[Vacets-local-dc] [Lu Phuong: Chu nghia Mac va ...]

Hai Tran hai_v_tran at yahoo.com
Tue Jan 18 13:04:10 PST 2005


  
LỮ PHƯƠNG
CHỦ NGHĨA MARX VÀ
CÁCH MẠNG VÔ SẢN VIỆT NAM 

---------------------------------
Chương 3
Chủ Nghĩa Xã Hội Mácxít &
Chủ Nghĩa Xã Hội Hiện Thực 


Do chỉ là kết quả của một quá trình tư biện, khi đưa vào thực hành, chủ nghĩa Mác bị thực tế chứng thực là không tưởng, nên các xu hướng mácxít ra đời sau này đều phải liên tục lấy những thực tế mới nẩy sinh để giải thích lại, cũng vì vậy mà thay vì là cơ sở lý luận để thống nhất thì lại trở thành nhân tố chia rẽ, đối địch giữa các đảng cộng sản với nhau, trong phạm vi quốc gia lẫn quốc tế. Nhìn chung lại, chúng ta thấy có hai xu hướng chính yếu.

– Trước nhất là xu hướng xét lại hữu khuynh – biểu hiện rõ rệt nhất ở những nước quê hương của chủ nghĩa tư bản mà cũng là cái nôi của chủ nghĩa Mác. Ở những nơi này cuộc cách mạng vô sản đã không xảy ra như dự đoán, người ta đã phải giải thích lại học thuyết Mác theo chiều hướng cải lương: có thể giữ lại tất cả những kết luận của Mác về sự sụp đổ tất yếu của chủ nghĩa tư bản và vai trò của giai cấp vô sản trong việc hình thành xã hội tương lai, nhưng phải loại trừ khỏi chủ nghĩa Mác những khái niệm cách mạng bạo lực, chuyên chính vô sản và thay vào đó là đấu tranh nghị trường trong khuôn khổ luật pháp tư sản.

– Chủ trương trên đây đã bị những người mácxít “chính thống” cho là “phản bội”. Theo Lênin, cái cốt tủy của chủ nghĩa Mác vẫn là cách mạng bạo lực và chuyên chính vô sản chứ không phải là cái gì khác. Ý kiến này tưởng chừng như khá trung thành với Mác 1 , nhưng nếu xét về thực chất thì không hoàn toàn như vậy: khác với thứ chủ nghĩa xét lại hữu khuynh từ bỏ những gì không thể áp dụng của Mác vào những hoàn cảnh không thể áp dụng được, Lênin đã đi ngược lại bằng cách áp dụng cho kỳ được những mục tiêu của Mác vào những hoàn cảnh hoàn toàn xa lạ với những điều kiện thực tế đã làm nẩy sinh ra bản thân chủ nghĩa Mác. Đó chính là thứ chủ nghĩa xét lại tả khuynh. Đi sâu hơn vào chủ nghĩa xã hội hiện thực của Lênin chúng ta sẽ thấy rõ điều
 đó.
ĐIỀU KIỆN TIÊN QUYẾT
ĐỂ CUỘC CÁCH MẠNG NGA GỌI ĐƯỢC LÀ MÁCXÍT
1. Đặc điểm quan trọng nhất của cuộc cách mạng gọi là “vô sản” Nga vào năm 1917 là đã xảy ra trong một nước mà bản thân cuộc cách mạng ấy không có những tiền đề vật chất và những điều kiện chính trị tổng quát để gọi được là vô sản, trong đó quan trọng nhất là một nền sản xuất tư bản chủ nghĩa đã phát triển đến tột cùng. Lập luận mácxít chính thống cho rằng cuối cùng mà xét thì cuộc cách mạng ấy vẫn là kết quả của những mâu thuẫn nội tại của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa thế giới, lập luận ấy chỉ có thể hiểu được theo ý nghĩa gián tiếp: sau khi xoa dịu được những mâu thuẫn của thời kỳ tích luỹ ban đầu ở những nước tư bản, chủ nghĩa tư bản đã làm cho những mâu thuẫn ấy trở nên căng thẳng hơn ở những vùng mà nó muốn tạo ra
 theo “hình ảnh của nó” 2. Nói cách khác, trong khi làm dịu đi được cái tình thế cách mạng trực tiếp ở những trung tâm, chủ nghĩa tư bản lại tạo ra cái tình thế ấy ở những vùng ngoại vi; nó phóng chiếu vào tâm trí những con người ở vùng đất này một hình mẫu phát triển mới: hiện đại hóa xã hội theo con đường phi tư bản chủ nghĩa, lật đổ chế độ phong kiến, tiếp thu hoàn toàn văn minh phương Tây về kỹ thuật nhưng vượt qua về chế độ chính trị. Hiện tượng này, vào cuối đời mình, Mác đã cảm nhận được. Trong lời tựa Tuyên ngôn của Đảng cộng sản xuất bản bằng tiếng Nga năm 1882, Mác và Ăngghen đã viết:

“Tuyên ngôn cộng sản có nhiệm vụ tuyên bố sự diệt vong không tránh khỏi và sắp xảy ra của chế độ sở hữu tư sản. Nhưng ở Nga, bên cạnh sự hoạt động ráo riết của chủ nghĩa tư bản đang phát triển nhanh chóng và chế độ ruộng đất tư sản đang hình thành thì quá nửa số ruộng đất là sở hữu công cộng của nông dân. Bây giờ, thử hỏi công xã nông thôn Nga, cái hình thức đã bị phân giải ấy của chế độ công hữu ruộng đất nguyên thủy, có thể chuyển thẳng lên hình thức cao, cộng sản chủ nghĩa về sở hữu ruộng đất không, hay là trước hết, nó cũng phải trải qua quá trình tan rã như nó trải qua trong tiến trình lịch sử của phương Tây (...). Ngày nay, lời giải đáp duy nhất cho câu hỏi ấy là thế này: nếu cuộc cách mạng ở Nga báo hiệu một cuộc cách mạng ở
 phương Tây và nếu hai cuộc cách mạng ấy bổ sung cho nhau thì chế độ công cộng ruộng đất ở Nga hiện nay sẽ có thể là sự khởi điểm của một sự tiến triển cộng sản chủ nghĩa” 3 .

2. Việc Mác và Ăngghen hình dung ra cuộc cách mạng vô sản cho những nước chưa phát triển phải được lĩnh hội như một sự bổ sung trong phạm vi thực hành: cuộc cách mạng ấy có thể là sự báo hiệu cho cuộc cách mạng thế giới sắp xảy ra theo nghĩa là cuộc cách mạng mácxít đã đến độ chín muồi, nó chỉ là cuộc cách mạng thứ hai (ở những nước lạc hậu nghèo nàn) và phải được yểm trợ bằng cuộc cách mạng thứ nhất (ở những nước phát triển) thì mới hòa nhập được vào xu thế chung của thế giới để chuyển thẳng lên hình thái xã hội cao hơn điểm xuất phát của nó. Luận điểm của Mác và Ăngghen về hai cuộc cách mạng yểm trợ cho nhau như vậy là khá rõ rệt. Khi Lênin lãnh đạo cuộc cách mạng vô sản ở Nga, ông cũng đã dựa hoàn toàn vào luận điểm trên đây của
 Mác và Ăngghen. Không cần chờ đợi mà phải linh hoạt nắm lấy thời cơ thuận lợi tiến hành ngay việc lật đổ chính quyền – “dù chưa có những tiền đề kinh tế khách quan để thực hiện chủ nghĩa xã hội” 4 – để sau đó nương theo thời cơ ấy chuyển sang cách mạng vô sản, hy vọng thế giới sẽ nổ ra cuộc cách mạng thứ nhất qua đó sẽ giải quyết được những khó khăn do tình thế đặc biệt ở Nga tạo ra 5 .

3. Là người hiểu Mác, hiển nhiên Lênin không thể nào không nhận ra cái tình thế “ngược đời” 6 trong cuộc cách mạng mà ông đã khai sinh với những khó khăn hầu như không lường trước được 7 : không việc nào không phải làm đi làm lại, vì tất cả đều phải mò mẫm 8 , tất cả đều không thể tìm thấy trong cuốn sách nào cả 9 . Thật ra cũng có lúc Lênin đã đem những nguyên lý cộng sản của Mác ra áp dụng. Chẳng hạn như sau khi cách mạng vừa mới thành công, ông đã chủ trương ngay tức khắc xóa bỏ thị trường 10 , phân phối theo sản phẩm 11 , trao đổi bằng hiện vật giữa thành thị và nông thôn 12 , biến toàn bộ xã hội thành một guồng máy kế hoạch hóa duy nhất 13 , cho rằng có thể mở rộng sự quản lý nhà nước đến tất cả mọi người, không trừ một ai, làm cho quần
 chúng vừa trở thành là người lập pháp vừa là người hành pháp, vừa là quân đội toàn dân thay thế cho quân đội nhà nghề 14 – tất cả những chủ trương đó ông đều cho là “có thể thực hiện được”, là “khoa học” – kể cả cái khẩu hiệu “làm theo năng lực hưỡng theo nhu cầu” 15. Nhưng sau một thời gian, ông nhận ra ngay những tai hại cực kỳ nguy hiểm của những thí nghiệm mang tính sách vở đó. Chính sách Kinh tế Mới (NEP) năm 1921 đã ra đời trong tình thế đó: trong nước thì thỏa hiệp với trung nông, chấp nhận cho thương nhân được phục hồi và tự do kinh doanh; còn đối với tư bản nước ngoài thì chủ trương mở cửa buôn bán, trao đổi. Không ít đồng chí của Lênin đã gọi đó là sự “tiến hóa về phía tư bản chủ nghĩa” thì ông đáp lại rằng đó là sự
 “dọa dẫm” hoàn toàn “phi lý về mặt lý luận” 16 . Bởi vì thực chất của NEP đối với Lênin không phải là sự đầu hàng, là từ bỏ nguyên tắc mà chỉ là một bước lùi tạm thời – nhanh chóng và có trật tự – để những người cộng sản củng cố lại đội ngũ, chờ dịp mở lại những cuộc phản công. Chủ nghĩa tư bản được cho phục hồi vì vậy cũng chỉ là kết quả của một thứ “nghệ thuật thỏa hiệp” rất quen biết với cái tư duy lêninnít về chính trị: khi thắng kẻ thù không được thì phải biết “cống nạp” ngay cho nó để đừng mất tất cả 17 , khi đánh trực diện không thành công thì phải biết quay sang đánh bằng “bao vây”, đánh bằng “hầm hào” 18 . Sự chọn lựa mang ý nghĩa kinh tế đó vì thế cũng chính là một chọn lựa chính trị cụ thể: chủ
 nghĩa tư bản đó chỉ được phép hoạt động trong điều kiện bị kiểm soát hoàn toàn, bị khống chế hoàn toàn bằng luật pháp cách mạng, trong chiến lược cách mạng xã hội chủ nghĩa 19 .

