[Vacets-local-dc] [Nguyen Manh Tuong va nhung Truong Vu thoi dai]

Hai Tran hai_v_tran at yahoo.com
Tue Jan 4 12:25:02 PST 2005


VNNB, 1/1/05

Minh Võ

Đôi lời của tác giả:

Gần đây cuốn Nếu Đi Hết Biển của Trần Văn Thủy,
một nhà đạo diễn CS ở trong nước được tổ chức
William Joiner Center của trường đại học Massachusett mời
sang để viết về một số tác giả người Việt hải
ngoại, trong đó có nhà trí thức trẻ tiến sĩ Trương Vũ
đã là đầu đề của nhiều bài viết chỉ trích những
nhà trí thức trẻ thời nay hãy còn u mê không hiểu biết
gì về những mưu mô thâm độc và hành động tàn ác của
CS. Sự kiện này nhắc chúng tôi nhớ lại cách đây trên
nửa thế kỷ phần lớn những nhà trí thức và cả những
nhà cách mạng lão thành và giám mục VN cũng đã bị lầm
mà ủng hô. Việt Minh Cộng Sản trong một thời gian, hoặc
lâu hơn nữa. Chúng tôi chỉ nêu một vài trí thức tên
tuổi đã được nhiều người biết nhất: Trước hết
là luật sư Nguyễn Mạnh Tường, tiến sĩ luật, tiến sĩ
văn chương Pháp, tiếp đến là nhà triết học Trần Đức
Thảo, giáo sư thạc sĩ tốt nghiệp trường Cao Đẳng sư
phạm Paris (École Normale Supérieure de Paris), và một số trí
thức khác như Dương Đức Hiền, Nguyễn Bách Khoa, Phan
Khôi, Nguyễn Xiển, Nghiêm Xuân Yêm, Phan Anh, Trịnh Đình
Thảo, Dương Quỳnh Hoạ...
Trong số những nhà ái quốc, nhà cách mạng nổi tiếng bi.
lừa mà đứng chung với Việt Minh trong chính phu? Liên
Hiệp do Hồ Chí Minh lãnh đạo tôi cũng chỉ nêu một số
tên đã được nhiều người biết nhất: Huỳnh Thúc
Kháng, Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam (tức nhà văn
Nhất Linh), Vũ Hồng Khanh, một lãnh tu. VN Quốc Dân Đảng
đã bị lừa để cùng ký vào bản hiệp ước sơ bộ 6- 3-
1946 bên cạnh chữ ký của Hồ Chí Minh....
Khi nghe một số nhà báo tên tuổi vào bậc nhất như VIP
KK, Sức Mấy, Công Tư? Hà Đông... nặng lời với tiến
sĩ Trương Vũ, thoạt mới "nghe" thì quả tình "đã con ráy"
lắm. Nhưng sau nghĩ lại thấy tội nghiệp cho những
người như Trương Vũ. Họ là những người không có kinh
nghiệm về CS. Sang Mỹ từ nhỏ, hoặc sinh ra tại Mỹ, lớn
lên, vào các trường đại học Mỹ thấy nhan nhản sách báo
toàn nói hay nói tốt về CS, và ca tụng Hồ Chí Minh là
nhà ái quốc, là anh hùng dân tộc, là "Cha Già Dân Tộc".
Còn một số nhà lãnh đạo miền Nam VN trước đây thì
lại bị chính một số tác giả, nhà báo ở hải ngoại, vì
những lý do khó hiểu, không ngừng bêu riếu. Trong tình
hình đó, trừ phi có thì giờ và cơ hội để nghiên cứu
nghiêm chỉnh cặn kẽ — mà khốn nỗi thì giờ của họ đã
được dành hầu hết cho việc nghiên cứu chuyên môn, nên
mới có thể lấy bằng, thậm chí nhiều bằng tiến sĩ
về khoa học— họ bị lầm là điều dễ hiểu và cần phải
thông cảm cho họ. 
Cuốn Phản Tỉnh Phản Kháng Thực Hay Hư của Minh Võ, khi
mới ra đưọc nhiều người tán thưởng. Nhưng cũng bi.
một số người chê là "cóc hiểu gì về mưu mô của CS
cả", vì họ thấy Minh Võ "quá hiền", đi bênh "con mụ"
Dương Thu Hương v.v... 
