[Vacets-local-dc] [Vu Thu Hien: Than phan tri thuc trong xa hoi CS]

Hai Tran hai_v_tran at yahoo.com
Tue Jan 25 07:36:50 PST 2005


Thân Phận Trí Thức Trong Xã Hội Cộng Sản

(Đọc "Tuỳ Tưởng Lục" của Ba Kim)
Vũ Thư Hiên
 
Thường khi gặp được một cuốn sách hay là tơi phải đọc một lèo. Cĩ khi thức trắng đêm để đọc cho bằng xong. Chưa xong thì trong người cứ anh ách, ngủ khơng yên. Lâu ngày thành cái tật, sửa khơng được.
Cuốn Tuỳ Tưởng Lục tơi đang cĩ trong tay là của một bạn văn trong nước gửi cho. Thỉnh thoảng anh vẫn gửi cho tơi một thứ gì đĩ, đại loại như trà Tân Cương, cốm Vịng, hoặc tinh dầu cà cuống thứ thiệt, kèm theo một lời nhắn. Thư thì khơng, tuyệt nhiên. Anh khơng giấu giếm rằng anh nhát. Lần này cĩ người tin cẩn anh lại gửi quà -- một cuốn sách. Chúng tơi chơi với nhau đã nửa thế kỷ, người nọ thuộc tính người kia, tơi khơng giận anh vì chuyện đĩ. Anh biết tơi sẽ thích mĩn quà này. Mà thích thật. Trước hết, đĩ là cảm giác gần gụi của thân phận tác giả với thân phận người đọc, của sự đồng cảm. Cứ đọc xong một bài, cĩ khi chỉ một đoạn, lại phải đặt sách xuống, thừ người ra mà ngẫm nghĩ. Cĩ chỗ, ứa nước mắt.
Thích thì thích, nhưng tơi đã khơng đọc nổi Tuỳ Tưởng Lục của Ba Kim một mạch. Chắc nĩ cũng cĩ sức lơi cuốn tương tự với những ai từng sống trong xã hội cộng sản và cĩ một chút trăn trở về xã hội ấy (dù chỉ một chút thơi): nĩ thật sự là cái gì ? nĩ cĩ xứng với ta, với tư cách con người, khơng ? liệu nĩ cịn tương lai khơng ?
Tuỳ Tưởng Lục là lời tâm sự thật thà của một trí thức háo hức đi tìm chân trời mới, rồi bị rơi xuống địa ngục. Trong Tuỳ Tưởng Lục cĩ đủ nỗi nhục nhằn tinh thần và những mất mát làm trái tim suốt đời rỉ máu, khơng kể đến những đớn đau thân xác.
Tuỳ Tưởng Lục, bản tiếng Việt (nhà xuất bản Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, 2002) là một tập những bài viết của Ba Kim trong tuổi trên 80, nghĩ gì viết nấy, khơng câu nệ thể loại, đề tài. Hai dịch giả danh tiếng - Trương Chính và Ơng Văn Tùng - tự chọn các bài để dịch. Sự chọn lựa của hai ơng rất khéo: vừa đủ để người đọc được biết về một thảm hoạ xảy ra ở nước láng giềng đã nhiều năm nhưng vì bị bưng bít nên chẳng ai biết nĩ ra sao, đồng thời cũng khơng gây nên cơn giận dữ ở các bậc quyền cao chức trọng dễ trạnh lịng. Tuỳ Tưởng Lục nguyên bản tiếng Hoa là một tác phẩm đồ sộ, gồm 5 tập, tập đầu in năm 1978, tập cuối in năm 1986. Những bài được chọn để dịch đều ít nhiều dính dáng tới cuộc "Đại Cách mạng Văn hố Vơ sản" kéo dài
 mười năm - từ 1966 đến 1975 (1). Người Việt nào từng chịu đựng cuộc Tiểu cách mạng văn hố vơ sản ở Việt Nam (kéo dài và âm thầm) sẽ tìm thấy trong Tuỳ Tưởng Lục (bản dịch) những lý giải cho câu hỏi: vì sao nên nỗi ?
Những nghiên cứu khoa học cho ta biết trong trí nhớ của con người cĩ một bộ lọc kỳ diệu. Nĩ thường xuyên xố đi giúp ta những hình ảnh xấu, những kỷ niệm buồn. Khơng cĩ cái bộ lọc ấy thì cuộc sống con người khốn nạn lắm. Thật vậy, tơi cũng thường quên những điều tồi tệ, chỉ những kỷ niệm đẹp mới được ghi lại. Tác giả Tuỳ Tưởng Lục chắc cũng khơng khác. Khơng thế, khơng sống nổi.
Vậy mà, với Tuỳ Tưởng Lục Ba Kim lại chống cái trí nhớ cĩ lợi cho con người. Trải qua những năm tháng bị dập vùi, ngẫm lại thân phận mình và thân phận đồng bào trong cái xã hội "khơng thể tưởng tượng nổi", ơng kêu gọi mọi người khơng được quên cái Ác và tội của nĩ. Quên là chết. Nhớ thì đau đấy, khổ đấy, nhưng phải khắc cốt ghi xương, rằng nĩ đã cĩ, cái Ác, nĩ hằng cĩ, lúc tiềm tàng, lúc hiện diện, phải luơn luơn cảnh giác với nĩ, để mặc nĩ thì con người khơng thể nào cĩ được cuộc sống yên lành. Phải chặn đứng cái Ác khi cịn chưa muộn, phải trĩi nĩ lại, cách ly nĩ khỏi đời sống, tìm mọi cách tiêu diệt nĩ. Khơng thể để lũ ác nhân cứ tự do hồnh hành, tác yêu tác quái, rồi bất kể hậu quả là thế nào, chúng cứ nhơn nhơn lớn lối với bàn
 dân thiên hạ, coi như khơng cĩ chuyện gì xảy ra, chỉ cĩ mình chúng là duy nhất đúng đắn, là vơ cùng sáng suốt: "Thành tích là căn bản, sai lầm là nhất thời". Đối với lũ ác nhân dường như cứ đạt được một thành tích nào đĩ, dù chỉ trong tưởng tượng, thì cái gì cũng được phép. Đánh người tuỳ thích. Giết người tha hồ. Khơng nghe được.
