[Vnbiz] HIEN DAI HOA NGAN HANG VA TAI CHINH (Modernizing Banking and Finance System)
Tran Dinh Hoanh
tdhoanh at gmail.com
Wed Sep 27 06:53:54 PDT 2006
Dear CACC,
FYI.
Hoanh
---------- Forwarded message ----------
From: jphan <jphan at club-internet.fr>
Date: Sep 27, 2006 3:54 AM
Subject: HIEN DAI HOA NGAN HANG VA TAI CHINH
*( Neu Ban khong xem duoc Tieng Viet ) : View --> Encoding --> More -->
Unicode*
**
*Trang Web : http://niemtin.homelinux.com*
**
<http://niemtin.homelinux.com/index.shtml>
<http://niemtin.homelinux.com/lienhe.htm>
NIỀM TIN VÀO TƯƠNG LAI
Hiện đại hóa Ngân hàng và Tài chính bằng « Đặc khu Quốc tế Offshore » - Cạnh
tranh của các ngân hàng ngoại quốc
( Những góp ý về lĩnh vực Ngân hàng và Tài chính của Chuyên gia ngân hàng và
đầu tư Vũ Giản - Việt kiều Thụy Sĩ ).
Theo Hiệp-ước thương-mại Việt - Mỹ thì đến năm 2010, các ngân-hàng Mỹ sẽ
được phép mở ngân-hàng con 100% vốn Mỹ ở Việt Nam, với điều-kiện có vốn
điều-lệ tối thiểu 10 triệu đô-la Mỹ. Có thể điều-kiện này cũng sẽ được đòi
hỏi bởi các đối-tác nước ngoài khác, sau khi Việt Nam trở nên thành-viên của
Tổ-chức Thương-mại Thế-giới WTO.
Tại Hội-thảo « Chọn lựa Chiến-thuật trong công-nghịệp ngân-hàng » ở Hà Nội
vào đầu tháng 9/2005, Trung-tâm tư-vấn công-nghệ và đầu-tư ở Việt Nam
(VietBid) đã phán đoán rằng tới năm 2010, thị-phần của các ngân-hàng
quốc-doanh sẽ bị lùi từ 70% xuống 46%, các ngân-hàng cổ-phần sẽ tăng lên 30%
( cũng đúng như dự đoán của Ngân-hàng nhà nước với chính-phủ Úc ), và các
ngân.hàng nước ngoài sẽ tăng gấp đôi tới mức 24%.
VietBid cũng phân tích kết quả cuộc thăm dò ý-kiến cho thấy chiều-hướng lớn
mạnh của nhiều doanh-nghiệp Việt Nam và các cá-nhân ưa thích chọn các
dịch-vụ của các ngân.hàng ngoại-quốc hơn các ngân hàng Việt Nam.
Chiều-hướng này được xác nhận bởi 1 cuộc thăm dò ý-kiến tổ-chức bởi Bộ
Kế-hoạch, Đầu-tư Việt Nam và Chương-trình Phát-triển của Liên-hiệp-quốc
(UNDP) cũng cho biết là :
• 42% các doanh-nghiệp, và 50% tư-nhân được hỏi đều cho rằng sẽ chọn
ngân-hàng nước ngoài ở Việt Nam để vay tiền, khi những ngân-hàng này được
hoạt-động bình-đẳng với ngân-hàng Việt Nam.
• 50% doanh-nghiệp và 62% tư-nhân được hỏi cũng sẽ chọn ngân-hàng nước ngoài
để gửi tiền tiết-kiệm.
Những lý-do của sự chọn lựa ngân-hàng nước ngoài là vì họ có kinh-nghiệm
hoạt-động quốc-tế, có trình-độ công-nghiệp ngân-hàng cao, thủ-tục hành-chính
đơn giản, và chất-lượng phục-vụ tốt hơn ngân-hàng trong nước.