Hôm nay, nhân có vu. Nếu Đi Hết Biển với ....Trương Vũ,
tôi xin giới thiệu với độc giả một chương trong cuốn
sách nói trên viết về hoàn cảnh bi đát không thể nào
tưởng tượng nổi của một nhà đại trí thức trên nửa
thế kỷ trước để những nhà trí thức trẻ thời nay
đọc mà ngẫm nghĩ, để khỏi còn bị lừa bởi luận
điệu của CS như các bậc tiền bối, và như một số
lớn các tác giả ngoại quốc, trong số đó, đa số là các
học giả, sử gia Mỹ, mà giới trẻ thường tiếp xúc hàng
ngày tại các trường học. Trường hợp luật sư Nguyễn
Mạnh Tường ở đây, chỉ là một trong số 60 trường hợp
mà chúng tôi đã nêu lên trong cuốn Phản Tỉnh Phản Kháng
nói trên. Nếu bạn đọc hưởng ứng, chúng tôi sẽ cho in
lại ở một trường hợp khác chương viết về Trần
Đức Thảo. Hai chương sách này đã làm cho một giáo sư
người Việt tại trường đại học Harvard của Mỹ hết sức
cảm động. Có lẽ vì ông cảm thấy chính ông cũng đã
từng bị lầm, bị lừa. Mong rằng những Nguyễn Mạnh
Tường thời nay như Trương Vũ cũng sẽ có dịp đọc 2
chương sách này của Minh Võ trong cuốn Phản Tỉnh Phản
Kháng Thực Hay Hư vừa tái bản. 
Nguyễn Mạnh Tường
"Tất cả những gì đảng làm đều diễn ra trong bí mật
tuyệt đối, như Mafia" (1)
"Kẻ bị vạ tuyệt thông"
"Ke? Bi. Va. Tuyệt Thông" (Un Excommunié) là nhan đề cuốn
hồi ký của luật sư Nguyễn Mạnh Tường viết bằng Pháp
văn, được nhà Xuất Bản Quê Mẹ của ông Võ Văn Ái tại
Paris phát hành cách đây bảy năm, đánh dấu mấy năm
cuối cùng cuộc đời của một trong những đại trí thức
đã sống trọn đời trong hất hủi tủi nhục với chính
quyền cộng sản VN. 
Nguyễn Mạnh Tường sinh ngày 16-9-1909 tại Hà-nội, trong
một gia đình giầu có. Là học sinh xuất sắc của trường
Albert Sarraut của Pháp, ông đậu tú tài 2, năm 18 tuổi,
rồi được học bổng qua Pháp học tại trường đại học
Montpellier. Chỉ trong 4 năm ông đã đậu một lúc hai bằng
tiến sĩ văn và luật, khi mới có 22 tuổi. Trong thời gian
du học ơ? Pháp, ông thường có dịp lui tới với những
người yêu nước lúc đó như Phan Văn Trường và Nguyễn
Thế Truyền, Nguyễn An Ninh. Về nước ông dạy học một
thời gian rồi chuyển sang làm luật sư. Lúc ấy còn là
thời Pháp thuộc. Cũng như Trịnh Đình Thảo ở miền Nam,
sau này đi theo Mặt Trận Giải Phóng miền Nam, Nguyễn Mạnh
Tường rất được người Pháp nể phục về tài hùng
biện trong các cuộc biện hộ trước tòa án thuộc địa.
Nhiều khi ông cãi miễn phí cho những tội phạm chính trị.
Ông đi theo Việt Minh rất sớm, ngay từ 1942. Khi việc
thương lượng với Pháp thất bại, năm 1946 chính phu? Hồ
Chí Minh ra bưng kháng chiến, Nguyễn Mạnh Tường cũng đi
theo. Nhưng vì xuất thân từ thành phần phi vô sản, lại
chịu ảnh hưởng sâu đậm của văn hóa tư sản, nên ông
không được trọng dụng. Khi Hồ Chí Minh thành lập chính
phủ liên hiệp năm 1945 người ta thấy có những người
như Nguyễn Hữu Đang, Nguyễn Văn Huyên, Hoàng Minh Giám,
Ta. Quang Bửu, Trần Đăng Khoa… mà không thấy tên Nguyễn
Mạnh Tường ai cũng lấy làm lạ. Nhưng không phải vì vậy
mà ông tỏ dấu hiệu gì bất mãn. 
Dầu sao thì hai cái bằng tiến sĩ Pháp của Nguyễn Mạnh
Tường cũng khiến ông Hồ đặt ông phụ tá cho Võ Nguyên
Giáp trong hội nghi. Đà Lạt năm 1946 để đàm phán với
Pháp. Hội nghị đã đi đến thất bại và cho ông cái kinh
nghiệm bản thân với chủ trương giáo điều, thiển cận
của các nhà lãnh đạo cộng sản. Lập trường ngoại giao
mền dẻo của ông trong vấn đề thương lượng với phái
đoàn Pháp bị lãnh đạo Hà-nội phê phán là "sơ. Pháp".
Trong kháng chiến ông được cử làm "thày cãi" tại tòa
án khu 3 (Thanh Hóa). Vì giữ lập trường tư pháp độc
lập, nên ông lại bị chuyển sang ngành giáo dục, giữ vai
giảng viên, phục vụ tại "đại học dự bị", do Trần Văn
Giầu, một trí thức cộng sản miền Nam thất sủng làm
giám đốc.