4. Từ những kinh nghiệm trên đây, luận điểm về thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội của Lênin đã hình thành tương đối có hệ thống vào giai đoạn này. Điểm cốt yếu của luận điểm ấy là: trong một nước nghèo nàn lạc hậu, phải tìm ra những “mắt xích trung gian”, “những chiếc cầu nhỏ”, những “nửa quá khứ nửa tương lai” để đi lên chứ không thể nhảy vọt tức khắc. Luận điểm ấy, sau một thời gian rất ngắn, khoảng một năm trước khi Lênin mất, đã được ông phát triển thêm với những đề nghị khá táo bạo. Chẳng hạn nếu vào năm 1921, ông cho rằng “không nhất định phải coi chế độ độc quyền nhà nước là chế độ tốt nhất theo quan điểm xã hội chủ nghĩa” 20 thì năm 1923, khi nằm trên giường bệnh, ông đã đẩy suy nghĩ ấy đến chỗ “phải
 thừa nhận là quan điểm của chúng ta về chủ nghĩa xã hội đã thay đổi về căn bản” 21 . Ngoài việc chủ trương những loại sở hữu trung gian – đặc biệt chú trọng đến các hợp tác xã – coi đó là những hình thức có thể thay thế cho sở hữu nhà nước độc quyền về mặt kinh tế, ông cũng đã có những ý kiến khá mạnh mẽ về mặt chính trị. Thí dụ như vấn đề công đoàn: công đoàn theo ông không còn chỉ là cái “dây chuyền” để đảng quan hệ với quần chúng từ trên xuống dưới như ông đã quan niệm trước đây mà còn phải có cuộc sống độc lập với nhà nước – nó có thể dùng “áp lực”, kể cả quyền bãi công để chống lại những sai lầm và bệnh quan liêu của chính nhà nước của nó để tự bảo vệ và đồng thời bảo vệ nhà nước của nó 22 . Cấu trúc của
 nhà nước ấy cũng không còn nguyên vẹn là thứ nhà nước công nông như cũ: những Nepmen với tư cách là giai cấp tư sản sinh ra trong NEP cũng được thừa nhận như một thực tế để trong chừng mực nào đó có thể tham gia nhà nước công nông 23 . So với những gì mà ông đã quan niệm trước hoặc sau khi cách mạng thành công thì cái mà ông gọi là “bước lùi” ngày càng có vẻ được nới rộng thêm ra. Và mục tiêu về cái cõi đời mới mà Mác hình dung ra cho loài người, dần dà đối với Lênin dường như cũng càng ngày càng trở nên xa mờ.
ĐẢNG TIỀN PHONG VÀ
LÝ LUẬN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA “TỪ NGOÀI VÀO”
Tuy chứa đựng đầy những quanh co, nhưng chiến lược xây dựng chủ nghĩa xã hội của Lênin vẫn là một chọn lựa chính trị nhất quán: giả định những luận điểm của Mác về cách mạng vô sản là những “chân lý khách quan”, đúng đắn một cách đương nhiên cho cả thời kỳ chuyển tiếp từ hình thái xã hội cũ sang hình thái xã hội mới, nhưng trong thực hành thì lại chỉ nên coi đó như là một thứ “kim chỉ nam”, tùy theo tương quan lực lượng giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản mà đề ra những sách lược cụ thể, chứ không thể lúc nào, nơi nào cũng đem ra thực hiện như nhau. Sự tồn tại vững mạnh của một đảng chính trị, định nghĩa như “đội tiền phong” của giai cấp vô sản là yếu tố quyết định để lãnh đạo toàn bộ cuộc cách mạng mới này.

1. Xây dựng cơ sở lý luận cho “đội tiền phong” đó, Lênin đã giải quyết vấn đề gọi là sự sản sinh ra “ý thức cộng sản chủ nghĩa” của giai cấp vô sản – rất rắc rối và còn bỏ ngỏ trong cách lập luận của Mác – một cách hoàn toàn mới mẻ. Trong cuốn Làm gì ? (1902), Lênin đã lặp lại gần như hoàn toàn Kautsky và viết ra những dòng nổi tiếng sau đây:

“Lịch sử tất cả các nước chứng thực rằng chỉ do lực lượng độc của bản thân mình thôi thì giai cấp công nhân chỉ có thể đi đến ý thức công liên chủ nghĩa, tức là đi đến chỗ tin rằng phải đoàn kết lại thành hội liên hiệp, phải đấu tranh chống bọn chủ, phải đòi hỏi chính phủ ban hành những luật này hay luật khác cần thiết cho công nhân v.v... Còn học thuyết xã hội chủ nghĩa thì phát sinh ra từ các lý luận triết học, lịch sử, kinh tế, do những người có học thức trong các giai cấp hữu sản những trí thức xây dựng nên. Mác và Ăngghen, những người sáng lập ra chủ nghĩa xã hội khoa học hiện đại, do địa vị xã hội của các ông, nên chính bản thân các ông cũng thuộc lớp trí thức tư sản” 24 .

Với những nhận định như thế mọi việc đã trở nên đơn giản: ý thức chủ nghĩa xã hội “chỉ có thể là từ bên ngoài đưa vào”, chứ để tự nó, giai cấp công nhân không thể sản sinh ra được. Và cũng thực tế hơn: lý luận về chủ nghĩa xã hội là khoa học về sự phát triển khách quan của xã hội, lý luận này là do những tri thức tư sản đem đến cho giai cấp công nhân; chủ nghĩa xã hội hiện đại vì thế chính là kết quả của sự kết hợp giữa khoa học và cách mạng, giữa trí thức và công nhân trong đó những người nắm vững khoa học sẽ giữ vai trò lãnh đạo chứ không phải là ai khác. Đảng cộng sản vì thế trong thực tế sẽ cũng không còn phải là đảng của giai cấp vô sản như sự diễn giải một cách khó hiểu trong học thuyết của Mác mà chính xác sẽ là đảng
 của những người giác ngộ về chủ nghĩa xã hội, những người này không phải chỉ có nhiệm vụ giáo dục những phần tử phi vô sản mà ngay cả giai cấp vô sản để tất cả cùng “giác ngộ” ra sự cần thiết phải tập hợp dưới ngọn cờ của đảng để chiến đấu. Đây chính là một trong những điểm “sáng tạo” rất đặc biệt của Lênin đối với chủ nghĩa Mác.

3. Cùng với Mác, nó xác nhận trước tiên rằng cái ý thức hiện thực của giai cấp công nhân chỉ là ý thức tự phát, không thể tạo ra được cuộc cách mạng vô sản: mãi mãi nó vẫn còn thuộc về thế giới cũ, chìm đắm trong tình trạng tha hóa, chừng nào bản thân nó chưa trở thành ý thức tự giác, cách mạng. Chúng ta đều biết đối với Mác thì để đạt được tình trạng đó, giai cấp công nhân phải tự mình chuyển hóa (mặc dù ông không hề nói rõ cái cơ chế chuyển hóa đó như thế nào) và chỉ có sự chuyển hóa ấy mới làm cho cuộc cách mạng của công nhân trở thành cách mạng vô sản, và do đó chuyên chính vô sản trong thời kỳ quá độ mới mang được ý nghĩa là chuyên chính của giai cấp vô sản. Khi Lênin làm theo Kautsky cho rằng để tự nó giai cấp công nhân không thể sản sinh
 ra ý thức cách mạng thì điều đó chỉ có nghĩa rõ ràng là để tự nó, giai cấp công nhân không bao giờ có thể sản sinh ra ý thức cộng sản chủ nghĩa – cũng chẳng bao giờ có thể là “ý thức trung gian” được vì lẽ với quan điểm triết học về tính đảng của mình, Lênin cho rằng “nhân loại không tạo ra một hệ tư tưởng thứ ba nào cả” – cho nên ý thức công liên ấy chỉ có thể là “sự nấp bóng của giai cấp tư sản” thôi 25 .

Ý nghĩa thực tế của cách lập luận ấy là rất lớn: để tự nó, phong trào công nhân – dù đông đảo đến mấy đi nữa – tất yếu sẽ phụ thuộc vào ý thức hệ tư sản, bị giai cấp tư sản chi phối, mua chuộc, và do đó chỉ có thể làm công đoàn tay sai của tư sản; trái với một đảng cộng sản dù cấu tạo của nó rất ít những phần tử công nhân, nhưng bởi được trang bị bằng hệ tư tưởng chủ nghĩa xã hội khoa học mácxít, nên tính chất cách mạng và vô sản của nó cũng đích thực hơn, chân chính hơn. Chức năng lãnh đạo của đảng cộng sản cũng trở nên cụ thể: nhân danh cho khoa học, đảng phải dứt công nhân ra khỏi quỹ đạo của giai cấp tư sản để làm cho cuộc đấu tranh của họ trở thành cuộc đấu tranh cách mạng vô sản, còn ở nơi nào mà giai cấp công nhân quá
 ít hoặc quá yếu thì vai trò lãnh đạo của đảng lại càng quan trọng và cần thiết hơn cho phong trào cách mạng ở nơi đó gấp bội.

