[vacets-gen] [Dien thu Dan chu so 35...]

Hai Tran hai_v_tran at yahoo.com
Wed Dec 29 05:35:32 PST 2004


 
Câu Lạc Bộ Dân Chủ Việt Nam

Điện Thư - Số 35
Tháng 12 năm 2004

Điện Thư Câu Lạc Bộ Dân Chủ xin trân trọng kính chuyển đến các Diễn Đàn Điện Tử, Cơ Quan Ngôn Luận và Độc Giả trong và ngoài nước các tin tức, sự kiện và bài vở liên quan đến tình hình dân chủ Việt Nam. Như đã minh định qua bản thông cáo và thư ngỏ của Câu Lạc Bộ Dân Chủ trước đây, sự đàn áp thô bạo của cơ chế độc tài sẽ không làm chùn bước và bịt miệng được các tiếng nói tranh đấu dũng cảm cho nền dân chủ Việt Nam. Mọi liên lạc xin gửi về : caulacbodanchuvietnam at yahoo.com

Tin Ghi Nhận:

• Một nguồn tin từ nội bộ cho biết, gần đây, Bộ công an đã thành lập một "tiểu ban đàn áp". Tiểu ban này do ông Nguyễn Khánh Toàn, đương kim Thứ trưởng Bộ công an cầm đầu.Tuy nhiên, nguồn tin không cho biết rõ chức năng và những quy định cụ thể liên quan đến tiểu ban này.

• Ngày 13/12/2004, hàng trăm người dân xã Kim Nỗ huyện Đông Anh, Hà Nội đã dùng nhiều loại vũ khí tự tạo tấn công các nhân viên an ninh, và người của Công ty liên doanh Noble. Có gần 30 người bị thương trong vụ ẩu đả này. Xin được nhắc lại rằng, trước đây, xã Kim Nỗ đã từng được nhà nước phong tặng danh hiệu "Xã Anh Hùng". Được biết, ngày 14/12/2004 cũng có một cuộc biểu tình ôn hoà về vấn đề đất đai diễn ra ngay cổng trụ sở Quận Thanh Xuân, Hà Nội. Vụ biểu tình này có hàng chục người tham gia, nhân Tổng Bí Thư Nông Đức Mạnh về làm việc tại Quận Thanh Xuân. Một số người đã bị đưa lên xe ô tô chở đi.

----- O -----

Little Saigon Radio phỏng vấn Phương Nam
Những Tiếng Nói Dân Chủ Tại Việt Nam

“Tự do không thể van xin mà được. Tự do phải giành lấy mới có!”
(nhà cách mạng Nguyễn An Ninh 1900 –1944)

LTS: Hai giờ chiều ngày thứ Ba, 14 tháng 12 năm 2004 vừa qua, một thân hữu của Little Saigon Radio hiện sống ở Sài Gòn báo tin cho biết, kỹ sư Đỗ Nam Hải có thể sẽ bị công an bắt giữ vì những bài viết cuả ông lên tiếng đấu tranh cho tự do, dân chủ ở Việt Nam. Little Saigon Radio lập tức tìm cách liên lạc và đã phỏng vấn được kỹ sư Đỗ Nam Hải. Nguyên văn bài phỏng vấn sau đây do Đinh Quang Anh Thái thực hiện và đã được phát thanh trên làn sóng của đài ngay buổi chiều cùng ngày. 

- Little Saigon Radio: Trước hết, ông Hải có thể cho biết vài dòng về mình.

- Kỹ sư Đỗ Nam Hải: Tôi sinh ra ở Hà Nội năm 1959 rồi vào Sài Gòn sau ngày 30 tháng Tư năm 1975, khi ấy tôi là cậu học sinh 16 tuổi. Tôi tiếp tục học những năm cuối phổ thông ở Sài Gòn, rồi học đại học, ra đi làm và học lên cao học. Năm 1994, tôi sang Úc sinh sống cùng gia đình và trở về nước năm 2002. Hiện nay tôi làm việc trong ngành ngân hàng. Trong thời gian từ tháng 6/2000 đến tháng 8/2001, với bút hiệu Phương Nam, tôi có viết 5 bài tiểu luận là: Việt Nam đất nước tôi, Việt Nam và sự đổi mới, Suy nghĩ về nhận thức lại, Viết về chủ tịch Hồ Chí Minh và Viết tiếp về nhận thức lại. Mới đây, ngày 10 tháng 12 năm 2004, tôi có viết một lá Thư ngỏ gửi Quốc hội, Chính phủ nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Việt Nam và
 các cơ quan truyền thông trong – ngoài nước. Đồng thời, nhắc lại ý kiến đề nghị của tôi về tổ chức một cuộc Trưng cầu dân ý ở Việt Nam.
(đang được đăng trên 1 số trang web như: Đàn Chim Việt & Mạng Ý Kiến online. Click: www.danchimviet.com & www.ykien.net - Mục Tác giả.)

- Little Saigon Radio: Trong bài Việt Nam đất nước tôi, ông có nêu lên ý kiến đề nghị tổ chức một cuộc Trưng cầu dân ý, nhằm mở đường cho dân tộc thoát khỏi tình trạng tụt hậu và không có dân chủ ở Việt Nam hiện nay. Ông có thể nói thêm chi tiết về nội dung bài viết này, cũng như động cơ khiến ông can đảm lên tiếng trong bối cảnh đất nước chúng ta vẫn bị cai trị độc đoán bởi chế độ đương quyền.

- Kỹ sư Đỗ Nam Hải: Tôi viết xong bài Việt Nam đất nước tôi vào tháng 6 năm 2000; bài này tôi viết trong 6 tháng. Động cơ duy nhất để tôi viết bài này, cùng những bài sau đó và bức Thư ngỏ nói trên là lòng yêu nước.

Những nội dung chính của nó là: trình bày Cơ sở hình thành và tan rã của hệ thống xã hội chủ nghĩa trong thế kỷ 20 vừa qua; Hoàn cảnh mà chủ tịch Hồ Chí minh đã chọn đường đi cho dân tộc Việt Nam, Thực trạng của xã hội Việt Nam hôm nay, Vấn đề đoàn kết dân tộc,… Trong phần 4, tôi có nêu lên ý kiến đề nghị rằng Việt Nam cần tổ chức một cuộc Trưng cầu dân ý, để nhân dân Việt Nam có cơ hội trả lời một câu hỏi rất quan trọng cho sinh mạng của đất nước. Đó là:

Việt Nam nên hay không nên theo chế độ đa đảng ?
Nếu ai đồng ý thì ghi Có. Ai không đồng ý thì ghi Không.

Tôi nghĩ rằng, đây là cách làm dân chủ mang tầm vóc toàn dân tộc, để mở đường cho việc giải quyết tận gốc Vấn đề của mọi vấn đề, nguyên nhân của mọi nguyên nhân đã gây nên biết bao nỗi tai ương đau đớn và sự tụt hậu đến nhục nhã cho đất nước ta hôm qua và hôm nay. Đó là thể chế chính trị nhất nguyên, độc đảng, được luật hóa tại Điều 4 của Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam hiện hành. Dỹ nhiên, tôi không hề ngây thơ mà tin rằng: những người đang nắm thực quyền trong ĐCS Việt Nam sẽ dễ dàng chấp nhận đề nghị này. Thậm chí, như mọi người đã biết, thay vì để cho các cơ quan chuyên môn đối thoại, thì họ lại dùng công an “đối thoại” với tôi! Nhưng tôi tin tưởng một cách chắc chắn rằng: một khi mà áp lực của toàn dân tộc và thời đại đủ
 mạnh thì dù có muốn hay không, những người bảo thủ trong ĐCS Việt Nam cũng phải Nhận thức lại.

- Little Saigon Radio: Theo nhận định của ông, thì vấn nạn nào được xem là nghiêm trọng nhất đang cản đường tiến lên của dân tộc chúng ta ?

- Kỹ sư Đỗ Nam Hải: Vấn nạn nghiêm trọng nhất là thể chế chính trị hiện nay. Cụ thể là thể chế chính trị đó chỉ có duy nhất một đảng lãnh đạo đất nước, chẳng những cho một giai đoạn mà là cho mãi mãi về sau. Ở đó, nó không chấp nhận sự cạnh tranh, và điều này giống hệt như trong kinh tế không có sự cạnh tranh vậy. Ví dụ, trong một quốc gia mà chỉ có một Công ty bưu điện thì dẫu cho ban đầu, khi mới thành lập, nó có thể bao gồm toàn những con người tốt, nhưng sớm muộn gì nó cũng đi đến tình trạng thoái hóa và biến chất. Vì vậy, nếu có 2 Công ty bưu điện thì mới có sự cạnh tranh và nếu có 4 thì sẽ tốt hơn 2,… Kết quả của sự cạnh tranh đó là những khách hàng bưu điện sẽ được hưởng lợi.

Trong sinh hoạt chính trị cũng vậy, nếu trên chính trường có sự đa đảng thì đảng đang nắm quyền mới có đối trọng chính trị. Chính sự lo ngại do nguy cơ bị mất quyền lãnh đạo vào tay các đảng đối lập khác thì dù muốn hay không, họ cũng buộc phải trở nên tử tế, nếu họ muốn tiếp tục nắm quyền. Kết quả là các cử tri – Những người đóng thuế – sẽ được hưởng lợi. Nhân dân sẽ chọn được những con người tốt nhất, những lực lượng chính trị tốt nhất để lãnh đạo đất nước, trong một giai đoạn nhất định nào đó. Xã hội vì vậy mà cứ tự điều chỉnh và phát triển đi lên. Đảng cộng sản Việt Nam muốn xốc lại đội ngũ đã xộc xệch của mình, thì điều quan trọng cần làm là phải chấp nhận mở đường cho sự cạnh tranh trên chính trường. Nếu
 cứ cố tình duy trì mãi sự độc đảng như hiện nay thì chỉ làm cản đường tiến lên của dân tộc mà thôi. Và Điều đó cũng là tội ác: tội câu giờ làm suy yếu khả năng hòa nhập vào thế giới hiện đại; làm tụt hậu dân tộc!

- Little Saigon Radio: Ông vừa nói rằng ĐCS Việt Nam muốn xốc lại cái đội ngũ đã xộc xệch của mình thì phải chấp nhận sự cạnh tranh chính trị. Nhưng làm cách nào được khi mà cơ chế của đảng cộng sản chỉ sản sinh ra những con người đã quen lối suy nghĩ sơ cứng, một chiều ? Nhà thơ Nguyễn Duy hiện ở quê nhà từng ví von: “Đổi mới thật hay giả vờ đổi mới ? Máu nhiễm trùng ta có thể thay chăng ?” Việt Nam là một cơ thể mà máu đã bị nhiễm trùng và một khi đã là như vậy thì liệu có thay được hay không ?

- Kỹ sư Đỗ Nam Hải: Đúng như nhà thơ Nguyễn Duy đã viết trong bài Nhìn từ xa Tổ quốc: máu trên cơ thể đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta là đang bị nhiễm trùng. Trong tình hình đó, một thể chế chính trị đa đảng, trong một xã hội chấp nhận sự đa nguyên (dỹ nhiên là trừ “hệ tư tưởng” của mấy anh khủng bố, bạo loạn!) sẽ tạo ra cơ hội và khả năng tốt để “thay máu” cho đất nước. Một nguồn sinh khí mới, với những lực lượng chính trị mới, có tư duy mới nhất định sẽ thay thế được lối tư duy chính trị cũ của nhiều người mắc bệnh sơ cứng não trạng trong ĐCS Việt Nam hiện nay. Cũng cần phải nhấn mạnh rằng: hơn 2 triệu đảng viên và gia đình họ (trong đó có cả gia đình tôi) sẽ vẫn ở lại cùng dân tộc, để xây dựng một đất nước Việt Nam
 mới. Chỉ có cái chế độ nhất nguyên, độc đảng kia là phải ra đi mà thôi.

Cũng cần làm rõ quan điểm sau: Hễ một quốc gia có sự đa đảng thì không có nghĩa là mọi việc đều ổn thỏa hết. Nghĩa là nó không phải là chiếc chìa khóa vạn năng để có thể giải quyết được mọi khó khăn, bế tắc của xã hội. Nhưng nó là điều kiện cần, mà nếu thiếu nó thì mọi thành công nhất thời trong các mặt kinh tế, xã hội nếu có, cũng đều sẽ bị “cái món” nhất nguyên, độc đảng kia nuốt trọn. Sự đổi mới về kinh tế phải tiến hành đồng thời với sự đổi mới chính trị. (mà phải là sự đổi mới thực sự, chứ không phải lâu lâu lại “thò” ra một “mẩu vụn dân chủ” nào đó, rồi quảng cáo ầm lên rằng: “đất nước ta đã có dân chủ!”).

Cuộc Trưng cầu dân ý nêu trên sẽ là bước khởi đầu quan trọng giúp “thay máu” cho đất nước. Việc tạo ra những áp lực không ngừng lên các thế lực bảo thủ trong ĐCS Việt Nam hiện nay, qua việc kết hợp sức mạnh tổng hợp của dân tộc với sức mạnh của thời đại, chính là quá trình chuẩn bị cho sự biến đổi về chất, khi mà những áp lực về lượng kia đủ mạnh. Một tình thế của cuộc cách mạng dân chủ sẽ xuất hiện, khi mà nhân dân không còn chịu sự cai trị như trước và ĐCS Việt Nam cũng không thể cai trị nhân dân như trước được nữa. Tình thế ấy nhất định sẽ đến trong một tương lai không xa và toàn dân tộc Việt Nam, bao gồm cả đồng bào ta ở cả trong và ngoài nước sẽ nhạy bén nắm lấy thời cơ, dũng cảm tiến lên giành lấy tự do, dân chủ về cho dân
 tá»™c!

- Little Saigon Radio: Tin tức mà chúng tôi có được cho biết, ông đã gặp nhiều khó khăn với công an, điều đó có đúng không ạ ?

- Kỹ sư Đỗ Nam Hải: Đúng là như vậy. Nhiều việc xảy ra với tôi, tôi đã viết trong bức Thư ngỏ đề ngày 10 tháng 12 năm 2004 gửi Quốc hội, Chính phủ và Đảng cộng sản Việt Nam, … Đó là những khó khăn tôi bắt đầu gặp phải từ ngày mùng 6 tháng 8 năm 2004 cho đến nay. Hiện nay tôi vẫn đang bình thản chờ đợi những động thái mới từ Cơ quan an ninh – Bộ công an Việt Nam, sau khi tôi gửi bức Thư ngỏ kia đi.

Trong bức Thư ngỏ nói trên, tôi có trích lời nhà cách mạng Nguyễn An Ninh, rằng: Tự do không thể van xin mà được. Tự do phải giành lấy mới có! Ông Nguyễn An Ninh nói câu đó vào thế kỷ trước, nhưng tới nay nó vẫn còn nguyên giá trị. Điều khác biệt là thời của ông, việc giành lại tự do là từ tay giặc ngoại xâm. Còn hôm nay, cả dân tộc cũng đang phải quyết giành lại nền tự do, nhưng là từ tay giặc nội xâm. Có biết bao người đã phải trả giá cho công cuộc ấy. Chúng ta có thể kể tên một số người điển hình như: hoà thượng Thích Quảng Độ, linh mục Chân Tín, tướng Trần Độ, các ông Nguyễn Hộ, Hoàng Minh Chính, Nguyễn Đan Quế, Nguyễn Thanh Giang, Hà Sĩ Phu, Phạm Quế Dương, Trần Khuê, nhà văn nữ Dương Thu Hương và những người trẻ như: Lê Chí Quang, Phạm Hồng Sơn,
 Nguyễn Vũ Bình, Nguyễn Khắc Toàn, … cùng rất nhiều người khác hiện đã xuất hiện công khai hoặc đang âm thầm đấu tranh. Họ là những người con ưu tú của dân tộc. Nhân dân Việt Nam rồi sẽ đời đời biết ơn họ.

- Little Saigon Radio: Ông sinh năm 1959 tại Hà Nội, vào Nam năm 1975, rồi sau đó đi du học ở nước ngoài. Điều đó có nghĩa là, ông thuộc thành phần được chế độ ưu đãi. Vậy, động cơ nào khiến ông đấu tranh cho tự do, dân chủ ?

- Kỹ sư Đỗ Nam Hải: Không, tôi không phải là sinh viên du học. Tôi học đại học và học lên cao học (khóa 1992 – 1994) đều ở Việt Nam. Năm 1994, do sang Úc sinh sống cùng gia đình, nên tôi chưa kịp làm tiếp bản luận văn tốt nghiệp. Vì vậy, về mặt lý thuyết thì tôi đã hoàn thành chương trình cao học, nhưng về mặt bằng cấp thì tôi chưa có bằng thạc sỹ kinh tế. Xét về mặt nào đó thì đúng là tôi cũng được chế độ ở Việt Nam ưu đãi hơn nhiều người khác. Cha, mẹ tôi đều là đảng viên cộng sản từ thời chống Pháp và là cán bộ miền Nam tập kết ra miền Bắc năm 1954. Tôi sinh ra, lớn lên ở Hà Nội và hưởng toàn bộ nền giáo dục dưới mái trường Xã hội Chủ Nghĩa. Thế nhưng, nếu chỉ nghĩ đến bản thân mình thì tôi đã không “dại gì” mà lên tiếng như trong mấy
 năm qua. Tất cả việc làm của tôi xuất phát từ ước muốn cháy bỏng là dân tộc Việt Nam phải được hưởng một nền tự do, dân chủ đích thực, như bao dân tộc khác trên thế giới ngày nay. Những ngày sắp tới, có thể sẽ là giai đọan rất khó khăn với tôi, nhưng tôi sẵn sàng chấp nhận điều đó. Sự hy sinh dù là đắt của từng cá nhân cho nền tự do, dân chủ là hết sức cần thiết để cho cả dân tộc trường sinh!

- Little Saigon Radio: Ông có điều gì muốn nói thêm với thính giả nghe đài, nhất là những người trẻ hải ngoại ?

- Kỹ sư Đỗ Nam Hải: Tôi mong rằng đồng bào mình, nhất là những bạn trẻ đang sống ở hải ngoại hãy cố gắng về nước càng nhiều càng tốt. Thứ nhất, đó là động cơ về nguồn, về thăm lại quê hương, đất nước và gia đình. Thứ hai, mỗi người về hãy mang theo một thông điệp dân chủ, thông điệp về tính ưu việt của thể chế dân chủ, đa nguyên, đa đảng mà mọi người đang được hưởng tại các nước phát triển như Anh, Pháp, Đức, Mỹ, Úc,… để đồng bào mình trong nước biết được. Tôi nghĩ rằng, mỗi người đóng góp một chút, vượt lên trên cái sợ một chút thì chắc chắn cái Ngày hội non sông kia chắc chắn sẽ ngày càng đến sớm. Và đó mới thực sự là ngày Đất nước trọn niềm vui!

- Little Saigon Radio: rất cám ơn ông Đỗ Nam Hải đã trả lời cuộc phỏng vấn này.

----- O -----

Đề cao trách nhiệm chỉnh đốn Đảng theo di chúc Bác Hồ
Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX Cần xử lý ngay
những vụ án chính trị nghiêm trọng được dung túng
đang gây mất ổn định nội bộ đe doạ băng hoại đảng ta

Kính trình Hội nghị lần thứ 11
Toàn Ban Chấp hành TƯ khóa 9

Mỗi ủy viên Ban chấp hành Trung ương đều có quyền và có trách nhiệm tìm hiểu cặn kẽ về những vụ việc nổi cộm trong Đảng và trong xã hội.
Mỗi Đảng viên đều có quyền được thông tin, và thảo luận các vấn đề về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng.
Được báo cáo trung thực và đề đạt ý kiến trong phạm vi tổ chức, đến cấp lãnh đạo cao nhất của Đảng.

Trên tinh thần đó, tôi, một chiến sĩ cứu quốc và vệ quốc gần 60 năm tuổi Đảng. Kính trình tới toàn Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa 9 bản giác thư Bảo vệ Đảng này với chủ đề đã nêu ở đầu trang. Nội dung gồm 3 phần:

I. Những vụ án nào ? Ai bao che dung túng ?
II. Đóng góp vào việc phân tích giải mã các vụ án.
III. Kiến nghị về giải pháp xử lý vụ án

Đây là một vụ án chính trị đã đến độ nóng bỏng đang gây mất ổn định trong Đảng ta. Mong các đồng chí Uỷ viên Trung ương quan tâm, đọc giác thư này và dành thời giờ thảo luận tại Hội nghị lần thứ 11 toàn Ban Chấp hành Trung ương để xử lý, dứt điểm vụ án, tạo bầu không khí trong lành bước vào Đại hội X.

Toàn Đảng trông đợi ở các đồng chí.

Hà Nội, ngày 01 tháng 12 năm 2004

Lương Đống
Đảng viên - Lão thành cách mạng - Cựu chiến binh
Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng
thuộc phường Trần Hưng Đạo - Quận Hoàn Kiếm - Hà Nội
I. Những vụ án nào ? - Ai bao che dung túng ?
Vấn đề này đã được nêu rất rõ trong thư của đồng chí Võ Nguyên Giáp gửi tới toàn Ban chấp hành Trung ương khóa 9 đề ngày 3-1-2004. Không biết các đồng chí ủy viên Trung ương có được đọc lá thư ấy không ? Hay vì thư dài, góp ý với hội nghị Trung ương giữa nhiệm kỳ 7 vấn đề lớn nên các đồng chí không nhớ hết ? Trong vấn đề thứ 7 nói về bảo vệ chính trị nội bộ, có những đoạn sau, xin trích nguyên văn:

     “Đề nghị hội nghị Trung ương lần này kiểm điểm nghiêm khắc vì sao tình trạng vi phạm nguyên tắc tổ chức và kỷ luật Đảng kéo dài ở cấp Trung ương mà Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị đã thấy rõ và đã có nghị quyết khẳng định phải giải quyết nhưng cho đến nay vