[Vacets-local-dc] [Nuoc mat tri. Tri mat gi?]
Hai Tran
hai_v_tran at yahoo.com
Mon Jun 27 12:08:29 PDT 2005
27.6.2005
La Thành
Nước mất trí. Trí mất gì?
Nước mất trí
Thể chế chính trị đương thời ở Việt Nam đang ở trong một thời điểm đặc biệt: thiếu vắng một lãnh tụ chính trị của đảng toàn trị. Từ sau khi Lê Duẩn và Trường Chinh qua đời, các đời tổng bí thư kế nhiệm của đảng Cộng sản đều tỏ ra không đủ uy, không có những phẩm hạnh để trở thành một đầu lĩnh toàn trị có quyền uy tuyệt đối, theo kiểu Stalin, Mao Trạch Đông hay Hồ Chí Minh, khả dĩ làm trụ cột cho toàn bộ hệ thống đương quyền. Thử chấm điểm tư cách các tổng bí thư từ sau Trường Chinh, ta
thấy tất thảy họ đều mất điểm ở cùng một nhóm điểm: cá tính chính trị, bản lĩnh lãnh đạo, và văn hóa thời cuộc. Đảng Cộng sản Việt Nam có cả một Ban tổ chức trung ương thường xuyên do một ủy viên Bộ chính trị đứng đầu chuyên trách công tác sắp xếp nhân sự cho các vị trí lãnh đạo từ cấp vụ (bộ phận trực thuộc một bộ ngành trong chính phủ hoặc trực thuộc một ban ngành trong ban chấp hành trung ương của đảng) trở lên, song bộ máy này lâu nay có xu hướng không đưa những cá nhân sắc sảo lên vị trí cao nhất của tòa tháp quyền
lực. Từ cuối thời Hồ Chí Minh và trong suốt thời Lê Duẩn, bộ máy tổ chức cán bộ tối cao này do Lê Đức Thọ chỉ đạo. Tình trạng tranh giành quyền lực, chủ nghĩa địa phương, chủ nghĩa bè phái, cộng với nhu cầu an ninh hệ thống, đã khiến cho các nhà tổ chức toàn trị khi lựa chọn hoàng thái tử thường nhắm tới giải pháp trung dung: nhân vật được lựa chọn phải ít có cá tính, có khoảng cách đối với các phe phái, và không có tham vọng lục lọi tủ hồ sơ. Giải pháp này làm thỏa mãn mọi phe phái nhưng bộc lộ ngay một nhược điểm: nhà lãnh đạo không
có những phẩm chất cá nhân và tiểu sử chính trị cần thiết để được xây dựng thành một siêu nhân, được thần thánh hóa nhằm tiếp tục mê hoặc, lôi kéo quần chúng đi theo đảng. Thiếu cá tính chính trị, họ không có học thuyết riêng khi được trao cho quyền lực. Thiếu bản lĩnh, họ dễ bề bị các thái thượng hoàng gian hùng như Lê Đức Thọ, Lê Đức Anh giật dây sai khiến, chèn ép. Thiếu văn hoá thời cuộc, họ không giũ bỏ nổi thứ văn hóa chính trị lầm lạc lỗi thời mà họ được trau dồi, cho dù bị hối thúc bởi các nhu cầu phải thay đổi
Vô
số những giai thoại, những mẩu tiếu lâm hiện đại về tài năng và đức độ của các nhà lãnh đạo đang được lưu truyền rộng rãi trong cán bộ đảng viên và quần chúng đã nói lên một điều: đảng vốn được biểu tượng hóa bởi các nhà lãnh đạo đảng từ lâu đã không còn uy nghi hoành tráng trong tiềm thức của nhân dân như xưa kia.
Sự khủng hoảng thiếu lãnh tụ lâu nay còn dẫn đến một khó khăn khác: không thể hợp thức hóa vai trò của tổng bí thư đảng trong các hoạt động đối ngoại. Từ trước đại hội lần thứ VII của đảng (năm 1991) đã từng có đồ án (trình bày trong bản dự thảo điều lệ đảng trước đại hội) gắn chức vụ tổng bí thư với chức vụ chủ tịch nước nguyên thủ quốc gia theo hiến pháp , bắt chước quy hoạch thể chế hóa nhà nước toàn trị của Liên Xô và Đông Âu xã hội chủ nghĩa trước đây. Nhưng đồ án này đã không
thể thực hiện được qua suốt ba lần đại hội toàn quốc sau đó của đảng. Kết quả là từ đầu thập kỷ 90, trong ban lãnh đạo cộng sản Việt Nam đã hình thành một cơ cấu tam tài theo quy tắc: tổng bí thư đảng là người Bắc bộ (Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh), chủ tịch nhà nước là người Trung bộ (Võ Chí Công, Lê Đức Anh, Trần Đức Lương), thủ tướng chính phủ là người Nam bộ (Phạm Hùng, Võ Văn Kiệt, Phan Văn Khải). Sự bất hợp thức về địa vị pháp lý của tổng bí thư đảng
Cộng sản Việt Nam gần đây đã gây nên những tình huống không được mong đợi trong những chuyến công du ngoại giao của nhân vật này. Hồi đầu mùa hè năm 2002, tổng bí thư Nông Đức Mạnh đến thăm chính thức Liên bang Nga theo lời mời của tổng thống Nga Putin. Mặc dù về lý thuyết, ở Việt Nam, họ Nông đang là nhà lãnh đạo tối cao, song ông đã chỉ được tổng thống Putin đón tiếp như người đứng đầu một chính đảng, thậm chí có khía cạnh còn tồi hơn: Web site của phủ tổng thống Nga www.president.kremlin.ru tuyệt nhiên không có một dòng nào đề cập
đến sự xuất hiện của ông ở Moscow, trong khi nó vẫn ghi chép rất đầy đủ mọi cuộc tiếp tân khác của tổng thống, cho dù khách chỉ là một công dân bình thường. Giới truyền thông Moscow hầu như hoàn toàn lãnh đạm với đoàn đại biểu do tổng bí thư Việt Nam dẫn đầu, ngoại trừ một giai thoại về phái đoàn được đăng trên nhật báo Izvestiya, một trong những tờ báo lớn nhất nước Nga, trước đây từng là cơ quan ngôn luận của Xô-viết Tối cao (Quốc hội) Liên Xô. Một điều chưa từng xảy ra trong lịch sử bang giao ViệtXô trước đây là trong
chuyến thăm Nga lần đó, tổng bí thư họ Nông và tùy tùng đã phải đích thân đến tòa thị chính Moscow để yết kiến thị trưởng Moscow Luzhkov, người chỉ đứng đầu một đơn vị hành chính của nước Nga. Thất thố ngoại giao này đã giáng một đòn nặng vào ảo tưởng về một Liên Xô mới dưới chế độ Putin, từng được ngầm tuyên truyền sau chuyến thăm Việt Nam của tổng thống Nga hồi cuối năm 2000. Còn nhớ, trong một phát biểu trước báo giới sau khi đắc cử tổng thống Liên bang Nga, Putin đã nói: Ai không nhớ tiếc Liên Xô, người đó
không có trái tim; nhưng ai muốn khôi phục Liên Xô, người đó không có lý trí. Có thể hiểu và thông cảm với giới lãnh đạo cộng sản Việt Nam về tình cảm của họ đối với nước Nga, nơi họ đã dựa dẫm về tư tưởng và tiền của trong ngót sáu mươi năm. Nhưng ảo vọng về sự phục hồi Liên bang Xô-viết của họ thì đã được chính người chủ thừa kế phần di sản lớn nhất của thiết chế vang bóng một thời kia chấm điểm: mất lý trí!
Đám cháy ý thức hệ và con tin tư tưởng
Nhiều người cho rằng tập đoàn cầm quyền hiện nay vẫn còn tiếp tục bám giữ luận thuyết MarxLenin bởi vì họ bảo thủ, vì họ vẫn tiếp tục tin rằng đó là một chân lý tư tưởng. Nhận định này chỉ nói lên bề ngoài. Thực tế, ở Việt Nam hiện nay, có lẽ phải là một người có thần kinh hết sức đặc biệt mới có khả năng thành tâm tin vào hệ thống triết luận MarxLenin. Ngay như Hoàng Tùng, một trong những chuyên viên lý luận cao cấp một thời của đảng đương quyền, mới đây, trong một tiểu luận đầy mâu thuẫn nội tại, đã phải lên
tiếng chỉ trích những bất cập của hệ tư tưởng này và của việc áp dụng nó vào Việt Nam. Mặc dầu vậy, cái môn học mà trò không muốn học, thầy không muốn dạy kia vẫn tiếp tục là một môn học bắt buộc trong các trường cao đẳng và đại học, theo một quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam cách đây chưa lâu. Tuy nhiên, lý do để họ không chịu từ bỏ học thuyết MarxLenin thực dụng hơn cách đánh giá của nhiều người.
Sự thực là thế hệ lãnh đạo cộng sản hiện nay ở Việt Nam không hề say sưa tâm đắc với chủ nghĩa MarxLenin như thế hệ cha anh họ. Học thuyết này một thời đã mê hoặc được một bộ phận lớn của dân tộc, đã đưa cha anh họ, và bây giờ là họ, lên địa vị giai cấp cầm quyền. Ở thời điểm này, họ không thể nhắm mắt để không nhìn thấy chủ nghĩa của họ đã bị cháy, đã hoàn toàn phá sản trong tham vọng giải thích và tiên đoán sự tiến hoá của lịch sử. Họ ý thức được đầy đủ rằng cái gọi là chủ nghĩa
cộng sản khoa học chỉ là huyền thoại. Họ có thừa chủ tâm khi liên tục đề ra những tiêu chuẩn về đạo đức cộng sản, lối sống xã hội chủ nghĩa rồi những điều cấm đảng viên không được làm mà họ chỉ nhằm để gò ép các đảng viên bình thường và quần chúng trong vòng cương tỏa của họ, và khiến cho mọi người bận bịu dò xét, khống chế lẫn nhau, trong khi bản thân họ cùng gia đình họ từ lâu đã trở thành những nhà tư bản với những gia sản kếch xù và cuộc sống vương giả ở một nơi mà cho đến nay thu nhập bình quân
của người dân vẫn còn kém xa mức thu nhập này tại một nước đang phát triển hạng trung bình trên thế giới. Họ tính toán rất mạch lạc khi vẫn tiếp tục hô hào xây dựng chủ nghĩa xã hội, thứ bánh vẽ mà họ biết rõ sẽ không bao giờ có, bởi vì họ nhất định phải tiếp tục giam cầm ý thức hệ của toàn xã hội bằng các tín điều và huyền thoại: một kiểu khủng bố con tin nham hiểm, nhằm ép buộc cả dân tộc tiếp tục chấp nhận địa vị thống trị độc tôn, cực quyền của họ. Vào lúc này đây, đảng Cộng sản Việt Nam, ở bộ phận
trung ương, thực chất chỉ còn là một liên minh quyền lợi thô thiển hơn là một liên minh ý thức hệ. Như vậy, lý do thực sự đằng sau việc họ chưa chịu từ bỏ chủ nghĩa MarxLenin không phải là để bảo vệ ý thức hệ xã hội chủ nghĩa, mà là để ngăn chặn một nguy cơ bị tước quyền lãnh đạo, bị tuột khỏi tay những bổng lộc khổng lồ do quyền lực toàn trị mang lại.
Nhiều người hay để ý đã nhận xét rằng thời gian gần đây, khi phát biểu trước công chúng, giới lãnh đạo Việt Nam đã bắt đầu tránh hoặc rất ít nhắc đến những ngôn từ chìa khóa của một thời như lý tưởng, đấu tranh giai cấp, sức chiến đấu của đảng, v.v
Những ngôn từ ấy đã bắt đầu gây ngượng miệng cho ngay chính các quan chức cao cấp nhất của chế độ.
Trí thức đang mất gì?
Trận đại hỏa hoạn ý thức hệ hiện nay trước hết là kết cục của một thảm họa trí thức. Guồng máy công tác tư tưởng vừa xảo trá tinh vi, vừa áp đặt thô bạo của đảng Cộng sản đã khiến cho một bộ phận lớn trí thức Việt Nam suốt mấy mươi năm loạng quạng trong một thế giới quan sai lầm và nhọc nhằn trong cuộc mưu sinh đầy bế tắc.
Theo nhà văn Phạm Thị Hoài, cựu phó giám đốc nhà xuất bản Sự Thật Nguyễn Kiến Giang đã nhận diện ra tính cách phò chính thống của trí thức Việt Nam trong các xã hội phong kiến trước đây và cộng sản ngày nay. Hiện tượng phò chính thống này có tính phổ biến trong mọi xã hội toàn trị. Ngay cả ở Liên Xô và Đông Âu trước đây, thời mà các đảng cộng sản đang thịnh trị, phần lớn trí thức đều có nhu cầu vào đảng để gia tăng cơ hội thăng tiến. Xã hội toàn trị không phải là một xã hội dân sự phát triển theo chiều sâu để cần đến trí thức như
những chuyên gia: họ được cần đến như những công cụ và những kẻ đồng lõa của giới cầm quyền. Thu nhập của người trí thức tỷ lệ với địa vị của anh (chị) ta trong hệ thống chính trị, chứ không phải tỷ lệ với độ tinh nhuệ về chuyên môn của anh (chị) ta. Ý nghĩa của các bằng cấp học thuật trong các xã hội này cũng khác: chúng không đơn thuần là những chứng chỉ chuyên môn, mà tương tự như những tấm thẻ bài để có thể tiến vào sâu trong cung cấm. Các nền kinh tế toàn trị không theo nguyên tắc thị trường sẽ không cho phép năng
lực chuyên môn được liên tục mài giũa, được định giá xác đáng, và mở ra cơ hội cho nhà chuyên môn theo con đường này: cơ hội phải được phân phối và bị đầu cơ trong các tầng lầu, trên các nấc thang của hệ thống chính trị. Vì vậy, giành lấy tấm thẻ đảng để được quyền tham gia vào guồng máy chính trị đã trở thành lựa chọn phổ biến của người trí thức để đào thoát sự bần hàn. Và một khi đã được hệ thống chính trị tuyển chọn, do bị chi phối bởi tâm lý đám đông, anh (chị) ta sẽ tê liệt khả năng phản tỉnh
để có thể quay lưng lại với hệ thống, thậm chí còn mặc nhiên tham gia vào những công việc, những hoạt động mà khi tự đặt mình ra khỏi hệ thống anh (chị) ta đều cảm thấy bất bình.
Song lựa chọn này trong tuyệt đại đa số trường hợp là một sự đặt cược vô hứa hẹn. Trong một xã hội toàn trị, cơ hội thăng tiến trong khi chưa bao giờ bình đẳng với mọi công dân, nó cũng chưa bao giờ bình đẳng với mọi đảng viên của đảng toàn trị cả. Trước năm 1975, ngay trên miền Bắc xã hội chủ nghĩa, lý lịch là tiêu chí quan trọng nhất để thanh lọc học sinh phổ thông trước các cổng trường đại học: hầu hết con em các gia đình không có gốc gác công nông đều không vào được đại học; nếu muốn, họ chỉ có
thể học cao đẳng hoặc trung cấp. Tình trạng này sau đó được cải thiện bởi ý chí của cố giáo sư Tạ Quang Bửu khi ông đang làm bộ trưởng phụ trách ngành giáo dục đại học của chính phủ miền Bắc, và đó cũng là nguyên nhân khiến ông bị thất sủng và mất chức: ông bị phê phán là thiếu lập trường giai cấp. Thế còn những người đã được chính chế độ đào tạo và sử dụng thì sao? Cách đây chưa lâu, một đoàn đại biểu các nhà giáo châu Á Thái bình dương đã đến thăm một trường học phổ thông thuộc hàng trường điểm ở Hà
Nội. Sau khi nghe vị nữ hiệu trưởng của nhà trường, một nhà giáo ưu tú (và tất nhiên, một đảng viên) đã vươn lên bằng cả năng lực chuyên môn lẫn tài năng ứng xử, trình bày về những thành tích dạy và học của giáo viên và học sinh trường mình, những thành tích thực sự gây ấn tượng và đã mang lại cho ngôi trường của chị danh hiệu đơn vị anh hùng ngành giáo dục, một thành viên trong đoàn đại biểu đã đặt câu hỏi: Lương tháng của bà hiệu trưởng là bao nhiêu? Thấy vị nữ hiệu trưởng có phần bối rối trước câu hỏi, người phiên dịch
động viên: Chị cứ nói sự thật thôi. Và câu trả lời của người hiệu trưởng được phiên dịch lại sau đó, một mức lương tương đương ba mươi lăm đô-la Mỹ, đã khiến tất cả các thành viên trong đoàn đại biểu nước ngoài nhất loạt vỗ tay vì ngỡ ngàng. Mọi người đều hiểu rằng với mức lương ấy, người hiệu trưởng không thể sống nếu chỉ trông vào nó. Mọi nhân viên dưới quyền chị tất cũng như vậy. Và bất cập này sẽ đẻ ra bất cập khác.
Giáo sư vật lý Nguyễn Văn Hiệu, một trong những trí thức thành đạt và từng được ưu ái nhất dưới chế độ cộng sản, khi được hỏi trong một phỏng vấn của đài truyền hình trung ương rằng ông nghĩ gì khi nhiều lưu học sinh Việt Nam đi ra nước ngoài học tập không quay trở về, đã không ngần ngại hỏi lại người phỏng vấn rằng: Nếu họ trở về, chúng ta có những điều kiện gì để cho họ làm việc? Bằng câu hỏi để trả lời này, giáo sư Nguyễn Văn Hiệu đã ngầm thừa nhận một ý niệm mới của nhiều trí
thức người Việt từ lâu nay, ý niệm về đất nước trong ý nghĩa một quốc gia: nơi đâu dung nạp họ, cho họ quyền tự do và một cuộc sống xứng đáng, nơi đó sẽ là đất nước đối với họ. Đất nước không thể đòi hỏi ở họ, càng không thể lên án họ, một khi đất nước đó thực tế không còn là của họ mà đã bị chiếm hữu bởi một tập đoàn cầm quyền độc đoán.
Tuy nhiên, đối với những trí thức sinh ra và lớn lên ở Việt Nam nhưng thành đạt ở nước ngoài, đất nước mới của họ không cho họ tất cả. Họ đã có cơ hội thay đổi được nhiều điều, nhưng nguồn gốc bản thân thì họ không thể thay đổi: tình cảm đối với quê hương xứ sở thực sự là một mất mát lớn đối với họ. Nhiều người trong số họ vào buổi xế chiều của cuộc đời đã đứng trước sự lựa chọn lần thứ hai: trở về cố quốc, cũng tức là chấp nhận mất mát, cái mất mát mà
họ đã không thể chấp nhận vào lần lựa chọn đầu tiên, lúc tuổi còn trẻ và sức còn dư.
Có những mất mát không tránh khỏi, nhưng những mất mát đã khiến người trí thức Việt phải đối diện với sự lựa chọn kia là không đáng có. Sự lựa chọn ấy sẽ trở nên vô nghĩa, một khi người trí thức tìm thấy ngay trên đất nước quê hương mình những cơ hội thành đạt lành mạnh và bình đẳng, những điều kiện đủ để cho mối ưu tư của họ vượt khỏi tầm cơm áo, cùng với những danh dự để họ có thể say sưa cống hiến và sáng tạo: trong những danh dự đó có niềm tự hào về một quốc gia Việt Nam thật sự tự do
và dân chủ. Điều đáng mừng là ngày càng có nhiều trí thức Việt Nam trong và ngoài nước đi đến điểm chung này.
Sự ngăn chặn và trấn áp của nhà cầm quyền cộng sản trước những chuyển động đầy nội năng trong hàng ngũ trí thức của đất nước đang đặt phong trào trí thức trước nhiều thử thách. Ở trong nước, nhiều người bày tỏ sự vô vọng và chán nản của mình bằng thái độ lãnh đạm với chính trị. Họ quên rằng dưới chế độ toàn trị hiện nay, họ tránh trời không khỏi nắng nền chính trị của đảng Cộng sản: mọi lĩnh vực của đời sống đều bị chính sách của đảng kiểm soát, mọi bộ phận của xã hội
đều đã trở thành những tiểu bộ phận của một tổ chức chính trị lớn duy nhất là đảng Cộng sản. Vì lẽ đó, việc phi chính trị hóa đời sống dân sự ở Việt Nam chỉ có thể được thực hiện triệt để bằng con đường đấu tranh loại bỏ chế độ toàn trị.
Moskva, Liên bang Nga
21-6-2005
© 2005 talawas
=====
You shall know the truth and the truth shall set you free.
---------------------------------
Yahoo! Mail Mobile
Take Yahoo! Mail with you! Check email on your mobile phone.
-------------- next part --------------
An HTML attachment was scrubbed...
URL: http://www.le.org/pipermail/vacets-local-dc/attachments/20050627/a1150015/attachment-0001.html
More information about the Vacets-local-dc
mailing list