Gần ba chục năm đã trơi qua kể từ hạo kiếp của Ba Kim kết thúc. Nhưng ơng lúc nào cũng bị dằn vặt bởi câu hỏi: lấy gì bảo đảm rằng vào một lúc nào đĩ, lại khơng cĩ một tên nào đĩ, hoặc vài ba tên nào đĩ, hoặc cả một lũ nào đĩ, sẽ lặp lại lần nữa, hoặc hơn một lần nữa, cái cuộc thiên hạ đại loạn từng đẩy ơng, các bạn ơng, và khơng biết bao nhiêu người Trung Quốc hiền lành vơ tội khác, xuống địa ngục ?
Trong một bài nĩi chuyện với giới văn hố ở Nhật (trong bài khơng ghi rõ ngày tháng, nhưng chắc chắn là phải sau 1975), Ba Kim cảnh báo: "Mười năm đại hoạ đĩ là sự việc lớn trong lịch sử lồi người, chẳng những dính líu đến chúng tơi, mà cịn dính líu đến tất cả lồi người". Nếu Đại cách mạng văn hố vơ sản khơng xảy ra ở Trung Quốc ắt phải xảy ra ở một nước nào khác, ơng nĩi thế.
Ba Kim đúng. Đúng ở chỗ ơng đã nĩi ra. Và sai. Sai ở chỗ ơng nĩi khơng đủ.
Đúng là cuộc Đại cách mạng văn hố vơ sản khơng phải chỉ là bài học cho một nước. Nĩ là bài học chung cho cả lồi người. Chưa kể những nơi mà nĩ khơi dậy những tiểu cách mạng văn hố vơ sản như ở Việt Nam và Cambodia, nơi những di hoạ khủng khiếp của nĩ khơng biết đến bao giờ mới hết sạch. Cái hoạ này lớn hơn ta tưởng. Ngay ở châu Âu của truyền thống dân chủ và tự do trong thập niên 60 thế kỷ trước cũng đã cĩ bao nhiêu trí thức ngây thơ hoan hỉ chào mừng những cuộc "vận động", "đấu tranh" của những "mao-nhiều" Trung Quốc, cứ như thể ở đĩ đang diễn ra một cuộc đổi đời, biến mọi sự xấu thành tốt. Đã cĩ bao nhiêu người ở khắp thế giới gào to "Đơng phương hồng, mặt trời lên" ? Và cho tới nay rải rác đây đĩ vẫn cịn những "mao ít" mang huy hiệu Mao
 Trạch Đơng trên ngực, miệng hơ to: "Cái thế giới này phải cải tạo bằng khẩu súng trường (2)", tay trĩi du khách bị bắt cĩc đem đi giấu để địi tiền chuộc.
Sai, ở nơi "đơng phương hồng, mặt trời lên" khơng phải chỉ cĩ một cuộc Đại cách mạng văn hố vơ sản. Trước nĩ đã cĩ hết cuộc "vận động" này đến cuộc "vận động" khác, và cuộc "vận động" nào cũng kết thúc bằng một địa ngục, khơng phải cho người này thì người kia. Ai theo dõi tình hình Trung Quốc cận đại cũng biết rằng trước cái đận Ba Kim và các trí thức đi theo đảng cộng sản bị hạ ngục, bị trấn áp, đã cĩ biết bao nhiêu nạn nhân thuộc các thành phần khác: đảng viên Quốc dân đảng, viên chức chính quyền cũ, tư sản, địa chủ ... và những người được gọi bằng cái tên chung "phản động". Trong Tuỳ Tưởng Lục, Ba Kim quên bẵng những người này. Mà họ cũng là người chứ. Chẳng lẽ ơng lại quên rằng ở Trung Quốc mọi cuộc "vận động" "xây" cái này,
 "chống" cái kia, bao giờ cũng đi kèm với trống rong cờ mở ban đầu và kết thúc thắng lợi với máu chảy, người chết. Lệ là thế. Khơng thế khơng phải là cách mạng.
Ba Kim được các nhà phê bình văn học bản địa coi là một trong bốn cây đại thụ của nền văn học Trung Quốc (ba người kia là Lỗ Tấn, Mao Thuẫn, Quách Mạt Nhược). Cách đánh giá của họ khơng cĩ sự đồng thuận ở bên ngồi Trung Quốc. Nhưng đánh giá theo cách nào thì Ba Kim cũng là một nhà văn lớn. Ơng tên thật là Lý Nghiêu Đường, tự Phế Cam, người tỉnh Tứ Xuyên, con nhà giàu cĩ, từng du học Pháp. Năm 23 tuổi, khi cịn là học sinh trường trung học La Fontaine ở thị trấn Chateau-Thierry, ơng viết cuốn tiểu thuyết đầu tay Diệt Vong, được độc giả rất hoan nghênh. Từ năm 1930-1949 ơng viết nhiều (Ái Tình Tam Bộ Khúc, Kịch Lưu Tam Bộ Khúc), dịch cũng nhiều.
Sau năm 1949, khi lục địa Trung Hoa đã hồn tồn bị nhuộm đỏ, Ba Kim đi theo đảng cộng sản. Tự nguyện hồn tồn. Một lịng một dạ. Nhưng, với tư cách nhà văn, ơng ít viết hơn hẳn so với trước. Nhà trí thức Ba Kim khơng theo kịp (hay khơng sực nổi) những khẩu hiệu "Quán triệt phương hướng phục vụ cơng nơng binh, phục vụ chủ nghĩa xã hội", "thực hiện phương châm "trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng", "Tiến hành phương pháp chủ nghĩa hiện thực cách mạng kết hợp với chủ nghĩa lãng mạn cách mạng"... Nào cĩ phải chỉ cĩ những khẩu hiệu rổn rảng mà thơi. Theo sau chúng là những cuộc đấu tranh cĩ máu. Nào "Phê phán phim Vũ Huấn" (1951), "Phê phán cuốn "Nghiên cứu Hồng Lâu Mộng" của Du Bình Bá", "Phê phán quan điểm duy tâm của Hồ Thích" (1954), "Chống tập đồn phản cách mạng
 Hồ Phong" (1955), "Chống phái hữu trên mặt trận văn nghệ" (1957), "Chống "chủ nghĩa xét lại" (1959). Đây là chỉ nĩi về các cuộc "vận động" nhằm nện cho trí thức nhừ tử. Chứ cịn tư sản, địa chủ thì Mao chủ tịch và các đồng chí của ơng ta đã quét sạch sành sanh.
Tất cả sự tàn nhẫn của đảng cộng sản đối với trí thức trong những cuộc "vận động" ấy, xét cho cùng, chỉ cĩ mục đích bắt họ phải khuất phục đảng vơ điều kiện. Nhưng chưa đủ, chúng hố ra mới chỉ là khúc nhạc dạo cho một cuộc "cách mạng" cịn tàn bạo và gớm ghiếc gấp bội. Tên của nĩ là "Đại cách mạng văn hố vơ sản".
Tháng 8 năm 1966, đùng một cái, Ba Kim rơi xuống địa ngục.
Ơng tả lại: "... Tơi thật giống như một du hồn bị đưa đến "Thập điện Diêm Vương". Mỗi chuyện tơi làm trong quá khứ đều bị nêu ra, từng cái một, để bỏ tơi vào vạc dầu mà tra tấn, mà thay xương đổi thịt! Mười bức vẽ đưa vong linh đi qua thập điện Diêm Vương, âm khí thê thảm, máu chảy đầm đìa, một khơng biết mình là người hay là quỷ, là thú vật hay hồn ma, xuống âm ty hay đã xuống địa ngục rồi. Bấy giờ Tiêu San (3) cịn sống, sáng dậy tơi mở mắt, nghe tiếng nàng, tơi gọi thì nàng nĩi: "Khơng sống nổi nữa !" (Tuỳ Tưởng Lục).
Nĩi đùng một cái, là vì Ba Kim đang sống yên lành, hơn nữa, cịn hữu hảo lắm lắm với chính quyền cộng sản, vào thời điểm ấy ơng cịn là cán bộ cấp cao về văn nghệ nữa, ấy thế mà một hơm, vừa mới đi tiễn các nhà văn Á-Phi ở sân bay về đến nhà thì thấy người của cách mạng ập tới, túm lấy, giải đi. Úm ba la, Ba Kim thành "đối tượng của chuyên chính vơ sản". "Đối tượng", nghe cĩ vẻ vơ thưởng vơ phạt, trung tính, nhưng nghĩa của nĩ trong thực tiễn xã hội chủ nghĩa, chỉ những người ở trong xã hội ấy hiểu, lại kinh lắm. Nĩ cĩ nghĩa là "kẻ thù". Khơng phải chỉ cĩ kẻ thù giai cấp được định nghĩa trong các tác phẩm kinh điển mác-xít, nhiều nhất là trong các trước tác của Stalin, Mao Trạch Đơng, khơng phải thế. Ở cái xã hội được gọi là xã hội chủ
 nghĩa (viết hoa) ai cũng cĩ thể trở thành kẻ thù hết. Mà đã là kẻ thù thì cịn cái gì tốt đẹp, vui vẻ, chờ đợi họ trên con đường khổ ải đã trở thành quen thuộc với dân đen, nhất là dân đen ở nước Trung Hoa đỏ. Ở nước này cũng biết mỗi khi cĩ một cuộc "vận động cách mạng" (lần thứ n trong lịch sử) là y như rằng các "đối tượng" của cách mạng, hay của chuyên chính vơ sản thì cũng rứa, sẽ được "xử lý" như thế nào.
Nhà văn Ba Kim bị bắt đem đi đấu từ thấp đến cao, lúc "bồi đấu", lúc "dạo đấu" (4), lúc "chính đấu", đủ kiểu. Nhà ở của ơng bị lục lọi khám xét lanh tanh bành, đồ đạc bị cướp thả cửa ..., bản thân bị đưa đi học tập (Ba Kim gọi là làm "bị", đi bắt đi lao động cải tạo ở "trường 7.5" (5)). Bởi vì Ba Kim cĩ tội, theo quan niệm của cách mạng, hay nĩi cho đúng hơn, của một số ơng bà cách mạng (về sau, những ơng bà cách mạng khác lại nĩi rằng đĩ là một "bè lũ" xấu). Tội của Ba Kim khơng hề được tồ án nào tuyên. Mấy ơng bà cách mạng nắm Đảng cộng sản lúc ấy bảo: Ba Kim là "tên đại phản cách mạng". Thế là đủ. Bĩi ra ma, quét nhà ra rác, những gì Ba Kim viết, hơm trước được khen, hơm sau bị chửi, là chuyện thường tình.
Trong các văn kiện nĩi về cuộc trấn áp rùng rợn này, đảng cộng sản Trung Quốc ra một khẩu hiệu rất sắt máu: "Đánh gục tại chỗ, lấy chân đạp xuống, suốt đời khơng cho ngĩc đầu dậy!"
Ở miền Bắc Việt Nam hồi ấy chẳng ai biết "Đại cách mạng văn hố vơ sản" là cái chi chi hết, trừ những bài ca ngợi nĩ, tít chữ to, in màu đỏ đậm, trên trang nhất tờ Nhân Dân. Đọc những bài báo ấy, người đọc báo ngủ khơng ngon: ở bên ta rồi cĩ cái đĩ khơng ? Lạy Trời cho mấy ơng kễnh đừng động cỡn lên làm một cái gì đĩ theo chân các Con Trời. Nước Tàu ở gần ta quá, các ơng ấy lại xính bắt chước. Cứ nghe các ơng ấy nĩi và viết thì cuộc "Đại cách mạng văn hố vơ sản" ấy hay lắm, rằng nhờ nĩ cuộc sống sẽ tốt đẹp hơn. Tốt hơn thì ... tốt thơi, miễn đừng cĩ "đấu tranh". Phàm đã "đấu tranh" là y như rằng lộn xộn, đầu chẳng phải, phải tai, lành ít, dữ nhiều. Loạn xị bát nháo. Kinh lắm. Họ mà khởi lên cái sự "đấu tranh" thì dân đen mình biết
 "tránh đâu" ?
Nhưng những tin vỉa hè, bây giờ được gọi bằng cái tên hiện đại, mà rất trúng, là Thơng tấn xã nhân dân, cho biết ở bên Tàu chẳng cĩ cách mạng cách miếc gì hết, mà đang cĩ một cuộc "thiên hạ đại loạn".
Bắc Kinh mà báo mưa thì Hà Nội đi ơ, hãy cẩn thận!
Nhưng đã ở trong vịng kiềm toả của đảng cộng sản rồi, cĩ cẩn thận cũng bằng thừa. Thật vậy, chẳng bao lâu sau sự khởi đầu Đại cách mạng văn hố vơ sản, hồng đế tân triều ở Việt Nam, vị chúa tể cịn quen tay bẻ ghi đường sắt, ra lệnh phát động tắp lự cuộc trấn áp bọn phản cách mạng ở Việt Nam, theo hình mẫu Trung Quốc, gọi là "bọn xét lại chống Đảng".
Thế là tơi vào tù. Cùng với vơ số người khác.
Trong cuộc sống trong xà lim kín như bưng kéo dài hơn bốn năm, tơi khơng biết việc gì đang xảy ra bên ngồi bốn bức tường, nĩi gì đến những việc xảy ra ở tận bên Tàu. Đến lúc được đưa ra trại chung mới nghe sơ sơ về cái cuộc cách mạng long trời lở đất ấy. Những người tù Trung Hoa từ đại lục, cũng bị bỏ tù bởi nước chư hầu, tránh khơng kể kỹ. Khơng phải vì họ sợ, đã ở trong nhà tù Việt Nam rồi cịn gì mà sợ, nhưng họ ngán nhắc tới những kỷ niệm hãi hùng. Cịn tơi thì nghe cái sự kể sơ sơ ấy đã dựng tĩc gáy. Cịn khiếp hơn những chuyện kinh dị đọc trong sách.
Bây giờ, qua Tuỳ Tưởng Lục tơi mới được biết cái ngày "hội cách mạng" ở Trung Quốc đã diễn ra với giới trí thức như thế nào ?
Tơi tin Ba Kim nĩi thật. Ơng chỉ nĩi ít đi, chứ khơng bịa thêm. Ơng khơng nĩi đủ một phần do mặc cảm -- ơng khơng hồn tồn vơ can trong các thứ tội ác đã diễn ra. Mặt khác sự sợ hãi, sự tránh né vẫn cịn là điều khơng được thiếu nếu muốn tồn tại.
Đại cách mạng văn hố vơ sản bắt đầu một cách ào ạt, rầm rộ, với trống rong cờ mở, thanh la não bạt; hào hùng lắm, khí thế lắm. Trong khơng khí sơi động ấy các nhà văn, nhà thơ, nhà báo, hoạ sĩ ..., nĩi tĩm lại, tất tần tật các văn nghệ sĩ, các trí thức, lần lượt bị phái "tạo phản" (một tên gọi phái cực tả, là về sau kia) điểm mặt, lơi ra. Họ bị buộc đủ các thứ tội đối với cách mạng, từ khinh thị cơng nơng, nĩi xấu lãnh tụ, xuyên tạc chủ nghĩa Mác, đến phản cách mạng, bán nước ... Họ là đều là "hoa dại", là "cỏ độc" hết, tuốt tuồn tuột. Phải quét sạch, phải nhổ đến tận rễ, phái "tạo phản" la hét đầu đường cuối phố. Quần chúng, như đàn cừu Panurge, ào ào theo sau phái "tạo phản", xơng vào nhà những người bị đấu lơi họ ra đường,
 bắt họ đội "mũ cao" (một hình thức nhục mạ), nhổ bọt vào mặt họ, ném đá vào người họ, hơ to những khẩu hiệu địi tiêu diệt họ. Và xơng vào nhà ăn cướp, ăn cướp thực sự, theo nghĩa đen.
Ba Kim tả: "Tơi bỗng trở thành ác bá văn chương" (6), "yêu ma quỷ quái", thường xuyên bị lơi ra phê đấu. Về sau do "lũ bốn tên", qua quyết định của sáu người cĩ trách nhiệm ở Thượng Hải là Vương Hồng Văn, Mã Thiên Thuỷ, Từ Cảnh Hiền ... đánh tơi thành "tên phản cách mạng khơng đội mũ cao". đuổi tơi ra khỏi giới văn nghệ". Phái "tạo phản" và tay chân của "lũ bốn tên" dán lên mấy nghìn tờ báo chữ to (đại tự báo) về tơi, thậm chí cịn dán biểu ngữ ngay trên đường cái nĩi tơi là "quân bán nước", "phản cách mạng", cho tơi là thối tha. Trương Xuân Kiều tuyên bố cơng khai khơng cho tơi sáng tác nữa" (Tơi Và Văn Học). "Nghĩ lại những ngày ấy ... tơi vẫn rùng mình rởn gáy. Tơi cảm thấy rành rành rằng tấm lưới xung quanh tơi ngày càng thít lại, mỗi tuần lễ một ghê gớm
 hơn" ... "Nực cười là tơi cũng cho nhân quyền là thứ của giai cấp tư sản, cịn hạng "yêu ma quỷ quái" như chúng tơi khơng cĩ tư cách hưởng những thứ ấy. Lúc đĩ sống một ngày dài bằng cả năm, cịn bụng dạ nào mà cười ?" (Về Nĩi Thật. Bài Thứ Ba). "Tơi khơng giấu là nhiều lần tơi bị phái "tạo phản" lơi lên bục bắt "ngồi máy bay phản lực"; tơi cúi đầu nhận tội, diễn đủ các trị hề! Cĩ lần, tơi và một ơng bạn nhà văn già phải quỳ trên dàn hội trường phân hội Liên hiệp các nhà văn để tiếp thu những lời phê phán "phần tử cuồng loạn" của bọn học sinh "cách mạng" (Vơ Đề).
Trí thức là những người khơng cĩ da dầy. Họ rất mẫn cảm với mọi tác động từ bên ngồi. Cách mạng vơ sản chưa kịp tiêu diệt thì nhiều người trong đám văn nghệ sĩ đã tự chết rồi. Ba Kim kể: "Dĩ Quần (7) là người thứ nhất. Nghe nĩi, anh nhảy lầu ngày mồng hai tháng tám, nhưng cho đến hơm nay (8) tơi vẫn chưa biết rõ anh bị bức phải nhảy lầu như thế nào. Tơi chỉ biết anh bị người ta bức tử với tội "khơng cần cĩ chứng cư ù" ... "Dĩ Quần chết một tuần rồi tơi mới hay tin, cịn như Lão Xá "vỡ ngọc" (9) thì một thời gian lâu sau khi ơng tự sát". Những người tự sát chưa chắc đã là những người hèn nhát. Phĩ Lơi, một người bạn mà Ba Kim mến phục, giải thích cái chết của bạn bè, và của chính mình, bằng câu: "Kẻ sĩ, cĩ thể giết, khơng thể làm nhục". Sau Dĩ
 Quần, Lão Xá, Ba Kim được tin Trần Đồng Sinh, Kim Trọng Hoa ... "họ ở rất gần nhà tơi, thế mà tơi khơng biết họ chết vào lúc nào. Kim trọng Hoa lặng lẽ treo cổ trong phịng, bà mẹ tám mươi chỉ nghe tiếng ghế đổ ... Trần Đồng Sinh, thì nghe nĩi chết nằm vắt trên bếp ga, do đĩ người ta đốn anh tự tử. Nhưng anh đang ở trong thời kỳ "cách ly kiểm tra" mà, làm sao cĩ thể mở bếp ga được ? (10)" (Hai Mươi Năm Trước). Cù Bạch Âm chỉ vì một bài "Tự bạch về đi tìm cái mới" mà "chịu đủ mọi nỗi giày vị như địa ngục", kết thúc bằng cái chết bi thảm (Tìm Tịi).
Ba Kim viết: "Trong Văn Cách (11), những trí thức bị chết oan đâu chỉ cĩ hàng ngàn, hàng vạn. Họ nêu cao tấm gương phê phán cái triết lý "hãy cứu lấy mạng sống". Tơi nhớ thời chống phái hữu (12), tơi cĩ viết một bài báo bác lại luận điệu "khơng thể làm nhục" để đập tan bộ mặt kiểu cách của các nhà trí thức. Viết bài đĩ kỳ thực là tơi "cứu lấy mạng sống của tơi (13)" (Hai Mươi Năm Trước).
Những trí thức tìm đến cái chết nhiều phần vì khơng chịu bị làm nhục, bị dày vị quá sức chịu đựng về thể xác. Trong gia đình Ba Kim, chính ơng bị bắt bắt quỳ hằng giờ trên sàn đấu, bắt "đi máy bay phản lực (14)", Tiêu San, vợ ơng, bị bọn "tạo phản" quất dây da bịt đồng vào mặt, hành hạ bà đủ trị trước khi bà nhắm mắt vì bệnh ung thư (tháng 7.1972). Con cái ơng bị đẩy đi cơng tác nơng thơn, ở vùng sâu vùng xa. Gia đình nào vướng vào vịng Đại cách mạng văn hố vơ sản thì cũng cĩ số phận tương tự. "Tơi nghe người con dâu đồng chí Chu Tín Phương kể lại: bà Chu trước khi mất thường bị bọn đầu gấu lơi ra làm quả bĩng xơ đi đẩy lại, đến nỗi mình mẩy mềm nhũn. Cĩ người khuyên bà trốn đi, bà nĩi: "Tơi mà trốn đi thì chúng nĩ lại hành hạ ơng nhà tơi
 như thế thơi mà" (Thương Nhớ Tiêu San). Nhà văn nổi tiếng Lão Xá cũng bị đánh đập, thượng cẳng chân hạ cẳng tay. Vợ Lão Xá kể: "Tơi khơng thể nào quên được trong đêm khuya đã tự mình lấy bơng thấm nước, lau từng chút một những vết máu trên đầu, trên mình người thân của tơi như thế nào, mà khơng rõ chuyện này ở đâu, tại sao lại ra nơng nỗi ấy ..." (Lão Xá).
Đến như một thầy giáo làng (một trí thức cấp thơn xã) như ơng thân sinh nhà văn Giả Bình Ao (mới nổi tiếng sau này) cũng bị trấn áp, gia đình tan nát. Tả lại cảnh trấn áp ngày ấy, Giả Bình Ao cho một nhân vật của ơng kể: "Ba năm trước, nổi lên một cơn giĩ, phải học tập Tiểu Cận Trang, kéo hết người ở ngồi đồng về, suốt ngày mơi đỏ răng trắng nĩi a, hát a. Anh nhà tơi cáu kỉnh nĩi trước hội nghị xã viên: "Nơng dân mình bới đất kiếm cơm, khua mơi múa mép làm gì ? Ăn ngũ cốc khơng tiêu được hay sao mà bày ra cái trị vớ vẩn ấy", hơm sau liền bị bắt. Trong trại giam họ đánh đập anh ấy, đánh gãy cả chân, vết thương bị nhiễm trùng, rồi anh ấy chết". Người vợ anh ta kiên trì minh oan cho chồng bị các quan cấp xã trù dập, bị xã trưởng hiếp, tự tử mà chết.
Đấy là cái mà cách mạng vơ sản làm ra cho trí thức, lớn cũng như bé. Sau này mọi tội đều được đổ lên đầu phái "tạo phản" như một thùng rác tiện lợi. Nhưng khơng phải chỉ cĩ những trí thức tuẫn tiết. Phần lớn trí thức khơng làm như thế vì mục đích được sống sĩt. Khơng phải họ khơng cĩ dũng khí. Cũng khơng phải họ khơng biết chán chường. Mà trước hết, tại họ ăn phải "cháo lú" (từ của Ba Kim).
Ba Kim tâm sự: "Những ngày ấy, cuộc sống ấy, quan hệ ấy giữa con người và con người, thật là đen tối quá chừng, giống như đang chịu tội giữa địa ngục vậy. Tơi lấy làm lạ, bấy giờ tơi đã ăn cháo lú gì mà cĩ thể giơ hai tay lên, hơ to đả đảo mình, cam lịng nhận tội, để cho kẻ khác tước đoạt quyền làm người của mình". "Khơng phải là tơi đang nĩi mê. Năm 1966 quả thực tơi đã làm thế. Cháo lú đã làm tơi mê suốt mười năm. Năm 1983, nĩ lại định đưa tơi vào cảnh mộng một lần nữa, nhưng cái phép quỷ quái quen thuộc đã mất tác dụng làm cho tơi lú lẫn lần nữa" (Hai Mươi Năm Trước).
Sao mà giống những gì xảy ra ở Bắc Việt Nam đến thế! Hãy nhớ lại thời kỳ cải cách ruộng đất mà xem. Cĩ phải là như thế khơng ?
Nĩi cho đúng, sao mà Bắc Việt Nam giống Trung Quốc đến thế!
Ở Việt Nam, trong những cuộc chỉnh huấn bắt đầu từ năm 1950 (sau khi biên giới Việt Trung được khai thơng) và kéo dài nhiều thập niên sau, cứ thỉnh thoảng lại nổi lên một đợt, hiện tượng ăn phải "cháo lú" cũng y hệt ở Trung Quốc. Người ta tự hành hạ mình bằng cách tự kiểm thảo một cách quá ư thành khẩn, tức là thổi phồng tội lỗi của mình, tự xỉ vả, tự đả đảo (như Ba Kim), thậm chí bịa đặt ra những tội lỗi mình khơng hề cĩ đối với cách mạng. Đi xem phim Bạch Mao Nữ (Cơ Gái Tĩc Trắng), người ta bắn lên màn ảnh khi thấy tên địa chủ xuất hiện. Đi xem kịch người ta ném đá vào diễn viên đĩng vai cường hào. Thứ "cháo lú" này tơi đã được thấy tác dụng của nĩ như thế nào. Khi một đám đơng an phải "cháo lú" tức thì xuất hiện sự "lên đồng tập
 thể". Con người bỗng mất đi tính người, tính thú nổi lên. Cuộc đàn áp, giết chĩc, khơng cần tới tay những người cộng sản nữa, dân chúng tự giết lẫn nhau.
Nhưng cũng lại phải nĩi cho cơng bằng, về đại thể, mức độ tàn bạo của những cuộc "vận động" cách mạng do đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo quả cĩ thấp hơn ở Trung Quốc nhiều, quy mơ quả cĩ hẹp hơn nhiều. Đơn giản vì Bắc Việt Nam là nước nhỏ, cái gì ở đĩ cũng chỉ "tiểu" thơi, chứ khơng thể "đại" (ở Trung Quốc đã Nhảy Vọt rồi cũng phải thêm Đại vào, cho nĩ ốch). Khốn thay, số phận con người thì ai cũng như ai, cách mạng đại hay cách mạng tiểu thì cũng thế, trong cuộc cách mạng mỗi người chỉ cĩ một cuộc đời để mà sống, người Trung Quốc cũng y như người Việt Nam, chẳng cĩ gì khác nhau. Bi kịch cho một con người lớn chẳng kém bi kịch của số đơng chút nào, cĩ khi cịn lớn hơn. Bởi một con người là cái cụ thể, cái thấy được, biết được, rõ
 ràng hơn bất kỳ con số thống kê nào. Cĩ người sẽ bảo: dân Trung Quốc hơn một tỉ, Đại cách mạng văn hố vơ sản cĩ làm chết đến một triệu khơng mà rộn ? Mà cĩ chết một triệu hay hơn một triệu thì cũng chưa tới một phần nghìn cơ mà. Xin thưa: một con người ở trong con số một triệu đĩ là một người như tơi với ơng đây này, cĩ vợ cĩ con, cĩ mẹ cĩ cha, cĩ bằng hữu, cĩ thân thuộc, cĩ niềm vui nỗi buồn, cĩ đau thương, cĩ hạnh phúc ..., cĩ tất cả những gì thuộc về con người "khơng xa lạ với tơi", nĩi theo cách của Mác.
Hồi trước, khi cịn ở trong nước, cứ mỗi khi sơ kết hoặc tổng kết một đợt học tập do đảng chủ trương, thì cán bộ phải viết thu hoạch, tức là viết ra giấy những gì mình đã học được. Tơi bỗng nảy ra ý muốn viết ra cái thu hoạch của tơi sau khi đọc Tuỳ Tưởng Lục.