4. Nhận định trên đây của Lênin về đội tiền phong, so với quan niệm về đảng cách mạng của Mác, đã tỏ ra thiết thực hơn rất nhiều. Đặc biệt trong hoàn cảnh nước chậm phát triển như nước Nga “dã man” (chữ mà Lênin hay dùng) “lạc hậu hơn những nước lạc hậu nhất Tây Âu” 26 , một nước Nga tràn ngập những người tiểu sản xuất không biết gì về chủ nghĩa xã hội và cũng chẳng thích gì chủ nghĩa xã hội. Ngoài cái hoàn cảnh ấy ra, Lênin cũng thường nói đến cái hậu quả tiêu cực cho cách mạng Nga sau một thời kỳ “khẩn trương cao độ”; giai cấp vô sản đã bị “tổn thất rất nhiều vì đã mất tính giai cấp của mình” (do công nghiệp phá sản, công nhân thất nghiệp, về quê, hoặc đi buôn lậu ...) 27 . Đối với một nước Nga như vậy mà lại muốn hiện đại
 hóa nhanh chóng, và lại bằng con đường xã hội chủ nghĩa thì sự khó khăn còn nhiều hơn. Luận điểm đảng tiền phong với ý thức cách mạng tiên tiến của nó đã giúp Lênin giải quyết những khó khăn ấy một cách hợp lý: dùng cái tiên tiến thượng tầng đã có được bằng cách mạng để tạo ra cái hạ tầng tiên tiến tương xứng 28. Nói cách khác, dùng chính quyền cách mạng trang bị bằng chủ nghĩa Mác khoa học, tiến bộ, để tổ chức, giáo dục, động viên toàn dân (trong đó có cả giai cấp công nhân) xây dựng cơ sở kinh tế cho xã hội mới.

Để nhắc nhở mọi người về sự phức tạp của một sứ mệnh như vậy, Lênin đã nói rõ rằng một chế độ gọi là “cộng hòa xã hội chủ nghĩa xô viết” thực chất chỉ “có nghĩa là chính quyền quyết tâm thực hiện bước chuyển lên chủ nghĩa xã hội, chứ hoàn toàn không có nghĩa là thừa nhận chế độ kinh tế hiện nay là chế độ xã hội chủ nghĩa” 29 . Thật là minh bạch: đối với Mác, nếu chủ nghĩa xã hội là dấu chấm trên cái thân chữ i kinh tế do chủ nghĩa tư bản đã tạo ra thì đối với Lênin, chủ nghĩa xã hội chỉ là sự khởi đầu của cái dấu chấm lửng lơ, trơ trụi đó. Tiến lên chủ nghĩa xã hội không thông qua chủ nghĩa tư bản là như thế. Nghĩa là xuất phát từ một xã hội cổ truyền, nghèo nàn, lạc hậu, dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản, người
 ta phải làm ra tất cả trong một thời gian thật ngắn và với một mục tiêu thật vĩ đại: vượt qua chủ nghĩa tư bản về tất cả mọi mặt.
CHỦ NGHĨA TƯ BẢN NHÀ NƯỚC ĐỘC QUYỀN
VÀ MỘT HÌNH THỨC LAO ĐỘNG BỊ THA HOÁ MỚI
1. Qua những gì đã trình bày, chúng ta thấy chủ nghĩa xét lại tả khuynh của Lênin đã làm biến dạng chủ nghĩa xã hội lý thuyết của Mác một cách cực kỳ trầm trọng. Xa rời hoàn toàn những điều kiện do Mác đề ra, tuy mệnh danh là “vô sản” và tự cho là trung thành với những nguyên lý của Mác về chủ nghĩa xã hội nhưng thực chất của cuộc cách mạng tháng 10-1917 là một cuộc cách mạng phản mácxít hoàn toàn. Một số điểm quan trọng sau đây cần được lưu ý đặc biệt:

– Do không được bất cứ cuộc cách mạng vô sản nào ở những nước phương Tây nổ ra để yểm trợ, cuộc cách mạng Tháng Mười Nga không hề có được tính phổ quát, trái lại nó chỉ là một cuộc cách mạng địa phương, cục bộ, xuất hiện từ cái thế giới ngoại vi của chủ nghĩa tư bản: cái quốc tế do Lênin sáng tạo ra chỉ là sự tập hợp của đa số những quốc gia nghèo khổ, chậm phát triển.

– Khái niệm chuyên chính vô sản trong lý luận của Mác mà Lênin bao giờ cũng nhắc nhở rằng đó chính là hòn đá tảng của chủ nghĩa Mác và cho rằng ai mà rời bỏ khái niệm ấy cũng là xa rời chủ nghĩa Mác 30 trong thực tế chỉ là sự chuyên chính của những người tự cho mình là nắm được khoa học về sự phát triển của lịch sử, và như vậy là sự chuyên chính của môt lập trường, một thế giới quan do một thiểu số trí thức tạo ra. Thiếu hẳn thực chất mácxít (dù không tưởng), nội dung của khái niệm chuyên chính vô sản đó chỉ đơn thuần là sự chuyên chính của một ý thức hệ tự cho mình là vô sản – sự chuyên chính của một đảng phi mácxít.

