạnh hơn hoạt động của thị trường chứng khoán gắn với tiến trình cổ phần hóa
doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, phát triển
hình thức cổ phần và huy động các nguồn vốn trong xã hội cho đầu tư phát
triển. Củng cố ngân hàng nhà nước, lành mạnh hóa, cơ cấu lại hệ thống ngân
hàng thương mại, các công ty tài chính, công ty mua bán nợ, công ty đầu tư
chứng khoán.
Thúc đẩy việc hình thành một số tập đoàn kinh tế mạnh, tầm cỡ khu vực, có sự
tham gia cổ phần của Nhà nước, của tư nhân trong và ngoài nước. Theo đó có
thể thấy phương hướng chính đã được vạch ra, vấn đề là phương thức nào phù
hợp để đem lại hiệu quả cao nhất có thể. Sau đây là đề xuất để làm cơ sở cho
việc nghiên cứu và xây dựng các chính sách thực tiển.
1. Về chính sách tài chính :
Trong một nền kinh tế thị trường, động cơ phát triển là các doanh nghiệp. Để
có thể phát triển, điều kiện then chốt là vần đề vốn. Nếu tất cả các yếu tố
khác, như sản phẩm, công nghệ, nhân sự v.v. đều được hội tụ mà không giải
quyết được vấn đề cung cấp vốn thì doanh nghiệp không thể phát huy được tiềm
năng sáng tạo của mình. Có thể ví tài chính như máu huyết lưu thông trong cơ
thể. Không có máu thì con người không thể tồn tại, lớn lên và trưởng thành.
Thiếu máu thì cơ thể suy yếu, không phát triển tốt và con người sẽ đau ốm,
bệnh tật, không thể góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng đất nước, xã
hội. Nếu quá thừa máu thì tim mạch, cơ thể bị áp huyết cao, nguồn gốc của
nhiều chứng bệnh khác và con người cũng trở thành một gánh nặng cho xã hội.
Tóm lại, cơ thể con người cần phải được cung cấp đầy đủ máu huyết để phát
triển. Nền kinh tế cũng vậy, cần phải được cung cấp tài chính đầy đủ, không
quá ít, không quá nhiều để phát triển được mạnh mẽ và bền vững.
Trong thuật ngữ tài chính tình trạng thiếu tài chính, thiếu vốn cho nền kinh
tế phát triển được gọi là "Deflation" ( tạm dịch là khiếm phát - hay thiểu
phát ), và tình trạng dư thừa tài chính gây ra hỗn loạn kinh tế được gọi là
"Inflation" ( lạm phát ), cả hai đều thuộc phạm vi điều tiết của nhà nước.
Trách nhiệm của một chính sách tài chính tiền tệ "tốt" là điều tiết khối
lượng tiền tệ lưu hành để cung cấp đủ vốn cho kinh tế phát triển, và đồng
thời khống chế không để xảy ra lạm phát.
Trong hiện tình của nền kinh tế Việt Nam công tác kiềm chế lạm phát tương
đối tốt, nhưng công tác cung cấp đủ vốn để phát triển còn là một vấn đề chưa
có đáp án.
Vốn tức là tiền, có nghĩa là để có thể cung cấp vốn cho các xí nghiệp phát
triển nhà nước cần phải có tiền. Nhà nước có nhiều nguồn tiền :
(1) Một là từ thu thuế vào ngân sách của nhà nước.
(2) Vay của nhân dân và các tổ chức tài chính trong nước và nước ngoài .
(3) Ba là phát hành tiền qua chính sách tiền tệ.
Về phương diện tài chính, Nhà nước khác với tư nhân. Muốn có tiền vốn tư
nhân cần phải tiết kiệm để tích lũy. Nhà nước không cần phải tích luỹ mới có
vốn mà có quyền phát hành, nôm na là "in giấy bạc" nhưng trong một hệ thống
tiền tệ hiện đại Nhà nước không cần in giấy bạc để có tiền, mà chỉ cần phát
hành qua hệ thống ngân hàng bằng nhiều phương thức.
2. Mục đích:
Cung cấp đầy đủ vốn cho kinh tế phát triển và đồng thời khống chế không để
xảy ra lạm phát.