Một là, xã hội cộng sản bao giờ cũng thù nghịch đối với trí tuệ (15). Mọi thứ trí tuệ khác, ngồi chính trị, chỉ cĩ thể tồn tại với điều kiện làm tay sai trọn vẹn cho chính trị. Tay sai mà khơng trọn vẹn cũng khơng được, phải loại trừ. Từ đây mà ra khẩu hiệu "chính trị là thống sối". Đàng sau cái khẩu hiệu về địa vị ấy là quyền lực thực sự của một mình đảng cộng sản nĩi chung, và một lãnh tụ, hoặc một nhĩm lãnh tụ, nĩi riêng. Khơng kẻ nào khác được phép len chân vào đấy. Trí tuệ khơng là cái gì hết. Đảng là ánh sáng soi đường, là lương tâm, là trí tuệ nhân loại. Đảng độc tơn, độc đốn, mặc sức muốn làm gì thì làm. Khơng kẻ nào được cãi lại. Thậm chí khơng được rĩn rén phát biểu ý kiến khác với gì đảng đang nĩi (bởi vì lúc đảng
 nĩi A lúc đảng nĩi B, khơng thể biết đàng nào mà lần). Cứ nghển cổ lên mà đánh hơi, rồi giĩ chiều nào theo chiều ấy, tha hồ tự do phát biểu. Trong một xã hội khép kín như thế, đảng cộng sản cĩ làm điều gì sai đến mấy thì cả xã hội cũng phải chịu. Người dân khơng cịn quyền gì khác ngồi quyền được cúi đầu vâng lệnh và xưng tụng cơng đức kẻ cai trị.
Khi tồn bộ phương tiện truyền thơng trong xã hội được vận dụng để phục vụ kẻ cai trị thì người dân ắt bị đẩy vào tình trạng mụ mẫm.
Về tình hình này, Ba Kim tả: "Nhưng tơi năm 1970 và tơi năm 1967-1968 khơng cịn là một người nữa. Từ tháng 9 năm 1966 trở về sau, dưới sự uy hiếp và lãnh đạo bằng roi da của phái "tạo phản", tơi hồn tồn suy nghĩ bằng đầu ĩc người khác; người khác gào "Đả đảo Ba Kim!", tơi cũng giơ tay hưởng ứng". "Càng nghĩ càng thấy phái "tạo phản" nĩi phải, càng nghĩ càng thấy mình cĩ tội. Nĩi tơi là "hứa tử hiển tơn" của giai cấp địa chủ, tơi thừa nhận. Nĩi tơi viết Dịng Nước Xiết là "dựng bia, lập truyện" cho giai cấp địa chủ, tơi cũng thừa nhận. Năm 1970, chúng tơi xuống lao động ở nơng thơn 3 năm, bị lơi ra ruộng để cùng bị đấu với địa chủ ở đĩ, tơi cũng cúi đầu nhận tội"."Năm 1967 trở đi, tinh thần và diện mạo tơi khác hẳn. Trong tâm linh tơi cĩ cái gì tích luỹ
 được từ trước tơi bỏ sạch. Tơi ưỡn ngực tiếp thu vơ điều kiện mọi chỉ thị của phái "tạo phản". Về sau tơi tự phân tích nĩi là ăn phải bùa mê thuốc lú, tơi bị thơi miên, nên khơng hay biết gì nữa. Kỳ thực tơi chưa đào sâu đấy thơi. Trong khoảng hai năm ấy, những khi tơi thành khẩn bái mộ thần linh, bên tai tơi lúc nào cũng văng vẳng một tiếng nĩi nhân từ :"Tin thần linh thì cả nhà sẽ được cứu". Nguyên thuỷ chung tơi vẫn giữ trong đầu cái triết lý "bảo tồn tính mạng" "Lúc ấy, tơi cho rằng mình cĩ tội thì cách chuộc tội là thật sự cải tạo, cách cải tạo là cứ thực hiện đúng từng câu mọi huấn thị, mệnh lệnh, quyết nghị của phái "tạo phản" (Mười Năm, Một Giấc Mộng). Mĩn "cháo lú" được nấu theo đúng tinh thần "chính trị là thống sối" là như thế.
 Một tình hình tương tự người Việt Nam đã được thấy trong cải cách ruộng đất, ở cuộc vận động trí thức và các thứ đám đơng khác đánh "hội đồng" nhĩm "Nhân văn - Giai phẩm".
Cái sự trấn áp bằng bất cứ phương tiện gì, bằng bất cứ giá nào đối với những trí tuệ khơng giống mình, được gọi một cách miệt thị là ngoại lai, tạo ra bùa mê thuốc lú cho cả xã hội, xét đến cội nguồn chính là sự sợ hãi đối với trí tuệ. Nếu trí tuệ sống thì quyền lực độc tơn khơng cịn đất sống. "Kẻ nào suy nghĩ khác ta, kẻ đĩ chống lại ta", đĩ là chủ trương của mọi chế độ độc tài chuyên chế, phát xít hay cộng sản thì cũng vậy. Mặc dầu bị ăn "cháo lú", nhà văn Ba Kim cĩ lúc cũng tỉnh ra. Ơng viết: "Những người cho chúng tơi là nơ lệ, cầm roi da huơ huơ trước mặt chúng tơi, thật ra chúng chẳng cĩ cái quái gì hết! Chúng khơng biết ngày mai chúng sẽ ra sao nữa. Cĩ lẽ cĩ người thấy tơi nghĩ như thế cho là kỳ quặc. Thật ra cũng dễ lý giải thơi.
