[vacets-gen] [Phung Quan, To Huu va Nguyen Khoa Diem]

Hai Tran hai_v_tran at yahoo.com
Fri Dec 31 13:15:39 PST 2004


Phùng Quán, Tố Hữu và Nguyễn Khoa
Điềm 
Tưởng Năng Tiến 
Ngoài chuyện chủ trương
kiểm soát thông tin, xây dựng
tường lửa - điều mà
những người tiền nhiệm
không phải bận tâm - thời ông
Nguyễn Khoa Điềm làm
Trưởng Ban Tư Tưởng
Văn Hoá Trung Ương, những
“vụ án gián điệp”, những tác
phẩm bị thu hồi, và những
bản thảo bị tước
đoạt hay … mất cắp (xem ra) có
phần “phong phú” hơn thời Tố
Hữu. 

--------------------------------------------------------------------------------
 
Có lần, tôi nghe Phùng Quán kể
chuyện “Xông Đất Nhà Thơ
Tố Hữu” - đại lược -
như sau:

“Sáng mùng một Tết năm Canh
Ngọ. Như thường lệ,
vợ chồng chúng tôi xuất hành vào 9
giờ sáng, đến chúc Tết
những gia đình họ hàng nội
ngoại. Năm đó, chúng tôi quyết
định xông đất đầu
tiên gia đình nhà thơ Tố Hữu.”
“Trong mối liên hệ gia tộc, tôi
gọi nhà thơ bằng cậu… Mọi
năm, trên đường đi chúc
Tết, tôi vẫn thường
đạp xe đi qua trước
cổng biệt thự của nhà thơ
trên đường Phan Đình Phùng.
Cảnh tượng tưng bừng,
tấp nập trước cổng
biệt thự tôi không tả nổi;
chỉ đoán chắc cả Hà Nội
cũng chỉ năm bẩy nhà sánh
kịp mà thôi …”
“Nhưng tết này, trước cổng
biệt thự của nhà thơ quang
cảnh vắng teo. Không có chiếc ô tô
con nào, không công an cũng chẳng lính
cảnh vệ. Cái cổng sắt
mọi ngày nom như hẹp hẳn
lại, hai cánh cửa khép hờ, ai vào
cứ việc đẩy cửa mà vào y
như thể dân thường. Hai vợ
chồng chúng tôi xuống xe đạp
đứng tần ngần một lúc
trước cổng sắt.”

Dấu xưa xe ngựa hồn thu
thảo.
Nền cũ lâu đài bóng tịch
dương…

“Hai câu thơ của bà huyện Thanh Quan
bỗng đột ngột hiện ra
trong trí nhớ của tôi với toàn
bộ vẻ đẹp u trầm và sâu
sắc đến kinh người
của nó…”
“Thưa cậu, năm mới vợ
chồng cháu xin đến chúc Tết,
mừng tuổi cậu mợ và các anh
chị …” Sau ba muơi năm không gặp
lại, nhà thơ vẫn nhận ra tôi.
“Vợ chồng Phùng Quán” – nhà thơ nói
như muốn giới thiệu luôn
với mấy người khách – Sao lâu
nay cháu không đến cậu?” Giọng
nhà thơ ân cần, có pha chút trách cứ
của bề trên …”
“Sau khi khách khứa ra về chỉ còn
lại ba cậu cháu. Tôi đã uống
đến ly Ararat thứ năm.
Ruợu bắt đầu ngấm làm tôi
trở nên mạnh dạn. Tôi hỏi nhà
thơ câu hỏi tôi muốn hỏi
từ lâu: -‘Thưa cậu, cháu rất
muốn biết, bây giờ thực
sự cậu mong muốn điều
gì?’. Một thoáng trầm ngâm nhà thơ
nói: ’Cậu ao ước còn đủ
sức khoẻ, đạp một
chiếc xe đạp về trong quê mình,
sống lại kỷ niệm của
thời ấu thơ, thời hoạt
động sục sôi của tuổi
thanh niên, rồi đặt những bài
vè …tìm đến nơi đồng bào,
bà con tụ tập, đọc lên cho bà
con nghe… Cậu mong muốn
được làm nguời hát rong
của nhân dân…’
“Có lúc nhà thơ đã đạt
đến chức Tam Công trong bộ máy
quyền lực của đất
nước, nhưng cuối đời
lại chỉ mong ước
được làm một nghệ sĩ
hát rong của nhân dân mà không hy vọng
thực hiện được. Trong
khoảnh khắc đó, lần
đầu tiên tôi lĩnh hội
được hết vẻ cao sang
của thi ca đích thực.”
“Vợ chồng tôi xin phép cậu ra
về … Bước xuống khỏi
những bậc tam cấp, nhà thơ nói
với vợ tôi: ’Thằng Quán nó dại
…’. Khi ra gần đến cổng
sắt, nhà thơ dừng lại, nói
tiếp như vẫn không dứt dòng suy
nghĩ của mình:’- mà cậu cũng
dại” (Ngô Minh et al. Nhớ Phùng Quán.
Phương Nam Corp., 2003).

Nếu được sống lại
đời mình, và cũng ở vào hoàn
cảnh cũ, tôi tin rằng Phùng Quán
sẽ vẫn cứ ”dại” y như
thế nhưng Tố Hữu thì chưa
chắc. Ông ấy đủ khôn ngoan
để biết rằng “mong
ước được làm một
nghệ sĩ hát rong của nhân dân”
sẽ không thể thực hiện
được, nếu cứ tiếp
tục dại dột làm những câu vè
(bậy bạ) kiểu như: 

Vui biết mấy khi nghe con tập nói
Tiếng đầu lòng con gọi Stalin!

Nếu Tố Hữu không phải là
một người làm thơ, không
phải bận tâm đến chuyện
hèn mọn hay “cao sang của thi ca” thì
sự dại dột của ông cũng …
tốt thôi. Ông được ban phát
bổng lộc hậu và chức
quyền cao nhờ thế. “Nhà càng
lộng gió thơ càng nhạt” thì lại
là chuyện khác. 
Để ở nhà cao cửa rộng,
để “đạt đến
chức Tam Công trong bộ máy quyền
lực của đất nước,”
Tố Hữu không chỉ sống xa
rời nhân dân mà còn nhúng tay vào vào (hơi)
nhiều tội ác. “Nhìn Lại vụ Án
Nhân Văn – Giai Phẩm Cách Đây 40
Năm”, có người đã viết
như sau:

“Trong cái bề bộn rối rắm
của sự việc, chân lý lại
thường ở dạng rất
đơn giản. Tôi đã thấy
được cái đuôi chuột thò ra
ở sự cấm đoán sáng tác
nghiệt ngã với anh em Nhân Văn – Giai
Phẩm kéo dài quá đáng. Những 30
năm. Nhờ vậy mà tôi nhìn ra cái
mạch ngầm, cái cốt lõi, cái nguyên
nhân xâu sa, là sự đố kỵ tài
năng, được phủ
đậy lên bằng tấm màn
đấu tranh tư tuởng,
đấu tranh giai cấp … Ông Tố
Hữu lãnh đạo thời đó,
hẳn phải biết tài thơ của
các ông Hữu Loan, Quang Dũng, Hoàng
Cầm, Trần Dần, Văn Cao, Lê
Đạt, Phùng Quán … Nếu mà họ
tồn tại thì thơ của ông khó mà
được suy tôn như người
ta đã suy tôn. Vậy tốt hơn
hết là triệt đi, không cho họ
viết báo in sách nữa…”
“Tiếp theo là bắt bớ, tù
đầy, và hàng loạt văn nghệ
sĩ phải đi cải tạo lao
động ở các nhà máy hoặc ở
nông thôn trong nhiều năm trời. Sau
nữa là sự quản thúc, sự
cấm đoán sáng tác kéo dài hàng vài
chục năm. Đến khi
được cởi trói cho văn
nghệ sĩ thì nhiều người
đã đầu bạc, da nhăn nheo,
người thì bại liệt;
người tâm thần; có người
chết trước khi được
cởi trói …”
http://diendandanchuvn.com/sangtac/HoangTien/HT-nhinlaivuNVGP.htm).


Nhận xét này của nhà văn Hoàng
Tiến tuy không sai nhưng thiếu.
Đó “chỉ là phần nổi của
một tảng băng sơn.” Phần
chìm của nó “là cả một nền
văn học, nghệ thuật giáo
dục, đạo đức của
miền Bắc bị lụn bại, méo
mó, què quặt và hầu như cả
một thế hệ trí thức, văn
nghệ sĩ miền Bắc bị
đánh gục, bị dìm trong nỗi
sợ triền miên.” (Trần Minh, “Nhân
Văn - Giai Phẩm, Một Tư Trào,
Một Vụ Aùn, Một Tội Aùc,”
Thế Giới Ngày Nay, Nov. & Dec. 1994).
“Vụ án” này lịch sử chưa xét
đến nên Tố Hữu đã lo
trước việc “chữa chạy”
với hy vọng được
giảm khinh hay trắng án. Cũng theo
Hoàng Tiến, người đã có
dịp đọc bảo thảo “Nhà
Thơ Tố Hữu Tâm Sự” (viết
xong vào tháng 5 năm 1977) thì Tố Hữu
vào lúc cuối đời “hoàn toàn khác
với Tố Hữu đã sống
trước đây … có hai Tố Hữu
khác hẳn nhau như nước với
lửa, như lòng bàn tay với mu bàn tay…
Trong lời tâm sự Tố Hữu
Nhật Hoa Khanh ghi không thấy lời
nhận lỗi hoặc xin lỗi
những nạn nhân trước đây
của mình, ai cũng được ông
Tố Hữu đánh giá rất cao,
chỉ thấy khen là khen. Những
thế hệ bây giờ không biết
chuyện cũ, cứ tưởng ông
Tố Hữu rất tốt với
mọi người, rất đáng kính
và rất đáng yêu, ông không thù ghét ai, làm
sao ông Tố Hữu lại có thể
đánh những tài năng văn
nghệ như anh em Nhân Văn – Giai
Phẩm được?” (“Sự
Thật Ở Đâu?”
http://www.geocities.com/hoangmaidat/opinion/0730hoangtien.html).


Tôi e rằng Hoàng Tiến đã lo xa quá,
và sự lo lắng này không cần
thiết. Mọi cố gắng gian
giảo để “phi tang” của Tố
Hữu đều đã muộn màng và
(hoàn toàn) vô ích. “Sự Thực Ở
Đâu” ai mà không biết.

Tôi biết nó, cả nước này
biết nó
Việc nó làm tội ác nó ra sao?

Hai câu thơ vừa dẫn [viết
về Người (khác)] bỗng
chợt hiện - dù tôi đang không
ngồi trong phòng thẩm vấn - và
tiện tay nên tôi ghi lại chơi cho vui
vậy thôi, chứ thực không có ý
muốn mượn lời Nguyễn Chí
Thiện để luận tội hay
kết án gì nhà thơ Tố Hữu. Chúng
tôi sinh ra và sống trong một thời
đại mà mọi người
đều vội vãø. Không ai rảnh
để đi đá vào những con chó
chết. 
Tôi xin dùng thì giờ có được hôm
nay để nói chuyện với ông
Nguyễn Khoa Điềm, Ủy Viên
Bộ Chính Trị, Bí Thư Trung
Ương Đảng, và là kẻ
đang giữ chức Trưởng Ban
Tư Tưởng Văn Hoá Trung
Ương. Cũng như ông Tố
Hữu, ông Nguyễn Khoa Điềm – xem
chừng - cũng … dại! 
Phải đợi đến bốn
mươi năm, Hoàng Tiến mới
nhìn ra “cái tâm” của Tố Hữu trong
vụ án Nhân Văn – Giai Phẩm nhưng
chỉ cần bốn ngày sau chuyện
tường lửa xẩy ra với
website talawas thì mọi người
đều thấy được
“tấm lòng” của ông Nguyễn Khoa
Điềm.
Vì phở quốc doanh không người
ăn, cà phê quốc doanh không có
người uống, cửa hàng quốc
doanh không có hàng bán, tu sĩ quốc doanh
không có tín đồ, bác sĩ quốc
doanh không có bệnh nhân, văn sĩ và
thi sĩ quốc doanh không có độc
giả, web site quốc doanh không có
người xem …; do đó, ông Nguyễn
Khoa Điềm đã dùng đến
“hạ sách” là dựng tường
lửa để ngăn những trang
webs (đắt khách) ngoài vòng kiểm soát
của mình.
Và đó chỉ là chuyện nhỏ.
Người ta có thể nhìn thấy con
người của ông Nguyễn Khoa
Điềm - qua nhiều chuyện
nữa, tệ hại hơn -
trước đó. Xin đan cử
một thí dụ khác.
Tối mồng một Tết nguyên
đán Giáp Thân (2004), Hà Nội đã long
trọng tổ chức buổi Lễ
Trao Giải Thưởng Cuộc Thi Trí
Tuệ Việt Nam do ông Nguyễn Khoa
Điềm chủ toạ. Giải
nhất được trao cho nhóm
người “sáng tạo” ra phần
mềm (software) “Hệ Thống Quản
Trị Nội Dung”. Họ là bốn sinh
viên, gọi là nhóm iCMS. Đây vừa là
tên nhóm vừa là tên sản phẩm
của họ: Content Management System. 

“Tôi nhớ một chi tiết hôm xem
lễ trao giải được
truyền hình trực tiếp. Khi nghe
đọc tên nhóm trúng giải,
đề tài và lời giải thích
sản phẩm trúng giải, anh tôi la lên:
’Thấy chưa, nó trao giải Nhất
cho Quản lý nội dung thông tin.
Hừm!’ Tiếng la của anh đã
gợi ý cho tôi viết bài này…” 
“Đó là buổi trao giải nhiều ý
nghĩa. Nó mang tên là ‘Trí Tuệ Việt
Nam.’ Giải nhất là ‘Kiểm soát thông
tin.’ Nguời trao giải là Ủy viên
Bộ Chính trị kiêm Trưởng ban
Tư tưởng và Văn hoá Trung
ương.”
“Đầu não tinh túy nhất của nhà
cầm quyền đã chọn việc
kiểm soát thông tin làm trí tuệ Việt
Nam. Nếu đồng ý ngu dốt là
thiếu thông tin và do thiếu thông tin, thì
họ đã muốn lấy ngu dốt
làm sách lược trị nước”
(Lê Lô, “Trí Tuệ Việt Nam: Hệ
Thống Quảng Trị Nội Dung,”
Thế Kỷ 21, May 2004:31). 

Ngoài chuyện chủ trương
kiểm soát thông tin, xây dựng
tường lửa - điều mà
những người tiền nhiệm
không phải bận tâm - thời ông
Nguyễn Khoa Điềm làm
Trưởng Ban Tư Tưởng
Văn Hoá Trung Ương, những
“vụ án gián điệp”, những tác
phẩm bị thu hồi, và những
bản thảo bị tước
đoạt hay … mất cắp (xem ra) có
phần “phong phú” hơn thời Tố
Hữu. 

“Ông Tố Hữu, là một nhà thơ
trung bình, được Đảng
Cộng Sản Việt Nam trọng
dụng cho phụ trách công tác văn
nghệ, đã dùng quyền lực
cũng trấn áp tù đầy, làm thui
chột đi nhiều tài năng văn
học. Ông cũng kéo lùi nền văn
học Việt Nam ít nhất là 30 năm,
tính từ 1957 cho đến thời
kỳ đổi mới mở cửa
1987.”
Đó là một nhận xét khác của nhà
văn Hoàng Tiến khi “ Nhìn lại
Vụ Án Nhân Văn Giai Phẩm”. Hoàng
Tiến lại đúng nhưng vẫn …
thiếu. Trách nhiệm của Tố
Hữu (e) không đơn thuần
chỉ giới hạn trong lãnh vực
văn học và cũng không phải
chỉ ảnh hưởng đến
một thế hệ mà thôi. Những
thế hệ kế tiếp tuy không
đến nỗi méo mó, què quặt
nhưng (rõ ràng) rất khó nuôi vì … còi
cọc.
”Vừa rồi, Bộ Kế hoạch
Đầu tư công bố chỉ tiêu
về trí tuệ, trình độ
ngoại ngữ, khả năng thích
ứng với điều kiện
tiếp nhận KHKT của thanh niên
Việt Nam theo tiêu chuẩn thang
điểm 10 của khu vực khiến
người ta giật mình: trí tuệ
đạt 2,3/10đ; ngoại ngữ là
2,5/10đ và khả năng thích ứng
với điều kiện tiếp
cận KHKT chỉ đạt hơn
2/10đ! Điều đó chứng
tỏ thanh niên chúng ta đang tụt
hậu rất xa so với khu vực,
đấy là chưa kể yếu
tố sức khoẻ, thể lực”
(“Thanh Niên VN Đang Tụt Hậu Từ
A Đến Z”
http://tintucvietnam.com/News/PrintView.aspx?ID=52975).


Ngoài những câu thơ dại dột, và
những ngôi nhà lộng gió (không thể
mang theo về thế giới bên kia),
hiện tượng “Thanh Niên VN Đang
Tụt Hậu Từ A Đến Z” là
“di sản” mà Tố Hữu (đã góùp
phần không nhỏ) để lại
cho hậu thế. Tôi hy vọng là ông
Nguyễn Khoa Điềm, một
người (vẫn) còn sống, sẽ
sống khôn ngoan hơn những
người tiền nhiệm của mình
- chút xíu.

 


=====
=====
You shall know the truth and the truth shall set you free.


		
__________________________________ 
Do you Yahoo!? 
The all-new My Yahoo! - Get yours free! 
http://my.yahoo.com 
 



More information about the Vacets-gen mailing list