– Cái mô hình xã hội được gọi là “chủ nghĩa xã hội” nhân danh Mác để xây dựng cũng đã rơi vào sự suy thoái như thế. Không thể tiến thẳng lên cái không thể tiến lên được, Lênin đã đề xuất những chiếc cầu trung gian mang tính chất lùi bước mà ông gọi là chủ “nghĩa tư bản nhà nước”, qua đó tìm động lực xây dựng cơ sở vật chất để chuyển hoá xã hội lên một hình thái xã hội-kinh tế cao hơn. Nhưng cũng do cái viễn cảnh ấy của hình thái kinh tế-xã hội cao hơn là không tưởng cho nên cái nấc thang mượn đường ấy mãi mãi chỉ là cái nấc thang nằm nguyên một chỗ.

2. Cái mô hình gọi là “chủ nghĩa xã hội hiện thực ” mà Liên xô đem ra xây dựng trong suốt hơn nửa thế kỷ tồn tại trong thực tế chỉ là “chủ nghĩa tư bản” mang nội dung lêninnít rất đặc biệt. Hãy nhớ lại những gì mà Lênin đã tổng kết được sau thời gian thực hiện NEP, chúng ta sẽ nhận thức rõ hơn điều này. Tuy vậy, xét cặn kẽ thì đó lại không phải điều thực sự quan trọng trong tư duy về chủ nghĩa xã hội của Lênin: những Nepmen mà ông cho phép hoạt động trở lại thực tế chỉ là loại hạng những nhà tư sản thương nghiệp và thủ công nghiệp cò con, bị kiểm soát gắt gao 31 , hoàn toàn không có chút khả năng nào để tạo ra những cơ sở vật chất “cho” chủ nghĩa xã hội cả – mục đích của NEP chủ yếu là nhân nhượng những trung nông, cho phép từng lớp
 sản xuất này tự do buôn bán để tháo gỡ bớt những căng thẳng về lương thực do chính sách “cộng sản thời chiến” tạo ra. Cái gọi là “tư bản nhà nước” đó thực tế chỉ là một thứ chủ nghĩa tư bản bị nhà nước quản lý chặt chẽ. Nó có được nhân nhượng cho tồn tại thì cũng chỉ đứng bên rìa của một thứ chủ nghĩa tư bản chiến lược có quy mô rộng lớn hơn nhiều, bề thế hơn nhiều và được Lênin nói đi nói lại nhiều lần với lòng khâm phục và thèm muốn không dứt: đó chính là chủ nghĩa tư bản nhà nước trorg lý luận của Ăngghen:

“Nhà nước hiện đại, không kể là dưới hình thức nào, về thực chất, vẫn là bộ máy tư bản chủ nghĩa, là nhà nước của những nhà tư bản, là nhà tư bản tập thể lý tưởng. Nhà nước ấy càng biến nhiều lực lượng sản xuất thành tài sản của nó bao nhiêu thì nó lại càng biến thành nhà tư bản tập thể thực sự bấy nhiêu và càng bóc lột nhiều công nhân bây nhiêu. Công nhân vẫn là những người công nhân làm thuê, những người vô sản. Quan hệ tư bản chủ nghĩa vẫn không bị thủ tiêu mà trái lại còn được đẩy tới chỗ tột cùng. Nhưng khi đã đạt tới chỗ tột cùng thì sẽ xảy ra cuộc đảo lộn. Sở hữu nhà nước về các lực lượng sản xuất không phải là cách giải quyết xung đột, nhưng nó đã ẩn dấu trong mình nó cái phương tiện hình thức, khả năng giải quyết
 cuộc xung đột ấy” 32 .

3. Ý nghĩa của khái niệm chủ nghĩa tư bản nhà nước ở đây là rất rõ ràng – đó chính là “sở hữu nhà nước về các lực lượng sản xuất”, kết quả cao nhất của tập trung trong cạnh tranh, tuy còn mang danh nghĩa tư nhân nhưng trong thực tế đã đạt tới hình thức tập thể hoá, xã hội hóa, công hữu hóa rồi. Muốn có chủ nghĩa xã hội, tất yếu cũng phải đi qua con đường tư bản nhà nước đó: những lời dạy bảo đó của Ăngghen, Lênin không bao giờ quên và đã lặp lại khá rành mạch:

“Chủ nghĩa xã hội không phải là cái gì khác hơn là một bước tiến tiếp liền ngay sau chế độ độc quyền tư bản chủ nghĩa của nhà nước” và chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước chính là “sự chuẩn bị vật chất đầy đủ nhất cho chủ nghĩa xã hội, là phòng chờ đi vào chủ nghĩa xã hội, là nấc thang lịch sử, mà giữa nó (nấc thang đó) với nấc thang được gọi là chủ nghĩa xã hội thì không có một nấc thang ở giữa nào cả” 33 . 

Chỉ có điều oái oăm là khi đi vào thực tế, mọi việc đã lại diễn ra theo chiều hướng hoàn toàn khác: thay vì theo Ăngghen làm cuộc “đảo lộn” vô sản để có ngay chủ nghĩa xã hội thì Lênin lại phải khởi đầu từ cuộc cách mạng vô sản trước – “nắm vững chuyên chính vô sản” như cách nói của những người cộng sản Việt Nam – xây dựng cho xong chủ nghĩa tư bản nhà nước độc quyền về kinh tế rồi thì mới tính đến chuyện chuyển lên chủ nghĩa xã hội. Nhưng như chúng ta đã biết, do viễn cảnh của sự chuyển hoá ấy là hoàn toàn không tưởng cho nên cái mô hình gọi là chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước theo định nghĩa của Ăngghen được Lênin vận dụng cũng chỉ là một thực thể không tưởng. Đó vẫn chỉ là kết quả của một quá trình tư biện mácxít: những
 mâu thuẫn cạnh tranh trong chủ nghĩa tư bản tự do đã được tối đa hoá để hình thành nên một thứ chủ nghĩa tư bản “tập thể lý tưởng” với cái lôgích đã được đẩy đến tận cùng của nó là không còn thị trường và cũng không còn cạnh tranh.

Là kết quả của tư duy tư biện, nó chỉ có ý nghĩa với bản thân nó, chứ không thể là chiếc cầu tiến lên chủ nghĩa xã hội như Lênin mong muốn. Lý luận lêninnít về chủ nghĩa xã hội ở đây đã mang tính chất không tưởng đến hai lần và do đó tác hại của nó đối với người lao động cũng đã tăng lên gấp hai lần: thực chất đó là một thứ chủ nghĩa tư bản nhà nước phi thị trường đặt dưới quyền thống trị của một quyền lực chính trị độc tài tuyệt đối. Không bị kềm chế bởi những định chế trung gian về thị trường (để định giá lao động), về luật pháp (bảo vệ những quyền căn bản của con người), về lao động (công nhân được lập nghiệp đoàn để đấu tranh) ... thứ chủ nghĩa tư bản mới này đã tự do phát triển hết tính chất dữ dội mà Mác đã mô
 tả về chủ nghĩa tư bản thế kỷ 19 – nó được quyền khai thác lao động thặng dư một cách vô độ mà không gặp phải bất cứ sự phản kháng nào, từ đó hoàn toàn tự do thực hiện chức năng đặc thù tư bản chủ nghĩa của nó là khai thác không thương tiếc lao động sống để làm phình ra một cách không giới hạn lao động chết. Sự “vận dụng” của Lênin về chủ nghĩa Mác vào thực tế nước Nga thật sự chỉ là việc mượn danh Mác để phục vụ cho nhu cầu khai thác lao động thặng dư để công nghiệp hoá. Vì thế, nếu việc xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội tương lai có nghĩa là xây dựng chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước thì chuyên chính vô sản ở đây cũng chỉ có nghĩa là cưỡng bức giai cấp vô sản phải lao động “quên mình” cho thứ chủ nghĩa tư
 bản nhà nước mệnh danh chủ nghĩa xã hội ấy.

4. Sự tha hoá lao động mà Mác mô tả trong chủ nghĩa tư bản ở đây đã được lập lại ở quy mô lớn hơn nhiều lần. Có điều khác là sự tha hóa trong chủ nghĩa tư bản nhà nước kiểu lêninnít, do không còn phải thông qua những định chế trung gian đặt nền trên phương thức sản xuất hàng hóa như trong chủ nghĩa tư bản cổ điển, nên đã trở thành sự tha hóa của con người trực tiếp với những ý tưởng của mình. Nói cách khác, nếu trong chủ nghĩa tư bản cổ điển, con người đánh mất bản thân trong hàng hóa và những cơ chế xã hội xây dựng trên trao đổi hàng hóa thì trong chủ nghĩa tư bản nhà nước lêninnít, con người đã đánh mất bản thân chính trong những ý tưởng giải phóng con người khỏi nền sản xuất hàng hóa. Và đó cũng là tình trạng con người đánh mất bản thân
 trong những ý tưởng được coi là đi giải phóng con người. Lý thuyết mácxít về giải phóng lao động ở đây đã bị đảo ngược: nó trở thành một thứ ý thức hệ không phải chỉ để những người tổ chức sản xuất huyễn hoặc những người lao động mà cũng còn là cái để chính những người lao động đưa mình vào một “mai sau” mờ mịt. Nó tạo ra cái ảo ảnh đã được lý tưởng hóa về một hiện thực trần trụi, nghèo nàn, làm cho con người tưởng rằng qua đó có thể tìm thấy hạnh phúc thật sự. Sự tha hóa tinh thần ấy không khác gì sự tha hóa mang tính chất tôn giáo mà Mác đã tố cáo. Nhưng đó không phải là thứ tôn giáo siêu việt hứa hẹn cho con người một đời sau tuyệt đối mà chỉ là một tổ chức chính trị trần tục, tầm thường được tôn lên thành cái tuyệt
 đối đó.