 Mấy mươi năm tơi viết sách làm văn, cuối cùng cịn cĩ được một chút "trí thức"; bây giờ thì tơi biết rõ vì sao "lũ bốn tên" hận thù "trí thức" làm vậy! Dù chỉ với một chút "trí thức", "mày" cũng cịn thấy được khe hở của "tao", huống chi là "phần tử trí thức", huống chi là kẻ cĩ văn hố!" (Mười Năm, Một Giấc Mộng). Cĩ coi mọi người dưới quyền cai trị của mình là nơ lệ thì mới cĩ tình trạng "Trương Xuân Kiều tuyên bố cơng khai khơng cho tơi sáng tác nữa", là Ba Kim hết được viết. Trương Xuân Kiều khơng cần phải là trí thức sáng suốt hơn, giỏi hơn Ba Kim. Trương Xuân Kiều chỉ cần là Đảng.
Ba Kim cịn ngần ngại, khơng dám nĩi thẳng điều ơng nghĩ. Bởi vì ơng vẫn cịn nằm trong vịng kiềm toả của chế độ. Ơng cịn sợ, nĩi thẳng ra là như thế. Nhưng đọc Tuỳ Tưởng Lục, ta chỉ cần thay "lũ bốn tên" bằng "chế độ hiện hành" là bức tranh xã hội mà ơng vẽ ra cĩ đủ màu sắc chân thực.
Những kẻ cầm quyền ở một xã hội như thế, bất kể ở nước nào, khơng chỉ sợ những "tư tưởng thù địch" hiện đại, mà cả những nhà tư tưởng cổ xưa. Hãy xem báo Tiền Phong, số ra ngày 16.8.1973 (tức là trong lúc Đại cách mạng văn hố vơ sản ở Trung Quốc cịn đang hồnh hành) với bài: "Quét sạch những tàn dư tệ hại của Khổng giáo". Bài báo viết: "... cần phải khẳng định dứt khốt rằng: lễ giáo phong kiến, đặc biệt là lễ giáo Khổng tử, khơng cĩ một chút nhân tố tích cực nào nữa ... Chúng chỉ là những xiềng xích những độc hại... Là thế hệ thanh niên của thời đại Hồ Chí Minh, chúng ta đang sống, chiến đấu, lao động, học tập vì độc lập tự do của Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội, chúng ta phải bảo vệ sự sáng tạo của chủ nghĩa Mác -- Lênin. Chính vì thế
 mà chúng ta khơng thể dung hồ được với khổng giáo cùng với hệ tư tưởng phản động và tư tưởng bảo thủ của nĩ. Vì sự nghiệp cách mạng, chúng ta phải kiên trì đấu tranh để quét sạch nĩ ra khỏi mọi lĩnh vực của đời sống xã hội như quét sạch những đống rác vậy". Nguyễn Thanh Dương, tổng biên tập báo, ký tên Thanh Bình, viết như thế. Khi cĩ người hỏi tại sao lại đánh cả Khổng giáo thì Nguyễn Thanh Dương trả lời: "Tơi viết theo chủ trương của trên (16). Tơi chỉ làm nhiệm vụ mở đầu, các báo và tạp chí khác đang được lệnh viết tiếp. Đây là một chiến dịch do trên chỉ đạo đấy ...".
"Trên" đây là Lê Duẩn, Lê Đức Thọ. "Trên" của "trên" là Quang Minh Nhật báo ở bên Tàu, tờ này đã ra một bài báo y hệt, sớm hơn tờ Tiền Phong ít ngày, báo chí Việt Nam coi bài báo ấy là huấn lệnh của Thiên tử. Với những người cầm quyền như thế, chỉ cĩ một tư tưởng được phép sống, được tồn quyền thống trị, là tư tưởng Mác-Lê, hay, lại nĩi cho đúng hơn, tư tưởng Mao Trạch Đơng, tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng Lê Duẩn, hoặc, lạy Chúa tơi, tư tưởng Nơng Đức Mạnh ...
Hai là, xã hội cộng sản là một xã hội trái tự nhiên. Bây giờ thì ai cũng biết rằng cái gọi là xã hội xã hội chủ nghĩa là một sản phẩm thuần tuý tư biện. Nĩ khơng phải là một xã hội tự nhiên thành. Nĩi nơm, là một xã hội bịa đặt. Kể ra nghe cái luận điểm rằng cái lồi người ngu tối kia trước chỉ biết cúi đầu chép sử, nay là lúc nĩ đứng dậy tự làm ra lịch sử cho mình, thì khối cái con ráy lắm. Khốn nỗi, tự nhiên cĩ quy luật của nĩ, khơng phải cứ muốn thế nào được thế ấy. Nước thì phải chảy xuơi. Thứ sản phẩm bịa đặt muốn tồn tại được phải nhờ vào dối trá. Thành thử trong cái xã hội đĩ kẻ cầm quyền phải thay đổi mọi khái niệm thơng thường vốn cĩ của lồi người, tạo ra một hệ khái niệm khác hẳn để biện minh cho việc làm của nĩ.
 Khơng thể lấy sự hiểu thơng thường vốn dĩ cĩ ở các xã hội thơng thường mà hiểu được người cầm quyền cái xã hội khơng giống ai ấy nĩi cái gì. Chẳng hạn, về tự do báo chí, theo cách hiểu của tổng bí thư Nơng Đức Mạnh là: "Báo chí viết gì, nĩi gì, thơng tin gì, bao giờ cũng phải vì lợi ích của cách mạng, của đất nước, của Đảng" (Nĩi tại Thơng tấn xã Việt Nam, tháng 6.2003). Tổng thư ký Hội nhà báo Việt Nam Vũ Văn Hiển trước đĩ cũng đã nhấn mạnh với các hội viên của ơng ta: "Nếu nĩi đến tự do báo chí ở Việt Nam thì cần hiểu đĩ là việc tự do hoạt động để phục vụ Đảng" (báo Nhân Dân, 20.6.2002). Những lời nĩi như thế ở các xã hội thơng thường chỉ cĩ thể là những lời nĩi mê nĩi sảng. Trong một xã hội chuyên chế những định chế của nĩ chỉ
 cịn cái tên là giống với những định chế của các xã hội khác, chứ chúng, hoặc rỗng