3. Nguyên tắc :
Không để cho một dự án nào khả thi bị thiếu vốn phát triển.
Hiện nay trong nhiều lĩnh vực, nhiều cấp bậc, từ trung ương đến địa phương,
không ít dự án sáng tạo, khả thi, được giám định là có tiềm năng và có thị
trường, nhưng không dược cung cấp vốn để phát triển. Đây là một sự bất cập,
mất mát lớn, lãng phí tư duy sáng tạo của nhân dân. Ở các nước như Nhật
trong thời đại Minh Trị hoặc Hàn Quốc trong những năm 1960-1970, nhà nước
lập ra cơ chế để giám định, đánh giá, và cung cấp vốn 100% cho các dự án xét
ra đủ yếu tố khả thi; chủ đầu tư được khuyến khích tập trung vào công tác
phát triển sản xuất kinh doanh. Do đó chỉ cần có hai ba thập kỷ nền kinh tế
Nhật cũng như Hàn Quốc vươn lên thành những nền công nghiệp, tài chính,
thương mại hàng đầu thế giới.
Điều cốt lõi trong chính sách tài trợ vốn này là quyết định cho vay dựa trên
chất lượng và tính khả thi của dự án, năng lực quản lý của chủ đầu tư, chứ
không phải khả năng góp vốn của chủ xí nghiệp hoặc giá trị tài sản thế chấp.
Do đó việc xây dựng tiêu chuẩn thẩm định dự án, và đào tạo nâng cao năng lực
và trình độ của đội ngũ giám định là những yếu tố chính quyết định thành quả
của chính sách
Đây là những kinh nghiệm mà Việt Nam cần nghiên cứu để rút ra những phương
thức sáng tạo áp dụng cho hoàn cảnh của Việt Nam ngày nay. Trong trường hợp
của Hàn Quốc, Tổng Thống Phác Chánh Hy (Park Chung Hee) hội lại các lãnh đạo
kinh doanh Hàn Quốc để thông báo quyết định của Nhà nước, và chỉ thị cho các
nhà chức trách liên quan đến tài chính tiền tệ xây dựng chính sách và cơ chế
phù hợp để triển khai. Các chuyên gia nước ngoài được thuê làm tư vấn. Các
tổ chức tài chính quốc tế được mời tham gia.
4. Giải pháp :
Nhà nước là nguồn vốn cuối cùng .
Giải pháp tạo nguồn vốn được áp dụng là tận dụng mọi khả năng huy động vốn
trong nhân dân và trên thị trường tài chính quốc tế. Phần còn lại được nhà
nước cung cấp qua chính sách tiền tệ và hệ thống ngân hàng.
Các ngân hàng thương mại và đầu tư được khuyến khích cho vay, và chiết khấu
"các giấy nợ" cho Ngân hàng nhà nước. Nói một cách khác, các ngân hàng
thương mại đóng vai trò nghiên cứu, giám định các dự án, và cho vay; và sau
đó "bán lại giấy nợ" cho Ngân hàng nhà nước qua hệ thống chiết khấu các
"chứng từ thương mại". Tóm lại Ngân hàng nhà nước là nguồn tài chính để hỗ
trợ phát triển.
Song song với việc áp dụng chính sách tài trợ 100% vốn cho xí nghiệp, nhà
nước thực hiện viêc củng cố ngân hàng nhà nước, lành mạnh hóa, cơ cấu lại hệ
thống ngân hàng thương mại, các công ty tài chính, công ty mua bán nợ, công
ty đầu tư chứng khoán, như đã đề ra trong dự thảo Báo Cáo Chính Trị được
trích dẫn trên đây.
Chính sách tài trợ 100% vốn cho các dự án là chính sách căn bản nhất của Hàn
Quốc để nhanh chóng đưa các tập đoàn như DAEWOO, HUYNDAI, SAMSUNG v.v... trở
thành những tập đoàn công nghệ, tài chính, thương mại hàng đầu. Việc xây
dựng các tập đoàn mạnh cũng là mục tiêu của Báo Cáo Chính Trị : Thúc đẩy
việc hình thành một số tập đoàn kinh tế mạnh, tầm cỡ khu vực, có sự tham gia
cổ phần của Nhà nước, của tư nhân trong và ngoài nước.
