[Vnbiz] NGUON NANG LUONG DAU KHI VA SU PHAT TRIEN CUA VN

Tran Dinh Hoanh tdhoanh at gmail.com
Tue Oct 3 21:17:23 PDT 2006


Dear CACC,

FYI.

Hoanh

---------- Forwarded message ----------
From: jphan <jphan at club-internet.fr>
Date: Oct 3, 2006 5:50 AM
Subject: NGUON NANG LUONG DAU KHI VA SU PHAT TRIEN CUA VN

   *( Neu Ban khong xem duoc Tieng Viet ) :    View --> Encoding  --->
Unicode*
**
*Trang Web :     http://niemtin.homelinux.com*
**
           <http://niemtin.homelinux.com/index.shtml>
<http://niemtin.homelinux.com/lienhe.htm>

NIỀM TIN VÀO TƯƠNG LAI



Nguồn Năng lượng Dầu Khí và sự phát triển của Việt Nam - Bùi Văn Đạo , Việt
Kiều Mỹ



Trong hơn bốn năm, từ 2002 cho đến 2006, giá dầu đã tăng từ 20 cho đến gần
80 USD một thùng. Việc gia tăng vượt mức này sẽ gây nhiều ảnh hưởng đến sự
phát triển đặc biệt là cho các nước đang phát triển như Việt Nam. Năng lượng
là một vấn đề lớn. Trong bài này tác giả xin phác họa qua một số những vấn
đề sau :

· Thực trạng giá dầu thô tăng trong những năm vừa qua

· Khả năng sản xuất của thế giới, và của Hiệp Hội Những Nước Xuất Cảng Dầu
(OPEC)

· Trữ lượng dầu thế giới

· Tương lai giá dầu sẽ đi về đâu

· Dầu khí ở Việt Nam

Tất cả các tư liệu dùng trong bài viết này đều lấy từ các nguồn công cộng,
có sẵn qua mạng internet hay các tạp chí chuyên ngành.

1. Thực trạng giá dầu trong những năm vừa qua

Năm 1999, giá dầu thô trung bình $10/thùng. Qua đến năm 2006, giá dầu lên
đến quá $75/thùng. Tương tự, giá khí đốt tăng từ $1 lên quá $15 . Nếu kể lạm
phát thì giá dầu trong thập niên 80 còn cao hơn hiện nay. Tính theo đồng USD
năm 2003 thì giá dầu năm 1980 có lúc lên quá $100/thùng. Tuy nhiên nếu so
sánh với giá bình quân năm hai năm cao điểm 1980-1981 ($65 tính theo giá năm
2004) thì giá dầu hiện nay là khá cao. Theo đà này khả năng $100/thùng dầu
sẽ không xa và nó sẽ gây nhiều ảnh hưởng quan trọng trong kinh tế thế giới.
Năng lượng hay nói cho đúng hơn là thiếu năng lượng sẽ là một trong những
quan tâm hàng đầu cho các lãnh đạo các quốc gia và các chuyên gia kinh tế
trong thời gian tới.

Mặc dù giá cao sẽ làm giảm tiêu dùng, điều này đã thể hiện rõ ở Mỹ. Nếu tính
dựa theo việc tiêu dùng dầu để tạo ra một đồng đô la cố định, thì việc dùng
ở Mỹ đã giảm xuống một nửa tính từ năm 1960 đến nay và giảm mạnh nhất từ năm
1980 khi giá dầu tăng. Tuy nhiên do phát triển kinh tế, tổng lượng dầu cần
cho nhu cầu vẫn tăng. So với năm 1980, hiện nay tổng lượng dầu dùng ở Mỹ
tăng 17%, không đáng kể so với GDP tăng gấp đôi. Các nước khác đặc biệt là
các nước là Ấn Độ và Trung Quốc, do chính sách bù lỗ trực tiếp vào tiêu dùng
dầu hoặc gián tiếp qua giá điện, hoặc do tốc độ phát triển kinh tế cao, nhu
cầu dầu tăng lên nhanh chóng. Trung quốc tăng lượng dùng dầu từ 6% tổng sử
dụng dầu của thế giới lên 8% trong 3 năm từ năm 2001 đến 2004. Mỹ hiện nay
dùng khoảng 25% tổng nhu cầu của thế giới.