Như vậy các doanh-nghiệp Việt Nam và những cá-nhân chủ-yếu sử dụng các
dịch-vụ của ngân-hàng nuớc ngoài hơn là ngân-hàng Việt Nam (mặc dầu họ đã cố
gắng liên-kết bán cổ-phần cho ngân-hàng nước ngoài, để « cùng làm, vừa học
») thì sợ rằng ông Trần-Du-Lịch, giám-đốc Viện kinh-tế TP.HCM có lý khi ông
« bày tỏ (với AFP) mối quan-ngại đặc biệt về tương-lai của các khu vực như
dịch-vụ, thị-trường tài-chính, tín-dụng, ngân-hàng và nông-nghiệp Việt Nam
hiện đang tụt hậu rất xa so với tiêu-chuẩn quốc-tế »
Trong quá-trình « hiện-đại hóa » dịch-vụ ngân-hàng theo chỉ-thị số
49/2004/CT-TTg của thủ-tướng chính-phủ, thì « Cần đẩy mạnh hệ-thống
thanh-toán qua ngân-hàng để hạn chế việc sử dụng tiền mặt trong quan hệ
thương-mại ». Nhưng các ngân-hàng Việt Nam đã theo « phong-trào » phát hành
Thẻ (mà tiện-ích chủ yếu là dùng để thanh-toán hàng hóa, dịch vụ thay vì
dùng tiền mặt), nhưng thực-tế hơn 70% các giao dịch của khách hàng trên máy
ATM hiện nay chỉ là để rút tiền (cũng như chỉ biết dùng máy vi-tính để chơi
trò chơi điện-tử, hay để « chat »)! Thậm chí có người không dùng thẻ này để
trả hàng hóa tại quầy có đặt máy « quẹt thẻ »
( máy POS giá khoảng 800 đến 900 đô, so với 20.000 đến 30.000 đô cho 1 máy
ATM ), mà lại đi rút tiền mặt từ máy ATM đề trả! Thêm vào đó, các doanh-
nghiệp cũng có phong trào thông qua thẻ ngân-hàng để chi trả lương, tiển
thưởng, làm cho số lượng thẻ phát hành bởi các ngân-hàng đã nhanh chóng tăng
thêm lên, và một số « đại-gia » đến rút hàng chục triệu đồng ờ máy ATM, vì
cho rằng như vậy mới là « hiện-đại hóa » chăng? Đấy chỉ thêm một thí-dụ về
đầu-tư theo phong trào chỉ đưa đến lãng phí, mà chưa tránh được tụt hậu.
Vậy làm sao ngừng được tụt hậu trước ngưỡng cửa của Tổ-chức thương-mại
Thế-giới, và « đi tắt, đón đầu » ngay sau khi vào được trong tổ-chức này ?
Nhất là trong lĩnh-vực dịch-vụ ( =50,4% nền kinh tế của TP.HCM ) mà UBND
muốn đạt tăng-trưởng 12,5% mỗi năm cho giai đọan 2006-2010, thay vì 9,8%
trong giai-đọan 2000-2005.
Nhân dịp Hội-thảo Trí-thức vào tháng 8/2005 tại Hà Nội, ông Tạ-Nguyên-Ngọc,
Vụ-truởng Quan –hệ Kinh Tế, Khoa Học và Công Nghệ của UB về NVNONN đã
phát-biểu trong báo Tuổi trẻ là : « Có rất ít chuyên-gia Việt Kiều đầu đàn
về nước, và hầu như không có trường-hợp nào được công-nhận là đã thật sự làm
CHUYỂN BIẾN rõ rệt, hoặc để lại DẤU ẤN trong 1 NGÀNH, lãnh-vực, 1 cơ-sở
nghiên-cứu quan-trọng nào »
Muốn như vậy thì trước hết Việt Nam phải tự đánh giá lợi thế so sánh của
mình để xác định một vài ngành kinh-tế mũi nhọn trong kế-họach phát triển
định kỳ, như Thái-lan đang hướng tới công-nghiệp sản-xuất xe hơi, và
Singapore đã nhắm vào (ngay từ thời lập nước) kế-họach phát-triển các
trung-tâm ngân-hàng. Đây cũng là quan-điểm cho Việt-nam của ông Miura Yuji
của Viện Nghiên-cứu Tổng-hợp Nhật-bản.
Thật vậy, Singapore đã áp-dụng ngay từ đầu một hệ-thống thuế rất thấp trong
ngành ngân-hàng, cùng với chính sách tài-chính rất tự-do lưu-thông cho các
ngoại-tệ và đô-la Singapore (mà giá-trị hối-đoái chỉ theo cung/cầu của
thị-trường) theo đúng mô hình của Thụy-sĩ, nhằm mục-đích «quyến rũ» các
ngân-hàng nước ngoài, và nhiều công-ty tài-chính quốc-tế đến Singapore
hoạt-động, ngõ hầu cho người nước này được nhanh chóng đào-tạo «thực-tế» (mà
du-học sinh khó có đuợc, hay cần nhiều thời-gian hơn là «đi tắt,đón đầu »
kiểu này, mà ngay tại chỗ làm việc ở nước mình) để tận dụng công-nghệ, và
trình-độ quản-trị tiên tiến nhất thời-đại.
Kết-quả thấy rõ là từ một nước nhỏ ( diện-tích 660 cây số vuông ) như
Singapore, mà khi mới được tự trị năm 1960, thì chỉ như một «vũng nước ao tù
», và nghèo nàn, lạc-hậu như 1 đảo-quốc không tài-nguyên, còn phài nhập khẩu
cả nước ngọt, từ Malaysia, cho hơn 4 triệu dân (bằng dân số TP.HCM), đã vươn
lên từ nước kém phát-triển thành một trong những nước phát-triển « hàng đầu
trên Thế-giới » (sách « From the Third World to the First » của
Th-T.LýQuang-Diệu), chính là nhờ kế-họach phát-triển kinh-tế mũi nhọn
trong những
ngành dầu khí, máy cơ-khí, máy tính, sàn-phẩm cao-su (thủa mới lập quốc), và
gần đây trong lãnh-vực tài-chính, ngân-hàng, máy vi-tính, công-nghệ
thông-tin, và sinh-học.
Theo ông Lý-quang-Diệu thì « với sức mạnh sẵn có trong những lĩnh-vực
kinh-tế mũi nhọn này, Singapore sẽ trở thành một xã-hội phát-triển
hoàn-toàn, với sự hiện-hữu của những công-ty đa quốc-gia, và Singapore cũng
sẽ là một trung-tâm công-nghiệp đa dạng, nhờ các hoạt-động dựa vào trí-thức
». Cách đây gần 20 năm, ông Lý-quang-Diệu có thố-lộ cho tôi biết (vào dịp
găp ông tại Thụy-sĩ) rằng ông có tư-vấn cho nhà lãnh-đạo Việt Nam là Việt
Nam nên theo mô hình phát-triển kinh-tế của Malaysia (hơn là mô hình của
Singapore), vì nước này cũng giàu tài-nguyên, và có nhiều dân số cũng như
Việt Nam.
Thực vậy, năm 1997 Malaysia là nước duy nhất đã không cần tới trợ giúp cùa
Ngân-hàng Thế-giới (WB) và Quỹ tiền tệ Quốc-tế (IMF) để nhanh chóng thoát
khỏi cuộc khủng-hoảng kinh-tế và tài-chính cùa các nước Đông Nam Á, nhờ ở :
1) Chính-sách tài-chính và tiền tệ khôn ngoan của chính-phủ nước này do
Thủ-tướng Mahathir Mohamah chủ trì, thí-dụ như biện-pháp tạm thời bãi bỏ
tự-do hối đoái đồng tiền Ringhi, tái lập kiểm-soát hối-đoái với tất cả
ngoại-tệ của các nước khác.
2) Đặc-khu Ngân-hàng và Tài-chính tại tỉnh LUBUAN đã được thành-lập từ
1/10/1990 theo luật « Lubuan International Offshore Financial Centre Act »
Phạm-vi bài này không đủ chỗ để trình bày về sự hữu-hiệu để phát-triển lãnh
vực ngân-hàng và tài-chánh bằng những « Đặc-khu Quốc-Tế Offshores » của các
nước, thí-dụ như :
1) Anh-quốc có những « đặc-khu Quốc-Tế offshores» trên các đảo biển Manche
(ở giữa Pháp và Anh) của họ, như đảo Mans, Guersey, Jersey.
2) Nước Pháp có « đặc-khu Quốc-Tế » ở vương-quốc Monaco.
3) Thụy-sĩ có «đặc-khu Quốc-Tế » ở vương-quốc Liechtenstein.
4) Thời xưa Mỹ cũng có « đặc-khu Quốc-Tế » ở Panama.
5) Và dĩ-nhiên Singapore cũng có thể-chế giống như một đặc-khu, nên Lubuan
(ở gần, và cũng trên 1 bán đảo) muốn khác biệt là 1 « Đặc-khu offshore
Hồi-giáo về ngân-hàng và Tài-chính ».
Đặc-khu Ngân-hàng và Tài-chính của Việt Nam sẽ có nhiều lợi điểm so với
Singapore (vì vậy nước này muốn làm trung-tâm ngân-hàng và tài-chính cho cả
Việt Nam !) và Lubuan, vì Việt Nam ở trên thềm lục-địa Á-châu, và ở ngay
trung-tâm Đông Nam Á.
Thể-chế tổng-quát của«đặc-khu Quốc-Tế Offshores ngân-hàng và tài-chính» :
1) Ngân-khoản ( Deposit account) được mở tự-do bằng những loại tiền
quan-trọng nhất thế-giới, và tiền sở tại. Tiền lời của ngân-khoản KHÔNG bị
đánh thuế
2) Tín-dụng ( Credit Falilities) cũng được vay bằng đủ loại tiền của
thế-giới.
3) Tất cả các dịch-vu ngân-hàng và tài-chính tiên-tiến nhất thế-giới, với
phí-tổn thấp hơn là ở ngoài phạm-vi của đặc-khu
4) Hối-đoái hoàn-toàn tự-do cho tiền sở tại và tất cả các loại tiền
quan-trọng trên thế-giới.
Kết-quả là hiện nay Đặc-khu Ngân-hàng và tài-chánh Lubuan ( diện-tích 99 cây
số vuông ) của Malaysia có 54 ngân-hàng ( đa-số của nước ngoài ), 98 Công ty
Bảo-hiểm quốc-tế, 17 Quỹ đầu-tư quốc-tế, 22 Công ty « leasing » quốc-tế, và
3.085 công-ty quốc-tế đăng-ký tại đây.
1) Điều-kiện mở một «Đặc-khu Quốc-Tế Ngân-hàng và Tài-chánh» vùng Thành Phố
HCM
Điều-kiện đầu tiên là Đồng tiền lưu-thông trong 1 đặc-khu phải được
hoàn-toàn tự-do « hối-đoái », nghĩa là đựợc chuyển, đổi không bị giới hạn ra
tiền các nước khác. Đây CHƯA phài là trường-hợp của ĐỒNG tiền Việt-nam phải
giải-quyết ra sao vấn-đề quan-trọng này ?
Khi bàn về tương-lai một đồng tiền chung ( như Euro của Âu-châu ) cho các
nước thuộc khối ASEAN, thì thấy còn rất nhiều việc phải làm trước là phải
đạt được trình-độ phát-triển kinh-tế tương đối đồng đều, giải-quyết vấn-đề
thâm hụt cán cân thương-mại, và tình-trạng lạm-phát, cũng như các khúc-mắc
tài-chính khác.
Như vậy mô hình một đồng tiền chung cho Asean cũng còn lâu mới thực hiện
được.
Nhưng còn 1 mô hình khác là 2 hay nhiều nước Asean có thể ký kết dùng các
đồng tiền nội bộ cùa nhau như là đồng tiền CHUNG có giá trị tương-đương. Mô
hình này thiết thực hơn, mà có thể áp-dung ngay với một số nước Asean để
thuận-lợi trao đổi thương-mại, và tạo động-lực tăng trường xuất, nhập-khẩu
qua các nước thứ ba khác.
Hiện nay Brunei ( gần Lubuan ) và Singapore là 2 nước đầu tiên ( có đồng
tiền gần giá-trị tương-đương, và trình-độ phát-triển khá ngang bằng nhau )
đã áp-dụng khá hiệu-quả mô hình này trong việc thanh-toán giao dịch và trao
đổi hàng hóa xuất nhập khẩu.
Ngoài ra Việt-nam và Malaysia cũng đang bắt đầu đưa vào áp-dụng việc
thanh-toán bằng đồng nội tệ của nhau trong giao-dịch thương-mại. Mà đồng
tiền Ringhi của Malaysia được tự-do « hối đoái » không giới hạn .
Như vậy làm sao Việt Nam điều-đình với Malaysia để sử dụng được đồng tiền RM
tự-do « hối đoái » ở trong, và từ « đặc-khu NH và TC » của TP.HCM ra nước
ngoài khác ?
2) Địa-điểm mở «Đặc-khu Quốc-Tế Ngân-Hàng và Tài-chánh » ở Thành Phố HCM.
Như đã thấy là phần nhiều các nước trên thế-giới đều mở những đặc- khu trên
« địa đầu đất nước » ( như Lubuan, Monaco ), hay trên đảo ( lý tưởng là
Phú-quốc, Côn đảo, nhưng tiếc không phụ thuộc TP.HCM ) để áp-dụng thể-chế
đăc-biệt ( về thuế má thật thấp, hối-đoái tự-do, v.v...) Vậy trong vùng
Thành Phố HCM có « đảo »gì không ?
Hình như vùng Nam Thành Phố HCM có vùng Cần Giờ ( gồm 2 đảo ? ) mới được môt
đoàn kiểm-tra khen là « quản-lý đất đai tốt nhất nước » mà thời xưa cũng chỉ
là một « vũng nước ao tù» như Singapore, nhưng lớn hơn Lubuan ( diện-tích
chỉ có 99 cây số vuông ), mà lại ở vùng Nam Thành Phố HCM có khu đô-thị mới
gồm nhiều tổ-chức quốc-tế ( Bệnh Viện Pháp Việt, trường Quốc Tế,v.v...), và
nhiều dân-số Việt-kiều và các nước ngoài là những người biết sử dụng những
dịch-vụ ngân-hàng và tài-chánh tiên tiến nhất.
Việt-nam đã có nhiều khu « kinh-tế mở » như Chu Lai, Dung Quất, Văn Phong,
nhưng vẫn thiếu một « Đặc-khu ngân-hàng và tài-chánh », còn Trung-quốc có
hơn 1000 khu Kinh Tế mở, đặc khu chế-xuất ( giống như Tân-thuận ), khu
phát-triển Kinh Tế công-nghệ ( cũng như OVS Club có đề-án thành lập ở vùng
nam TP.HCM ), hay các khu mang tên khác nhau, nhưng có cùng bản chất.
Về lợi ích của một « Đặc-khu Quốc-tế ngân-hàng và tài-chính », thì chỉ cần
xem địa-vị hàng đầu của Singapore trên nền kinh-tế Thế-giới.
--
Tran Dinh Hoanh, LLB, JD
Attorney of Law
Washington DC
-------------- next part --------------
An HTML attachment was scrubbed...
URL: http://mail.saigon.com/pipermail/vnbiz/attachments/20060927/0a0525c9/attachment-0001.html
-------------- next part --------------
A non-text attachment was scrubbed...
Name: lienhe.gif
Type: image/gif
Size: 1097 bytes
Desc: not available
Url : http://mail.saigon.com/pipermail/vnbiz/attachments/20060927/0a0525c9/attachment-0004.gif
-------------- next part --------------
A non-text attachment was scrubbed...
Name: trangchu.gif
Type: image/gif
Size: 1211 bytes
Desc: not available
Url : http://mail.saigon.com/pipermail/vnbiz/attachments/20060927/0a0525c9/attachment-0005.gif
-------------- next part --------------
A non-text attachment was scrubbed...
Name: logo.jpg
Type: image/jpeg
Size: 94706 bytes
Desc: not available
Url : http://mail.saigon.com/pipermail/vnbiz/attachments/20060927/0a0525c9/attachment-0002.jpg
-------------- next part --------------
A non-text attachment was scrubbed...
Name: email3.gif
Type: image/gif
Size: 12009 bytes
Desc: not available
Url : http://mail.saigon.com/pipermail/vnbiz/attachments/20060927/0a0525c9/attachment-0006.gif
-------------- next part --------------
A non-text attachment was scrubbed...
Name: email2.gif
Type: image/gif
Size: 1934 bytes
Desc: not available
Url : http://mail.saigon.com/pipermail/vnbiz/attachments/20060927/0a0525c9/attachment-0007.gif
-------------- next part --------------
A non-text attachment was scrubbed...
Name: nganhang.jpg
Type: image/jpeg
Size: 24405 bytes
Desc: not available
Url : http://mail.saigon.com/pipermail/vnbiz/attachments/20060927/0a0525c9/attachment-0003.jpg
More information about the Vnbiz
mailing list