5. Triển khai :
(a) Chuẩn bị :
Để thực hiện một chính sách như trên cần phải được chuẩn bị chu đáo. Trong
khi Việt Nam chưa có đủ khả năng tri thức và kinh nghiệm, việc thuê tư vấn
nước ngoài và Việt Kiều là cần thiết. Nếu xét cần, có thể kêu gọi Ngân hàng
Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển Châu á (ADB) tài trợ trong khung khổ các
hạng mục "Phát triển nguồn năng lực" ( Capacity Building ). Ngoài ra còn có
thể kêu gọi viện trợ song phương tư các nước như Hoa kỳ, Nhật, Đức, Hàn Quốc
v.v.. những quốc gia có khả năng viện trợ kỹ thuật trực tiếp, gửi các đoàn
chuyên gia có kinh nghiệm thực tiển về xây dựng một hệ thống tài chính, tiền
tệ, ngân hàng để phục vụ phát triển.
(b) Lập tiêu chuẩn :
Qua công trình nghiên cứu, góp ý của các chuyên gia trong nước, và tư vấn
của các chuyên gia kinh tế tài chính quốc tế, kể cả các chuyên gia Việt
Kiều, nhà nước thiết lập những tiêu chuẩn giám định chất lượng và tính chất
khả thi của các dự án, đáp ứng đươc hai điều kiện cốt yếu là phát triển bền
vững và không gây ra lạm phát.
(c) Giám định và Chiết khấu :
Một trong những cơ cấu tổ chức cần được sớm hình thành trong hệ thống ngân
hàng là "Thị trường chiết khấu giấy nợ" do Ngân hàng nhà nước vận hành.
Trong hệ thống ngân hàng của Mỹ, thuật ngữ tiếng Anh gọi hoạt động này là
"Open Market Operations" qua đó "Cục dự trữ Liên bang" chiết khấu các giấy
nợ của các ngân hàng thương mại, và điều tiết lưu lượng tiền tệ trên thị
trường tài chính.
Để thực hiện việc này Ngân hàng nhà nước cần nhanh chóng xây dựng một Vụ
Giám định để đánh giá tiêu chí và chất lượng của những dự án cần được cấp
vốn, những giấy nợ do các ngân hàng thương mại đề nghị chiết khấu
(d) Tham gia của các ngân hàng nước ngoài :
Trong tình trạng các ngân hàng Việt Nam chưa có đủ kinh nghiêm quản lí, đội
ngũ cán bộ có đủ trình độ và năng lực giám định đánh giá các dự án, nhà nước
nên mở rộng phạm vi hoạt động của các ngân hàng nước ngoài và cho phép các
ngân hàng nước ngoài được tham gia thực hiện chính sách này.
6. Nguồn vốn từ thị trường tài chính quốc tế :
Để có nguồn vốn từ nước ngoài nhằm phục vụ phát triển, các nước lớn nhỏ, kể
cả Hoa kỳ, ngoài việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp, đều huy dộng vốn trên
thị trường tài chính quốc tế qua phát hành trái phiếu. Có ba loại trái phiếu
chính: (1) Trái phiếu nhà nước, (2) Trái phiếu của các thành phố (3) Trái
phiếu công ty.
Vừa qua Việt Nam đã phát hành thành công một đợt 750 triệu USD trái phiếu
nhà nước, qua trung gian một ngân hàng đầu tư nước ngoài. Lãi suất trung
bình là 7,25% với thời hạn vay lên đến 15 năm. Khả năng cung cấp vốn từ thị
trường tài chính quốc tế là rất lớn, lên đến hàng nghìn tỷ USD mổi năm. Vấn
đề là Việt Nam cần bao nhiêu và sử dụng thế nào cho có hiệu quả nguồn vốn
này.
Từ trước đến nay nhà nước Việt Nam đặc biệt quan tâm đến nguồn vốn ODA làm
nguồn vốn chính để phát triển, vì cho rằng lãi suất của nguồn vốn này thấp,
phù hợp với tình trạng tài chính của Việt Nam. Nhưng khi phân tích sâu về
nguồn vốn ODA, thì mới lộ ra những bất lợi căn bản, ví dụ như những quy định
buộc Việt Nam phải mua trang thiết bị và cung ứng dịch vụ từ các quốc gia
cung cấp vốn, với những điều kiện giá cả cao hơn giá của thị trường, và các
thể thức lập dự án giải ngân rất phức tạp. Mặt khác, số lượng vốn ODA có hạn
mà nhu cầu vốn phát triển là rất lớn, Việt Nam cần phải tiếp cận các nguồn
vốn trên thị trường tài chính quốc tế, với lãi suất thương mại bình thường
chứ không thể tiếp tục trông nhờ mãi nơi tiền viện trợ.
7. Thí điểm :
Để có thể trắc nghiệm chính sách Nhà nước có thể lựa chọn Thành Phố Hồ Chí
Minh làm thí điểm. Thành Phố Hồ Chí Minh là địa bàn có nền kinh tế phát
triển nhất trong cả nước, về quy mô vốn, trình độ công nghê, kinh nghiệm
quản lí, để có thể nhanh chóng tiếp thu và triển khai những phương thức mới
của chính sách.
Trong những năm qua, Thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành nghiên cứu cơ sở
pháp lí và kỹ thuật của việc huy động vốn do Thành phố thực hiện, kể cả huy
động vốn bằng phát hành trái phiếu của Thành phố.
Kết luận :
Trên dây là phác hoạ các điểm đầu giòng của một chính sách có tính chất đột
phá cần thiết cho tăng tốc phát triển kinh tế xã hội hầu rút ngắn khoảng
cách so với các nền kinh tế trong khu vực, chuẩn bị cho hội nhập kinh tế thế
giới.
Dự thảo Báo Cáo Chính Trị đưa ra mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân đạt 7,5%
đến 8% /năm và phấn đấu đạt trên 8%/năm. Với mức tăng trưởng này Việt Nam
khó có thể đuổi kịp các đối thủ, khoảng cách không những sẽ không được rút
ngắn mà sẽ còn kéo giãn thêm ra. Việt Nam cần có một chính sách thích ứng
cung cấp đủ vốn cho phát triển để GDP tăng tốc lên 10% đến 11% /năm thì mới
có khả năng tránh được nguy cơ tiếp tục tụt hậu.
--
Tran Dinh Hoanh, LLB, JD
Attorney of Law
Washington DC
-------------- next part --------------
An HTML attachment was scrubbed...
URL: http://mail.saigon.com/pipermail/vnbiz/attachments/20070405/88e2e415/attachment-0001.html
-------------- next part --------------
A non-text attachment was scrubbed...
Name: email3.gif
Type: image/gif
Size: 12009 bytes
Desc: not available
Url : http://mail.saigon.com/pipermail/vnbiz/attachments/20070405/88e2e415/attachment-0004.gif
-------------- next part --------------
A non-text attachment was scrubbed...
Name: email2.gif
Type: image/gif
Size: 1934 bytes
Desc: not available
Url : http://mail.saigon.com/pipermail/vnbiz/attachments/20070405/88e2e415/attachment-0005.gif
-------------- next part --------------
A non-text attachment was scrubbed...
Name: trangchu.gif
Type: image/gif
Size: 1211 bytes
Desc: not available
Url : http://mail.saigon.com/pipermail/vnbiz/attachments/20070405/88e2e415/attachment-0006.gif
-------------- next part --------------
A non-text attachment was scrubbed...
Name: logo.jpg
Type: image/jpeg
Size: 61654 bytes
Desc: not available
Url : http://mail.saigon.com/pipermail/vnbiz/attachments/20070405/88e2e415/attachment-0002.jpg
-------------- next part --------------
A non-text attachment was scrubbed...
Name: lienhe.gif
Type: image/gif
Size: 1097 bytes
Desc: not available
Url : http://mail.saigon.com/pipermail/vnbiz/attachments/20070405/88e2e415/attachment-0007.gif
-------------- next part --------------
A non-text attachment was scrubbed...
Name: financial.jpg
Type: image/jpeg
Size: 22806 bytes
Desc: not available
Url : http://mail.saigon.com/pipermail/vnbiz/attachments/20070405/88e2e415/attachment-0003.jpg
More information about the Vnbiz
mailing list