Đối với tình hình thế giới, từ năm 1999 cho đến 2005 số lượng tiêu thụ tăng
từ 67 cho đến 84 triệu thùng mỗi ngày. Lượng tiêu dùng khí đốt cũng tăng
theo tình trạng tương tự. Thế giới đang trong cơn say năng lượng. Thật ra
chẳng phải chỉ dầu thô, tổng số năng lượng dùng kể cả than đá tăng trong
thời gian qua. Gần 50% số lượng dầu thô là dùng vào việc chuyên chở như xe,
máy bay …. 50% là dùng trong công nghiệp hóa học. Cho đến nay, cơn sốt dầu
vẫn không có lối thoát. Nước Mỹ, với tổng số dân chưa quá 5% tổng số của thế
giới đang dùng 25% số lượng dầu thô sản xuất. Hiện tại lượng dầu nước Mỹ sản
xuất chỉ đáp ứng được 50% nhu cầu nội địa.

Thật ra giá dầu tăng theo cái gọi là "khoảng cách thặng dư khả năng sản xuất
" (excess production capacity). Đây là sự sai biệt giữa khả năng sản xuất và
số lượng tiêu thụ. Giữa thập niên 80 thì khoảng cách này khoảng 10 triệu
thùng mỗi ngày. Đến cuối thập niên 90 thì còn khoảng 2 triệu thùng. Khoảng
cách này đến nay thì hầu như không còn nữa. Với tính cách hàng hóa của nó,
giá dầu khí sẽ theo thị trường mà lên xuống.

2. Khả năng sản xuất của thế giới, của Hiệp Hội Những Nước Xuất Cảng Dầu Thô
(OPEC)

Năm 2005, khoảng cách thặng dư khả năng sản xuất còn dưới 2%. Thế giới hiện
nay sản xuất khoảng 84 triệu thùng mỗi ngày. Thường, các chuyên gia chia lực
lượng sản xuất dầu làm hai khối: các nước OPEC, các nước không OPEC. Trong
các nước không thuộc OPEC lại còn có thể chia làm hai: Các nước thuộc Liên
Xô Cũ (FSU – Former Soviet Union) và các nước còn lại.

Đặc điểm của sự sản xuất của các nước không thuộc OPEC là không có khả năng
tăng sản xuất dầu nhiều. Hiện nay sản lượng của các nước này khoảng 46 triệu
thùng mỗi ngày. Đến năm 2010, mức này sẽ tăng lên 52 triệu thùng. Mức tăng
trưởng dưới 1% mỗi năm. Trong thời gian tới, các nước OPEC sẽ phải tăng sản
xuất chừng 2.7% mỗi năm để đáp ứng nhu cầu cho toàn thế giới. Sự tăng sản
xuất này là một thử thách lớn cho các nước OPEC cũng như sức mạnh của các
nước này đối với thị trường dầu hỏa nói chung.

Sản xuất của OPEC nói riêng chủ yếu thuộc về năm quốc gia: Saudi Arbia,
Iran, Kuwait, Iraq và United Arab Emirates. Năm nước này sản xuất 2/3 sản
lượng của OPEC. Để đáp ứng với 2.5% tăng trưởng tiêu dùng của thế giới,
không ai nghĩ các nước này có thể đáp ứng được với thử thách này.Trong 5 năm
qua, sản lượng của các nước này nằm yên ở mức 28-30 triệu thùng mỗi ngày.
Ngay sức sản xuất của Saudi Arabia cũng là một vấn đề cần được xem xét kỹ.
Nước này hiện đang sản xuất độ 10.5 triệu thùng mỗi ngày trong đó có đến 90%
tập trung quanh 4-5 mỏ. 80% là quanh mỏ Ghawar. Mỏ này rất trù phú, song đã
khai thác hơn 50 năm nay. Đây không phải là tình trạng của riêng ở Saudi mà
cũng là tình trạng chung trên thế giới. Tình hình là như sau: 20% sản luợng
của thế giới tập trung ở 14 mỏ. Rộng hơn, sản lượng của 114 mỏ, tuy chỉ là
3% trong số các mỏ lớn nhưng cung cấp gần 50% tổng số.

Với sức sản xuất như vậy, thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng dầu hỏa sẽ là một vấn
đề nan giải cho lãnh đạo của các quốc gia. Với cung không đáp ứng đươc cầu,
giá dầu sẽ còn lên cao hơn nữa. Cũng vì thế, giải quyết vấn đề năng lượng
hay đúng hơn bảo đảm cho quốc gia mình có đủ năng lượng để phát triển sẽ là
một mục tiêu quan trọng trong chính sách đối ngoại của các nước lớn đang
phải nhập khẩu dầu; cụ thể là Mỹ, Trung Quốc, Nhật …Dù có công bố hay không,
chiến tranh tại Iraq cũng như chính sách của Mỹ ở Trung Đông, chính sách của
Trung Quốc tại Sudan, Uzbekistan … cũng không qua khỏi mục tiêu này.

Trữ lượng dầu của thế giới

Trên toàn thế giới, trữ lượng dầu có thể khai thác (recoverable reserve) là
độ 1200 tỷ thùng. Với mức tiêu dùng như hiện nay, trữ lượng này dùng được
khoảng 40 năm. Trong thập niên 1950's, nhà địa chất học Mỹ M. King Hubbert
đưa ra quan điểm "Đỉnh Sản Xuất" (Peak Oil) của dầu. Sau khi đạt tới đỉnh
sản xuất, mức sản xuất sẽ giảm dần và sẽ ngưng trong vòng 20-30 năm sau.

Đỉnh Sản Xuất của Mỹ là thập niên 1970, của các nước không thuộc OPEC là
2010 và của OPEC là thập niên 2020. Đỉnh Sản Xuất là một quan điểm đang được
bàn cãi rất sâu rộng. Đương nhiên lúc làm tính về nước Mỹ, Hubbert không
biết gì về những mỏ dầu sẽ được khám phá ở Vùng Vịnh Mexico (Gulf of Mexico)
hay North Slope ở Alaska. Tuy vậy, việc khám phá những mỏ mới này cũng chỉ
cho phép kéo dài hơn mức sản xuất đang đi xuống (declining trend) của nước
Mỹ. Từ thập niên 70 cho đến nay, kể tất cả các mỏ mới được khai phá, sản
lượng dầu của nước Mỹ vẫn dậm chân tại mức 10 triệu thùng mỗi ngày. Nếu tính
cả vùng bảo tồn sinh thái ở Bắc Cực, ANWR (Artic Natural Wildlife Reserve),
mức sản xuất cũng sẽ không xê dịch bao nhiêu. Từ hơn 15 năm nay, trữ lượng
của các nước OPEC vẫn chiếm khoảng 80% tổng số của thế giới. Dự đoán là
trong vòng 10 năm tới, các vùng sản xuất như Nga, Mỹ, Trung Quốc, Mexico,
Norway, Brazil, Angola, Kazakhstan, Canada … sẽ tụt hạng thành hàng các nước
sản xuất dầu thứ yếu. Chỉ còn lại các nước trong OPEC, chủ yếu là quanh vùng
vịnh Ba Tư như Saudi, Iran, Iraq, UAE, Kuwait …

Điều làm cho bài tính trữ lượng thêm khó khăn là dù muốn hay không, trữ
lượng, tuy dựa trên nhiều dữ liệu khoa học nhưng vẫn có nhiều tính chất đoán
mò. Gần đây, một xi-căng-đan lớn nổ tung trong làng dầu khí. Trữ lượng thật
sự của công ty Shell bị đánh giá thấp hơn giá trị trong sổ sách. Điều này
khiến cổ phần của công ty bị giảm 15% trong một ngày. Tổng Giám Đốc Điều
Hành của Shell phải từ chức. Trữ lượng dầu của Saudi là 250 tỷ thùng. Các dữ
kiện để đi đến kết quả trên đều nằm trong tay Saudi. Không ai biết thực hư
ra sao. Liệu bao nhiêu phần của trữ lượng này chỉ có giá trị trên giấy tờ mà
thôi.

Trong khi đó, tuy các công ty dầu đầu tư cho công tác tìm kiếm có tăng nhưng
trong 3 năm gần đây, cũng không tìm được vỉa dầu nào thật lớn. Những vỉa lớn
tìm được ở Angola, Nigeria, Brazil ... trữ lượng đều dưới 1 tỷ thùng. Ngay
cả vùng bảo tồn sinh thái ở Bắc Cực ANWR trên Alaska, trữ lượng tiên đoán
cũng chỉ từ 6-11 tỷ thùng, nghĩa là cũng chỉ đủ cho mình nước Mỹ dùng trong
vòng một hai năm tính theo độ tiêu dùng hiện thời. Mỗi năm, nhu cầu tiêu
dùng dầu tăng độ 2%, cộng với số lượng tiêu dùng cũng quãng 2% của tổng số
dự trữ. Để tiến đến tình trạng quân bằng cho cung và cầu, mỗi năm ngành dầu
khí của thế giới phải khám phá cho ra 48 tỷ thùng dầu mới, tức là 4-8 lần số
dầu tại ANWR. Đây có thể là một chuyện không tưởng.

3. Tương lai giá dầu sẽ đi về đâu

Đến năm 2025, các chuyên gia tính rằng sức tiêu dung của thế giới sẽ lên đến
118 triệu thùng mỗi ngày. Đây thật sự sẽ là một cơn sóng thần (tsunami) cho
cả nhân loại. Cơn sóng thần này sẽ đến làm 3 đợt. Chúng ta đang ở trên đỉnh
của đợt đầu. Đây là đợt nhỏ nhất, làn sóng báo nguy. Đợt hai sẽ mạnh hơn,
đến quãng năm 2009-2010. Đây là lúc các nước không thuộc OPEC đạt đến đỉnh
sản xuất dầu. Sau thời điểm này, sức sản xuất của họ sẽ giảm dần. Tuy nhiên
các nước này sẽ tiếp tục sản xuất trong một thời gian nữa. Sau đó nữa là đợt
cuối cùng. Đây cũng là đợt mãnh liệt nhất. Lúc đó các nước OPEC sẽ đạt đến
đỉnh sản xuất của chính họ. Sau năm 2020, sản lượng dầu sẽ giảm dần. Dĩ
nhiên viễn cảnh thiếu dầu sẽ là một nỗi kinh hoàng đối với nhân loại. Chiến
tranh, nạn đói, bệnh hoạn … sẽ lan tràn. Nhưng có lẽ đây là điều mà nhân
loại khó tránh khỏi.

Đứng trên bình diện vĩ mô mà nói, sức tiêu thụ dầu tương đương với sự tăng
trưởng của dân số thế giới. Năm 1970, tổng dân số thế giới độ 4 tỷ người.
Hiện nay độ 6 tỷ người. Trong 30 năm qua, số lượng dầu cũng tăng 50%. Chúng
ta đang sống trong tuy một mà là hai thế giới. Đúng như truyện Tale of Two
Cities của Charles Dickens. Một thế giới của sự giầu sang trong đó một tỷ
người (17% tổng số) sử dụng 85% tổng số năng lượng sản xuất. Ba tỷ người
(50%) sử dụng số 15% còn lại. Hai tỷ người vẫn còn sống như thời cổ đại.
Nhưng chỉ khác là với tiến bộ của khoa học, tin học, internet, quả đất thay
vì tròn quả cầu đã trở thành phẳng (flat earth). Trên sáu tỷ người, ai cũng
muốn cuộc sống văn minh với đủ những tiện nghi hiện dại. Hiện nay mỗi năm
bình quân, một người Mỹ dùng 30 thùng dầu. Mỗi người Trung Quốc dùng
1.7thùng. Mỗi người Ấn Độ dùng
0.7 thùng. Cứ nhìn vào con số xe hơi mà dân Trung Quốc mua, cứ nhìn vào hội
của những người lái xe Harley Davidson ở Hà Nội thì hiểu ngay. Ai cũng muốn
có, chơi, giải trí những điều mà dân các nước phát triển có. Liệu chúng ta
có thể sản xuất năng lượng đủ cho hơn sáu tỷ người muốn dùng 100 triệu TV,
600 triệu xe hơi, 480 triệu điện thoại di động, 350 triệu máy vi tính không.
Số lượng tiêu dùng ở các nước đang phát triển tăng rất nhanh. Trong 10 năm
qua, trong khi sự tiêu dùng của các nước Âu châu chỉ tăng 18%, các nước đang
phát triển tăng gấp đôi. Lấy trường hợp cụ thể của Trung Quốc; trước khi
hiện đại hóa, năm 1965, mỗi ngày Trung Quốc dùng 200,000 thùng dầu. Đến thập
niên 80, mức tiêu dùng lên đến 10 lần hơn, 2 triệu thùng. Đến năm 2000, mức
này lại tăng đến 6 triệu thùng. Năm 2025, dự tính mức này sẽ lên đến 20
triệu thùng mỗi ngày. Tình trạng tiêu thụ của các nước đang phát triển khác
như Ấn Độ cũng tương tự.

Ngoài cái tương phản giữa giầu và nghèo, dầu khí còn mang sự tương phản giữa
mới và cũ. Nhu cầu thì mới quá, chập chững như em bé biết bò. Mỗi năm có bao
nhiêu triệu người mới mua xe hơi lần đầu, mới gia nhập đẳng cấp những dân sử
dụng năng lượng nhiều. Trong khi đó, những mỏ dầu thật xưa, như mỏ Ghawar ở
Saudi, như chiếc xe bò già, tuy đã hơn 50 tuổi, nhưng vẫn cọc cạch sản xuất
gần 20% dầu cho toàn thế giới. 95% tổng sản lượng đến từ những mỏ 25 tuổi
hay già hơn.

Năm 2005, trong cơn sốt dầu khí, khi giá dầu lên quá $58 một thùng, một nhà
phân tích làm việc ở công ty Goldman Sachs tuyên bố là giá này sẽ lên quá
$105 một thùng. Đến năm 2006, chuyện này sắp trở thành hiện thực. Nhiều nhà
nghiên cứu dự đoán đến năm 2015, giá dầu sẽ lên đến $380 một thùng. Đến năm
2020, 2025 giá sẽ lên đến đâu, các bạn có thể tính hay đi xem bói. Không
biết đến lúc đó còn tiền mua xăng lái xe?

3. Dầu khí ở Việt Nam

Việt Nam bắt đầu sản xuất dầu từ thập niên 80. Phần lớn là khai thác ngoài
khơi. Các vựa dầu chính là Sông Hồng ở miền vịnh Bắc Bộ, Phú Khánh ở vùng
duyên hải miền Trung và Nam Côn Sơn, Cửu Long và Malay-Thổ Chu ở miền Nam.
Mỗi ngày Việt Nam sản xuất độ 350,000 đến 400,000 thùng. Ở Đông Nam Á, Việt
Nam đứng hàng thứ ba sau Indonesia and Malaysia . Năm 2004, Việt Nam sản
xuất 130 triệu thùng dầu trong đó 80% là sản xuất ở mỏ Bạch Hổ thuộc
Vietxopetro. Đây là một liên doanh giữa PetroVietnam và Zarubezhneft của
Nga. Cũng năm 2004, số lượng khí đốt sản xuất là 5.6 tỷ m3. Theo PetroViet
Nam, trữ lượng dầu ở Việt Nam là 6.5-8.5 tỷ thùng và khí đốt là 2.1 –
2.86ngàn tỷ m3. Theo số liệu của Mỹ thì con số này thấp hơn, chỉ
khoảng từ 600
triệu đến 1.4 tỷ thùng. Sự đánh giá trữ lượng giữa hai con số cách nhau gần
8 lần. Nếu con số của Mỹ mà đúng thì với sản xuất hiện thời, Việt Nam sẽ hết
dầu trong vòng 8 năm. Dĩ nhiên đây là chưa kể những vựa dầu chưa được khám
phá. Nhưng mặt khác, con số này làm bài toán quyết định những đầu tư lớn và
lâu dài như dự án Dung Quất thêm phức tạp. Mỗi ngày số dầu sử dụng là 185
ngàn thùng. Như vậy, lượng bình quân mỗi năm mỗi người Việt Nam dùng
hơn 0.8thùng. Con số này khá thấp, chỉ ngang với Ân Độ và bằng một nửa
Trung Quốc.

Bốn tháng đầu năm 2005, xuất cảng dầu khí mang lại 1.7 tỷ USD. Như vậy. mỗi
năm ngành dầu khí đóng góp hơn 6 tỷ cho quốc gia. Năm 2005, sản lượng dầu
giảm 10%, phần lớn là vì mỏ Bạch Hổ. Phần lớn các mỏ dầu Việt Nam ở ngoài
khơi, nhưng bề sâu tương đối cạn. Năm 2005, Việt Nam cho đấu thầu một số lô
ngoài khơi Phú Khánh ở biển sâu tới 2,500 mét. Tin giờ chót cho biết, cuộc
đấu thầu sẽ bị hoãn lại. Tuy không cho biết lý do nhưng theo các nguồn tin
hành lang thì đây là dấu hiệu chứng tỏ thiếu các hãng tham dự đấu thầu.

Cho đến nay, Việt Nam không có một cơ sở hóa dầu đáng kể. Năm 1997, Quốc Hội
Việt Nam chấp thuận cho xây dựng khu công nghiệp Dung Quất. Đây là một đề
tài đang được Quốc Hội Việt Nam bàn cãi sôi nổi. Dự án này bắt đầu năm 1995,
khi chính phủ quyết định cần xây dựng cơ sở lọc dầu trong nước. Chi phí ban
đầu dự tính là 1.3 tỷ USD. Và địa điểm chọn cho công trình này là vùng Dung
Quất, một vùng nằm giữa hai tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi. Một khu công
nghiệp với những cơ sở kỹ nghệ liên đới sẽ dược xây dựng để phục vụ Dung
Quất. Cũng vào thời điểm này, các tỉnh ở hai miền Nam Bắc đang mở nhiều khu
công nghiệp với vốn ngoại quốc trong khi miền Trung hầu như không có gì.
Quyết định Dung Quất là muốn dùng khu công nghiệp như một cú hích, tạo động
lực cho việc phát triển kinh tế miền Trung, tạo sức hấp dẫn trong thu hút
đầu tư trong điều kiện đã có một số cơ sở hạ tầng cần thiết cho nhà máy lọc
dầu như đường giao thông, điện nước, cảng phục vụ thi công …Nhà máy lọc dầu
khi đi vào vận hành sẽ góp phần giảm thiểu các tác động tiêu cực do biến
động về nguồn cung cấp và giá cả xăng dầu từ thị trường thế giới và khu vực,
tạo tiền đề cho việc phát triển ngành công nghiệp hóa dầu còn mới mẻ ở Việt
Nam như sản xuất chất dẻo, sản xuất vật liệu composite, vật liệu hóa chất.

Nhưng ba lần nỗ lực hợp tác với nước ngoài đều không thành làm cho dự án bị
đình trệ và ngân sách tăng phi mã. Nỗ lực liên doanh với các nước ngoài
không thành cũng là vì lý do địa lý. Các công ty nước ngoài đều kết luận
rằng địa điểm Dung Quất không kinh tế. Dầu thô phải chuyên chở gần 1000 km,
từ miền Nam để lọc ở Dung Quất. Sau đó phải chuyên chở 1000 km trở lại miền
Nam hay miền Bắc vì đấy là nơi khách hàng tiêu thụ. Sự vận chuyển này sẽ
tăng giá thành cho sản phẩm, làm giảm hiệu năng kinh tế. Hãng Pháp Total
muốn xây ở Bà Rịa mà không được nên xin rút lui. Họ viện rằng lý do địa lý
sẽ làm tăng giá thành của nhà máy hơn 500 triệu USD. Sau đó một tập đoàn
ngoại quốc khác gồm Mã Lai, Mỹ và Trung Quốc cũng nhảy vào. Không bao lâu họ
cũng xin kiếu. Năm 1999, Việt Nam quyết định hợp tác với Zaruberznheft (công
ty liên doanh trong Vietxo Petro). Đến năm 2002 thì liên doanh này cũng
không thành. Nhì nhằng mãi, đến tháng năm 2005 thì Việt Nam mới quyết định
làm một mình và ký giao kèo 1.56 tỷ USD với hãng Pháp Technips. Dự tính thời
gian xây cất sẽ là 44 tháng. Như vậy là đến năm 2009 nhà máy sẽ đi vào sản
xuất. Công suất của nhà máy sẽ là 145,000 thùng mỗi ngày. Tổng công kinh phí
của dự án sẽ lên đến 2.5 tỷ USD. Đến nay 250 triệu USD đã được dùng trong
các công trình cơ bản phục vụ khu công nghiêp. Vì vốn gốc (capital
expenditure) cao hơn dự tính nên tỷ lệ thu hồi vốn nội tại (IRR – Internal
Rate of Return – một chỉ số thường được các công ty Mỹ dùng để đo hiệu quả
kinh tế của dự án trước khi quyết định thi hành) của dự án Dung Quất chỉ còn
6%. Thông thường ở Mỹ, một dự án sẽ khó được hội đồng quản trị chấp thuận
nếu IRR dưới 15%. Trong nhiều lĩnh vực kỹ nghệ, con số đòi hỏi có khi lên
tới 20-25%. Ở mức 6%, vốn gốc sẽ không bao giờ được trang trải. Như thế,
càng làm thì càng nợ. Chỉ số IRR luôn được so sánh với chỉ số S&P và luôn
luôn phải cao hơn S&P gấp bội. Một vấn đề nữa là sau khi Dung Quất bắt đầu
vào hoạt động, sản lượng dầu của Việt Nam sẽ là bao nhiêu và sẽ tiếp tục
cung cấp dầu thô trong bao nhiêu năm nữa. Một dự án chi tiêu lớn như Dung
Quất phải dựa trên một tuổi thọ hoạt động (operating life) ít nhất là 20
năm. Nếu phải nhập dầu thô từ Indonesia hay Middle East thì hiệu năng kinh
tế sẽ là ra sao?

So với các nước sản xuất dầu khí trên thế giới, Việt Nam vẫn còn non trẻ.
Trong năm qua, ngành dầu khí Việt Nam có một số quan chức cao cấp bị truy tố
vì tham nhũng, hối lộ … Hiện tượng này cũng rất phổ biến trong các nước sản
xuất dầu khí. Phần đông là những nước đang phát triển. Tham nhũng đã trở
thành quốc nạn cho các nước này. Có dầu tưởng là may mắn nhưng đã trở thành
lời nguyền rủa cho các quốc gia này. Tuyệt đại đa số lợi tức từ dầu đều vào
túi những kẻ nắm quyền. Dân trơ thì vẫn là dân trọi. Hy vọng dầu khí sẽ
không là lời nguyền cho Việt Nam.



-- 
Tran Dinh Hoanh, LLB, JD
Attorney of Law
Washington DC
-------------- next part --------------
An HTML attachment was scrubbed...
URL: http://mail.saigon.com/pipermail/vnbiz/attachments/20061004/c60a87ff/attachment-0001.html 
-------------- next part --------------
A non-text attachment was scrubbed...
Name: logo.jpg
Type: image/jpeg
Size: 94706 bytes
Desc: not available
Url : http://mail.saigon.com/pipermail/vnbiz/attachments/20061004/c60a87ff/attachment-0002.jpg 
-------------- next part --------------
A non-text attachment was scrubbed...
Name: trangchu.gif
Type: image/gif
Size: 1211 bytes
Desc: not available
Url : http://mail.saigon.com/pipermail/vnbiz/attachments/20061004/c60a87ff/attachment-0004.gif 
-------------- next part --------------
A non-text attachment was scrubbed...
Name: email2.gif
Type: image/gif
Size: 1934 bytes
Desc: not available
Url : http://mail.saigon.com/pipermail/vnbiz/attachments/20061004/c60a87ff/attachment-0005.gif 
-------------- next part --------------
A non-text attachment was scrubbed...
Name: petrovn.jpg
Type: image/jpeg
Size: 129107 bytes
Desc: not available
Url : http://mail.saigon.com/pipermail/vnbiz/attachments/20061004/c60a87ff/attachment-0003.jpg 
-------------- next part --------------
A non-text attachment was scrubbed...
Name: email3.gif
Type: image/gif
Size: 12009 bytes
Desc: not available
Url : http://mail.saigon.com/pipermail/vnbiz/attachments/20061004/c60a87ff/attachment-0006.gif 
-------------- next part --------------
A non-text attachment was scrubbed...
Name: lienhe.gif
Type: image/gif
Size: 1097 bytes
Desc: not available
Url : http://mail.saigon.com/pipermail/vnbiz/attachments/20061004/c60a87ff/attachment-0007.gif 


More information about the Vnbiz mailing list