Mặc dù không được trọng dụng, lại còn bị hiểu lầm,
bạc đãi, Nguyễn Mạnh Tường vẫn một lòng cúc cung phục
vụ kháng chiến, vì ông đã trót theo kháng chiến và nghĩ
rằng kháng chiến có chính nghĩa, có công trong việc đánh
bại thực dân Pháp. Ông còn hăng hái vận động nhiều
trí thức khác ủng hô. Việt Minh nữa. 
Ngày 10-10-1954, khi chính phu? Hồ Chí Minh, theo hiệp định
Genève qui định, vào tiếp thu Hà-nội, Nguyễn Mạnh Tường
cũng từ khu 3 về thành phố này là nơi chôn nhau cắt
rốn của ông.
Cho mãi đến sau "CCRĐ" ông mới nhìn thấu bản chất của
đảng và chế độ. Nhân chính sách sửa sai ban bố sau
đó, ông đã đọc một bài tham luận dài tại phiên họp
của Mặt Trận Tô? Quốc ngày 30-10-1956, hùng hồn phê phán
những sai lầm của đảng. Một tuần sau người đọc thấy
bài tham luận trên được đăng trên tờ báo Nhân Văn
tháng 11 năm 1956. Và không biết bằng cách nào nó cũng
lọt được ra nước ngoài. Thế là ông bị qui kết là đi
theo nhóm Nguyễn Hữu Đang, Trần Dần, những người
đứng đầu phong trào chống đảng lúc ấy, mặc dù ho.
chỉ phê phán những sai lầm hay quá trớn của một số cán
bộ, chứ thực ra cũng chẳng dám ngang nhiên chống đối
nào. Trường Chinh, nguyên tổng bí thư đảng Lao Động,
trưởng ban cải cách ruộng đất, người trực tiếp chịu
trách nhiệm về những sai lầm trong CCRĐ, liền coi Nguyễn
Mạnh Tường là kẻ thù. Ông ta sai Lê Đức Thọ mở chiến
dịch triệt hạ uy tín và trừng phạt ông cùng với một
số trí thức khác cũng có xu hướng phê bình đảng như
Trần Đức Thảo, Phan Khôi, Trương Tửu (Nguyễn Bách Khoa),
Nguyễn Hữu Đang…
Vì không biết để đề phòng, Nguyễn Mạnh Tường đã
nói mạnh hơn nữa tại buổi sinh hoạt do đảng Dân Chủ tô?
chức tại câu lạc bô. Đoàn Kết. Ông kêu gọi giới trí
thức hướng dẫn quần chúng dấn thân vào công cuộc
tranh đấu cho tự do dân chủ. Kêu gọi tranh đấu cho tự do
dân chủ chính là kêu gọi chống đảng và chế độ. Vì
chế độ là chế độ chuyên chính, tức độc tài, từ
định nghĩa của đảng, từ chủ trương của Mác. Có nghĩa
là Nguyễn Mạnh Tường đã phạm pháp quả tang. Vì đang
trong thời kỳ sửa sai, nên bộ chính trị không dám đê?
cho đám Lê Đức Thọ và Trần Quốc Hoàn, lúc ấy là bô.
trưởng nội vụ (Công An?) bắt giam những người có tên
trong danh sách những người trong nhóm Nhân Văn - Giai
Phẩm, mà chúng cho rằng Nguyễn Mạnh Tường là một tay
thủ lãnh. Tuy nhiên gần 200 người đã phải chịu những
biện pháp trừng trị bí mật không theo một án lệnh hay
văn bản nàọ (2) Trong dịp này Nguyễn Mạnh Tường đã bi.
đi cải tạo lao động. Cho đến 1960 mới được cho về
nhà, chịu sự quản chế. 
Năm 1964 Phạm Văn Đồng có ý định cư? Nguyễn Mạnh
Tường làm phó chủ nhiệm ủy ban khoa học xã hội, dưới
quyền Nguyễn Khánh Toàn. Nhưng ông không nhận. Từ đó
cho đến cuối đời ông sống ẩn dật, cô quạnh trong
cảnh túng thiếu chật vật cho đến khi mất. Có lúc ông
đã phải bán sách quý cho người ta gói hàng để có tiền
mua gạo. Và cũng có lúc phải đốt bản thảo thay củi. Tuy
nhiên ông đã dồn sức tàn hơi kiệt vào tác phẩm "Un
Excommunié" để nói lên những điều sai lầm, tội ác và
những hành động quái dị của cái gọi là chế độ xã
hội chủ nghĩa ơ? VN. Ông mất tại nhà riêng ơ? Hà-nội,
vì bị tai biến mạch máu não, ngày 13-6-1997, thọ 88 tuổi.