Có lẽ không có nơi nào phản ánh điều đó một cách rõ rệt bằng nơi cái tâm thực của những lãnh tụ đảng: lúc nào cũng hả hê, hồ hởi tính chuyện giải phóng thế giới, cải tạo con người ... Thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa một đất nước để thoát khỏi chậm tiến, lạc hậu, công việc phải làm của bất cứ dân tộc nào muốn đi vào thế giới hiện đại – cực kỳ khó khăn và không có gì bảo đảm thành công – công việc đó lại được tô vẽ thành một thứ hành động cao cả tột độ: thực hiện hạnh phúc cho “muôn đời con cháu mai sau”. “Cách mạng” vốn là hành vi bất thường cực chẳng đã phải xảy ra trong những tình thế mà con người không còn cách nào khác để nói chuyện với nhau ngoài cách rút gươm ra thì lại được thần bí hóa thành một trạng thái
 “thường trực” đằng đẵng suốt cả một thời kỳ gọi là “quá độ tiến lên”, không biết bao giờ mới dứt, không biết bao giờ mới xong. Còn giai cấp công nhân vốn chỉ là những người lao động trong các quy trình sản xuất hiện đại, lo cho bản thân chưa xong, thì lại bị biến thành một thực thể thần thoại, tập trung được tất cả những đức tính cao thượng nhất, tiến bộ nhất của “người giải phóng xã hội”, không phải chỉ đấu tranh để tồn tại mà còn có nhiệm vụ đi cứu vớt loài người khỏi đại hoạ tư sản nữa.

5. Để giữ cho khí thế cách mạng không bao giờ bị nguội lạnh, ngoài việc tâng bốc cái thực tại xã hội mới “do đảng lãnh đạo” tạo ra, người ta cũng không ngớt khuấy động tâm lý của đám đông bằng đủ loại kẻ thù lúc nào cũng tìm mọi cách rình rập phá hoại “hạnh phúc của nhân dân”. Những kẻ thù như vậy chỗ nào cũng có, lĩnh vực nào cũng có, (kể cả tiềm ẩn trong đời sống nội tâm của mỗi người) vì thế lúc nào cũng phải nghe theo lời đảng, thường xuyên mở ra những chiến dịch học tập, cảnh giác, vạch mặt, tố cáo ... Mặc dù theo Mác để đề cao hết mực tính lịch sử, nhưng điều đó chỉ có tác dụng phủ định những hình thái kinh tế đã qua, không quan hệ gì đến chế độ mới: chế độ này vĩnh viễn sẽ không còn có gì thay thế được nữa. Đọc
 những thứ sách báo do những nhà lý luận chính thống viết ra để gọi là “đập tan” những “âm mưu phá hoại tư tưởng” của kẻ thù, bảo vệ sự “trong sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin”, người ta không bao giờ có thể tìm thấy gì hơn là những khẳng định ồn ào như vậy. Không cần đi sâu vào thực chất của vấn đề, phân tích lý do làm xuất hiện những luận điểm phản bác của người khác nhưng chỉ biết so với những gì mà Mác, Ăngghen và Lênin đã nói, sau đó thấy không phù hợp thì lập tức kết tội. Cái mà người ta gào thét không ngớt về tính “khoa học” trong phương pháp luận “mácxít-lêninít” rút lại chẳng có gì gọi được là phương pháp trong tranh luận, nó không hề có mục đích cọ xát, đối thoại với những xu hướng khác để tìm ra chân lý mà chỉ là sự
 ngạo mạn được đẩy đến tận cùng: đương nhiên coi mình là thánh thiện, là khoa học, là chính nghĩa, là tiến bộ, là lòng dạ trong sáng, là mục đích không có gì hơn là “đem hạnh phúc cho nhân dân” v.v... rồi sau đó ném tứ tung ra bốn phương những cái nhãn như “vu cáo”, “bôi nhọ”, “xuyên tạc”, “xét lại”, “phản động” v.v... coi đó như những tấm lá chắn có thể bảo vệ được cho sự an toàn của mình. Sự tha hóa của ý thức ở đây đạt tới gần cái biên giới tột độ của nó là sự cuồng ngạo phi lý tính của những người hoang tưởng 34 .
THẢM KỊCH TRÍ THỨC ?
1. Có lẽ từ bản chất sâu thẳm của nó, chủ nghĩa xã hội mácxít không phải là băn khoăn của những người công nhân, những người lao động mà chỉ là vấn đề của những người trí thức. Có thể Mác và Ăngghen chưa hẳn đã thừa nhận điều đó, mặc dù trong lập luận của mình các ông chỉ muốn thông qua sự giải phóng giai cấp vô sản để thực hiện những ý tưởng triết học và tư biện về lịch sử. Nhưng đối với Lênin thì có lẽ mọi sự dường như không còn mơ hồ nữa. Đối với ông, chủ nghĩa xã hội không có ý nghĩa gì hơn là khoa học mácxít được đem ra thực hiện bởi một đảng chính trị mácxít: muốn gia nhập đảng chính trị ấy, những người công nhân, cũng như tất cả những thành phần khác (nông dân, trí thức, tiểu tư sản...) đều phải được cải tạo và đặt
 mình hoàn toàn dưới sá»± lãnh đạo cá»§a đường lối mácxít hiện thân ở đảng cá»™ng sản. Đảng cá»™ng sản vì thế, xét trên thá»±c tế, cÅ©ng giống như tất cả bất cứ những đảng phái nào khác, không đại biểu cho ai ngoài cái học thuyết dùng làm cÆ¡ sở tinh thần để liên kết những thành phần tạo nên nó. Đại biểu cho dân tá»™c, cho giai cấp, cho lịch sá»­ cÅ©ng chỉ là những ý tưởng cấu tá&