Một vài điểm nổi bật trong bài tham luận của Nguyễn
Mạnh Tường đọc ngày 30-10-1956:
Trong cuốn "Trăm Hoa Đua Nơ? Trên Đất Bắc" của Hoàng Văn
Chí, Văn Hóa xuất bản tại Saigon năm 1959, từ trang 293
(phần phụ lục) có đăng nguyên văn bài tham luận này dài
ba chục trang. Diễn giả nêu lên 4 điểm chính: 
A. Vấn đề pháp lý trong cải cách ruộng đất. 
B. Các nguyên nhân sai lầm. 
C. Bất chấp chuyên môn. 
D. Phương hướng sửa chữa các sai lầm.
Ngay trong đoạn mở đầu Nguyễn Mạnh Tường đã thẳng
thắn chỉ ra rằng: "…theo ý tôi các sai lầm (trong CCRĐ, MV)
chỉ là biểu hiện điển hình và bi đát nhất của những
thiếu sót trong sự lãnh đạo của đảng Lao Động. Do đó
tôi xin phép được góp ý kiến xây dựng quan điểm lãnh
đạo của đảng Lao Động."
Cũng trong đoạn mở đầu Nguyễn Mạnh Tường đã làm một
cuộc so sánh có mãnh lực dìm chế đô. Hà-nội xuống
đất đen: 
"Lắng nghe dư luận đồng bào Hà-nội thôi ta được
biết rằng có ít ra một doanh nghiệp quốc gia lãng phí
bao nhiêu triệu trong khi dưới chế đô. Pháp thuộc cũng
doanh nghiệp ấy mang lại cho thực dân đế quốc những
số lãi khổng lồ." …"Về hộ khẩu thì cán bộ tỏ ve?
không phải là gìn giữ an ninh trật tự, phá vỡ cơ sơ?
của địch, trái lại quấy nhiễu nhân dân, tạo ra một
đời sống thành thị điêu đứng cho tất cả."
Thêm một tiếng nói nữa về đời sống cán bộ tập
kết: 
"Ta quên thế nào được các đồng bào tập kết ra ngoài
Bắc, số phận con cái của họ ơ? Hà-nội, Hải Phòng, số
phận của chính họ, bi đát quá nỗỉ "
Về điểm A, tác giả so sánh hai khẩu hiệu một bên của
chế độ, một bên của pháp lý: 
"Khi đưa ra khẩu hiệu: "Thà chết mười người oan còn
hơn để sót một địch", thì khẩu hiệu này chẳng những
quá tả một cách vô lý mà còn phản lại cách mạng là
đàng khác nũa….Khẩu hiệu của pháp lý thì khác hẳn:
"Thà 10 địch sót còn hơn một người bị kết án oan."
Về điểm B. Những nguyên nhân sai lầm, ông viết: 
"Sở dĩ ta không để ý đến giải pháp pháp lý là vì có
3 lý do: 
1. Quan điểm ta, địch, thù, bạn rất mơ hồ. 
1. Ta bất chấp pháp luật, lấy chính trị lấn áp pháp
lý. 
2. Ta bất chấp chuyên môn".
Sau đây là vài đoạn trong chuyện cộng sản bất chấp
chuyên môn:
"…Trong 10 năm qua ta thấy một tình trạng quái gở. Chính
trị ám ảnh đầu óc chúng ta đến nỗi hai chữ "lập
trường" làm ta mất ăn mất ngủ. Nếu dùng một hình ảnh
duy tâm, tôi ví lập trường như cái oan hồn theo đuổi
ngày đêm kẻ nào đã hãm hại chủ nó…"
"Dầu sao ơ? VN chúng ta đã xảy ra những việc như sau
đây, ta cần ghi lại để con cháu ta cười muôn thuở: Khi
chọn một người vặn lái ô tô, ta không hỏi người ấy
có bằng vặn lái bao năm, ta chỉ hỏi: "có lập trường
không?" Kết quả là: từ hai năm nay, riêng trong thủ đô
Hà-nội, hàng trăm tai nạn xảy ra, do các người vặn lái
ô tô có lập trường mà không nắm chuyên môn. Khi đưa
tới bệnh viện, một bệnh nhân cấp cứu, vấn đề mang
ra thảo luận trước tiên là: "bệnh nhân thành phần giai
cấp nào? Chữa cho địa chủ thì "mất lập trường". Đê?
nó chết mới chứng minh mình có lập trường" (hiện
tượng do bác sĩ Nguyễn Xuân Nguyên đưa ra). Tại sao có
những hiện tượng quái gở như vậy? Là vì chính tri.
chiếm đóng, tất cả các khu vực trong nhận thức của
chúng ta, làm chúng ta mất cả cái nhân đạo tối thiểu
của con người, làm chúng ta khước từ cả chân lý, chân
lý cho chúng ta biết rằng chính trị không thể nào thay
thế cho chuyên môn, không làm được việc của chuyên
môn."
Về điểm D, phương hướng sửa chữa sai lầm, Nguyễn
Mạnh Tường đề nghi. 
1. Một chế độ pháp trị chân chính. 
2. Một chế độ thực sự dân chủ. Cho các đoàn thê?
nhân dân được quyền nói lên ý kiến của quần chúng mà
họ tập họp. Và cuối cùng là một chế độ tự do ngôn
luận, tự do xuất bản báo chí.
Trong tham luận này Nguyễn Mạnh Tường cũng có nói đến
hiện tượng sau đại hội 3 của đảng Lao Động, có rất
nhiều đồng bào muốn bỏ miền Bắc vào Nam. 
"Nếu chính thể của ta tốt tại sao lại có người dụng ý
xa lánh với trong lòng nỗi đau khổ bi đát? Nếu cách
mạng mang lại ánh sáng và hạnh phúc, sao lại có người lo
ngại trước cách mạng, đau đớn vì cách mạng?"…
Xem ra Nguyễn Mạnh Tường cũng tán thành chủ trương của
Khrutshchev, khi ông nói: 
"Nếu không có quyết nghị của đại hội lần thứ 20 của
đảng cộng sản Liên Xô, nếu không có những sai lầm cực
kỳ tai hại trong CCRĐ, ta chưa mở mắt được, ta sẽ còn
thấy bao nhiêu máu oan chảy thành suối, thành sông, bao
nhiêu người kính yêu cách mạng mà vẫn đau xót rời bo?
cách mạng. Tuy ta phải trả giá quá cao, nhưng bây giờ ta
biết rõ nguyên do của các đau khổ của ta: ta thiếu dân
chá»§."
Về tác phẩm "kẻ bị vạ tuyệt thông" 
Tác phẩm này ông viết bằng tiếng Pháp (3), gồm có ba
phần chính tổng số 340 trang. Hoàn tất năm 1991. Thoạt
tiên ông tính khoan đưa in, nhưng khi bắt liên lạc được
với ông Võ Văn Ái ở bên Pháp thì ông đánh liều nhờ
người gửi sang Paris và ủy quyền cho nhà xb Quê Mẹ in.
Ông viết cho ông Ái: 
"Tôi chờ đợi điều tệ hại nhất đến với tôi, tuy
vẫn mong là nó không tới. Nhưng nếu người ta đẩy sư.
dã man đến độ dành cho tôi cùng sự đối xử như các
nhà trí thức khác từng bị cáo buộc là nói xấu chế
độ, thì tôi sẽ vững vàng đón nhận những thử thách
mà tôi biết sẽ cam go lắm. Tôi đã quyết định, nếu
điều đó cuối cùng xảy ra, thì tôi sẽ tuyệt thực tới
chết. Ở tuổi 84 này tôi đã trải qua cái tốt nhất và
cái xấu nhất của cuộc đời, và tôi không cảm thấy
nuối tiếc phải lìa bỏ cõi đời, vì suốt cuộc đời
tôi, tôi đã chu toàn bổn phận của một trí thức trước
nhân dân và trước lịch sử. "
Trong cuốn hồi ký này, ngoài phần nói về việc chính
quyền miền Bắc tiếp thu Hà-nội năm 1954, ông đã nhắc
lại vu. CCRĐ, vu. Nhân Văn Giai Phẩm. Ông cũng thuật lại
những cuộc tranh luận của ông với các cán bộ đảng
trong mặt trận tổ quốc. Nhất là tình trạng bị cô lập
cực khổ tủi nhục của ông trong những năm bị canh chừng
theo dõi. Sau đây là một vài đoạn trích từ hai phần
cuối:
"Người ta thường giặt quần áo dơ trong nhà và vì có
quá nhiều quần áo dơ xem ra ngày nào cũng phải giặt, nên
người ta đã cảm thấy cần thiết phải qui định là thế
giới VN là thế giới đóng cửa, cũng như toàn thể cái
thế giới cộng sản vậy. Ở bên trong người ta tự cho
phép làm những việc không thể tưởng tượng được,
bách hại dã man, điên rồ bỉ ổi. Không ai dám nhìn vào
bên trong cái hỏa ngục trong đó diễn ra những tội ác chi?
có trong thời kỳ thế mạt, làm mất hết nhân phẩm nhân
tính." (trang 134)
"CS sống bằng dối trá, giả hình, nhưng cái sai lầm của
nó là đặt sự tàn bạo của nó trên những vẻ bề ngoài
hư ảo mà nó giải thích theo ý mình và dùng để tiêu
diệt những kẻ mà nó gọi là kẻ thù. Nếu Machiavelli (4)
đổi mồ sống lại, ông ta sẽ phải theo học những lãnh tu.
cộng sản. Sự dã man quỷ quyệt mánh lới và sự bất
nhân khéo che đậy của họ chưa hề thấy trong lịch sư?
loài ngườị" (trang 147)
"Trong CCRĐ, người ta động viên con cái tố cáo cha mẹ,
tá điền tố cáo chủ điền, trí thức thiên thần tố
cáo trí thức quỷ sứ." (trang 150)
"Ở trường học người ta không còn dậy luân lý, đạo
đức gì nữa. Và, ngày nay người ta còn khuyến khích học
sinh sỉ nhục thầy cô!" (trang 175)
Ông dành nguyên phần cuối cuốn sách để tả cảnh đói
khổ và cô độc của ông như một kẻ băng qua sa mạc, có
vàng đè nặng trên vai nhưng sức đã kiệt, vì thiếu
thức ăn, nhất là nước uống khiến không đứng thẳng
lên được, không muốn gì hơn là có ai cho đổi vàng
lấy một gáo nước.
Nơi chương 5 bạn đọc đã thấy Vũ Thư Hiên trong cảnh cô
đơn ở xà lim một mình, lấy làm sung sướng bắt được
con cóc con đưa vào phòng nuôi bằng kiến để có bạn cho
bớt cô đơn. Thì ở đây bạn cũng thấy Nguyễn Mạnh
Tường đi lang thang ngoài phố vớ được chú mèo con. Ông
cho rằng sự tình cờ hay "Chúa Quan Phòng"(?) đã cho ông
được gặp con vật bé tí mới sinh được vài ngày này
để cho ông có bạn chia sẽ nỗi bất hạnh và khốn cùng
với nhau. Khác Vũ Thư Hiên ở chỗ Vũ Thư Hiên thì ơ?
trong lao tù, suốt ngày suốt tháng chỉ có một mình trong
mù tối, còn Nguyễn Mạnh Tường thì được sống với
vợ con ở nhà và thỉnh thoảng vẫn được ra đường hay
tới cậu lạc bộ nhìn sân Tennis. Thế mà ông lại nói
đến cô đơn như người lữ hành đi trong sa mạc một
mình. Mấy hàng sau đây sẽ cho độc giả thấy lý do tại
sao:
"Ngồi trên chiếc ghế dài (ở sân tennis vắng vẻ. MV)
thoạt nhìn tôi thấy có vật gì như một nắm len lăn vào
chân. Đó là một con mèo con bé tí tẹo, mới sinh được
vài ngày. Mẹ nó, theo tập quán đã cương quyết xa nó
để nó tự khám phá cuộc đời. Tôi nhặt con vật lên,
vuốt ve nó và cảm thấy lòng tràn đầy nỗi cảm thương,
trìu mến đối với nó. Nó và tôi là hai mảnh đời tan
nát, cùng đói, cùng cô đơn. Sau khi đã đi vòng quanh xóm
riềng để hỏi xem con mèo con thuộc về ai, mà không tìm
được chủ nó, tôi bèn cảm ơn sự tình cờ, hay Đấng
Quan Phòng? đã ban cho tôi một kẻ đồng hành trong nỗi
bất hạnh và cùng khổ, mà những cuộc truyện trò câm
lặng sẽ lấp đầy thì giờ của tôi và hiến dâng cho tôi
một sự giao tình mà tôi không dám xin vợ con tôi, đê?
khỏi đào sâu thêm những nỗi đau thương của vợ tôi và
con gái tôi. Giữa vợ con tôi và tôi, im lặng còn hùng
biện hơn lời nói, và lại không làm cho nước mắt nho?
xuống. Giữa tôi và con mèo con cũng y như thế: Ngôn ngữ
của cặp mắt cũng đủ để trao đổi tâm tình.
"Về nhà, tôi chia cho nó món cơm khô của tôi! Tôi rất
lấy làm hài lòng, vì nó không đòi gì hơn và nó lớn
nhanh. Trong khi tôi ngồi suy tư và mơ màng qua cửa sổ, nó
ngồi trên đầu gối tôi và đêm đến thì nó nằm bên
cạnh tôi. Vậy là tôi đã có thể bắt đầu bước bước
đầu để ra khỏi con đường hầm vô tận của nỗi cô
đơn, và tự cho mình một lẽ sống bằng cách lấp đầy
lỗ trống của cuộc đời tôịTôi không còn có thể đi
dạo ngoài phố vì những con chó canh luôn luôn theo tôi ơ?
đàng xa. Tôi cũng không thể đi tập đánh tennis ở câu
lạc bô. Ba Đình nữa vì vợt với bóng và giầy vải đắt
kinh khủng và ngoài tầm tay của tôi. Nhưng điều đau đớn
nhất đối với tôi là nhìn thấy những bạn thể thao cũ
của tôi tránh né trốn chạy tôi! Những sự trốn chạy đó
là những nhát dao găm đâm vào tim tôi, và tôi không thê?
nào đóng vai tên cùng khổ, hay cùi hủi. Tôi hiểu thái
độ của những người bạn quần vợt của tôi. Họ đều
là những công chức cao cấp, dĩ nhiên cũng là đảng viên
nữa, và trước tiên họ phải lo đến tương lai hành chánh
và chính trị của họ, và vì vậy họ sẽ lấy làm kinh sơ.
phải bắt tay một tên mắc dịch để chơi một ván với
nó! Họ là những con người, những người nghèo tội
nghiệp, tôi không thể nào trông đợi là họ có thể ít
hèn nhát, ít bất xứng và ít sa đọa hơn." (trang 325-327)
Vài cảm nghĩ về trường hợp luật sư Nguyễn Mạnh
Tường:
Một con người có thể nói là đại trí thức, cực kỳ
thông minh, vì chỉ trong 4 năm đã lấy hai văn bằng tiến
sĩ, thế mà hầu suốt đời lận đận, quá nửa đời
sống trong tủi nhục cùng khổ, cô đơn, cô đơn ngay bên
cạnh vợ con, bạn bè. Tuy trong đau khổ và cô đơn, ông
vẫn tự hào là ông đã sống cho quê hương. Nhưng thư?
hỏi, quê hương được gì ở ông? Chế độ đã không
để cho ông phát huy tài năng của mình. Những gì ông làm,
họ lên án. Những gì ông nói họ bịt tai, trừ phi ông nói
theo họ. Nhưng ông lại không thể nói theo họ. Nếu cái
chế độ này qua đi, một chế độ khác sáng suốt hơn,
công bình hơn thì ông cũng sẽ được đánh giá công bình
về những lới ông nói. Nhưng hãy tưởng tượng, nếu
chế độ này cứ tiếp tục thì ai sẽ trả lại danh dự cho
ông? 
Khi ông đi theo Việt Minh cộng sản, chắc ông không ngờ
đuợc rằng đó lại là một chế độ tàn bạo, phi nhân
đến như vậy. Và ngay sau CCRĐ, ông vẫn còn nghĩ nó có
thể tốt hơn nếu chịu nghe ông mà sửa đổi. Chỉ hơn ba
chục năm sau, ông mới thấy nó bất trị đến mức nào.
Những lời kết án của ông trong cuốn hồi ký đã mãnh
liệt hơn những lời phê bình trong bài tham luận năm 1956.
Dưới đây chúng tôi xin chép lại nguyên văn lời bình
luận của Minh Võ viết cách đây gần 40 năm về bài tham
luận nói trên. Những lời bình luận này đã được in
trong cuốn "Sách Lược Xâm Lăng của Cộng Sản", xuất bản
lần đầu năm 1963:
"(Sau khi trích dẫn nhiều đoạn trong bài tham luận). Những
lời trên đây thốt ra từ của miệng của một nhà trí
thức trong chế độ miền Bắc và ngay tại hội nghị mặt
trận, trước sự hiện diện của các cấp lãnh đạo của
"đảng lãnh đạo" quá đủ để chứng minh một cách hùng
hồn rằng CCRĐ đã gây đau thương và đặc biệt là cho
nông dân miền Bắc. Những lời trên đây cho ta thấy
nhận xét của nhà văn Pháp Gérard Tongas không có gì là
quá đáng.
"Có một điều làm cho các nhà nghiên cứu tình hình miền
Bắc phải suy nghĩ nhiều. Đó là việc đảng Lao Động
vẫn không ngớt tuyên bố rằng CCRĐ đã thắng lợi, mặc
dù những tiếng than van của nhân dân, các lời phẩm bình
của các ký giả, các nhà quan sát quốc tế và trí thức
Hà-nội. 
Tại sao với bao nỗi thống khổ, oan ức, bao xác chết
chồng chất, mà CCRĐ lại có thể coi là thành công? Là
bởi vì cộng sản không lý luận như chúng ta, cũng không
lý luận như luật sư Tường. Luật sư Tường tuy nói
rằng "ta là duy vật" nhưng thực ra ông không có ý cho
người nghe hay người đọc hiểu rằng chữ "ta" đó gồm
cả ông ở trong. Vì lý luận của ông không có mùi duy vật
chút nào hết. Sở dĩ ông dùng chữ "ta"ở trong bài diễn
văn rất nhiều lần, chỉ là để cho dễ nói với cán bô.
cộng sản, coi như một cuộc "tự phê bình" chứ không
phải một cuộc phê bình Đảng.
Thực ra đứng trên lập trường cộng sản, duy vật, vô
thần, đối với thái độ cho rằng không có gì vĩnh
cửu, không có gì tuyệt đối, kể cả các nguyên tắc tinh
thần, luân lý, thì mấy nguyên tắc pháp lý hay nhân đạo
mà ông Tường nêu lên có đáng gì đối với họ?
Ông Tường có nói đến cách mạng, nhưng cách mạng của
ông Tường là thứ cách mạng dân tộc, hay ít ra là cách
mạng nhân dân. Còn cách mạng của cộng sản thực chất là
cách mạng giai cấp, cách mạng vô sản. Vậy thì những lời
ông phê bình là phản cách mạng cái khẩu hiệu quá tả kia
("thà chết 10 còn hơn sót một địch") đâu có giá trị gì
theo lập trường của người cộng sản? Vì thế họ sẽ
kết án lại ông Tường, cũng như các người khác là phản
cách mạng, và rồi ông Tường sẽ bị quản thúc, bị đưa
đi cải huấn cho đến khi chấp nhận lập trường của
cộng sản, từ bỏ lập trường dân tộc theo lối "duy
tâm", lối "tư sản" của ông.
Cả câu cuối: "…không phân biệt được bạn và thù, đánh
cả bạn, giết cả bạn" cũng chỉ làm cho người cộng sản
chính cống như Trường Chinh mỉm cười. Vì thực ra trên
lập trường giai cấp, ai là bạn, ai là ta, nếu không phải
chỉ có kẻ từ bỏ giai cấp của mình để tôn thờ giai
cấp của đảng? Trên lập trường lý thuyết Mác xít, duy
vật biện chứng, với định luật "biến chuyển", thì bạn
ngày hôm nay, ngày mai không là bạn nữa. Còn sống thì gọi
là bạn, đánh chết rồi không gọi là bạn nữa, mai kia
được phục hồi công quyền, đảng tịch, cương vị,
được…"tổ quốc ghi tên muôn đời" thì lại là bạn. Và
sau hết, theo sách lược cộng sản, kết bạn với cả địch
để tiêu diệt một kẻ địch khác cần tiêu diệt sớm
hơn, thì khi đã tiêu diệt được kẻ địch này rồi, ắt
phải quay ra tiêu diệt kẻ địch kia, tức là "địch- bạn "
đó. Vậy phân biệt địch với ta, thù với bạn cùng
những người cộng sản thực là khó. Không hiều luật sư
Tường có nghĩ tới điều ấy không? Chỉ biết rằng
đối với cộng sản, bạn rất có thể là thù, ta rất có
thể là địch, thất bại cũng là thành công. …" (5) 
Để kết thúc chương này chúng tôi xin ghi nhận là cố
luật sư Nguyễn Mạnh Tường là một nhà trí thức có
đầy nhiệt huyết, muốn đóng góp tài năng của mình vào
việc cứu nước, dựng nước. Nhưng vì ông đồng thời
cũng là người xuất thân từ giai cấp tư sản, lại từng
hấp thụ nền giáo dục của truyền thống dân chủ tư sản
của Pháp, nên vẫn không thể hòa đồng với những
người cộng sản. Chẳng những thế, ông còn dũng cảm nói
lên lập trường của mình, phê bình lập trường của lãnh
đạo đảng. Vì thế ông không được trọng dụng, rồi bi.
bạc đãi, bị đầy đọa, bị bao vây, quản chế. 
Sở dĩ cuốn hồi ký xuất bản bên Pháp với những lời
đả kích chế độ một cách thậm tệ, gọi nó là một
thứ hỏa ngục trần gian, mà Hà-nội không đưa ông ra tòa
hay thủ tiêu ông, là vì trước hết ông cũng đã quá già
rồi, chẳng còn làm được gì, cuốn sách lại bị cấm ơ?
VN, nó cũng chẳng gây tai hại lắm về phương diện tuyên
truyền. Hơn nữa tiếng tăm ông lại được thế giới
kính nể. Đụng đến ông không khỏi có phản ứng bất
lợi. Chi bằng cứ giam lỏng ông, cô lập ông để ông
chết dần chết mòn. 

Trích chương 17, "Phản Tỉnh Phản Kháng Thực Hay Hư" 
Chú Thích:
(1) "Kẻ bị vạ tuyệt thông" (nguyên văn Un Excommunié, có
nghĩa bị khai trừ ra khỏi cộng đồng, khỏi đảng), Quê Me.
xuất bản, Paris, 1997, trang 199.
(2) Trừ Nguyễn Hữu Đang bị án 15 năm tù và bà nhà văn
nữ Thụy An cũng bị bắt giam.
(3) Nguyên văn đầy đủ: "Un excommunié Hanoi 1954-1991: Proces
d’un intellectuel", ("Kẻ bị khai trừ, Hà-nội từ 1954 đến
1991: Vụ án của một trí thức")
(4) Nhà văn và chính khách Ý, thế kỷ 15ù (1469-1527). Cuốn
Le Prince (Ông Hoàng) của ông bị các nhà đạo đức thời
ấy lên án là phi luân, vì ông chủ trương dùng mọi biện
pháp để đạt mục tiêu chính trị, bất chấp luân thường
đạo lý.
(5) "Sách Lược Xâm Lăng Của Cộng Sản", Minh Võ, Saigon
1963, trang 164-166)



=====
You shall know the truth and the truth shall set you free.
		
---------------------------------
Do you Yahoo!?
 Take Yahoo! Mail with you! Get it on your mobile phone.
-------------- next part --------------
An HTML attachment was scrubbed...
URL: http://mail.saigon.com/pipermail/vacets-local-dc/attachments/20050104/48218dc5/attachment-0001.html


More information about the Vacets-local-dc mailing list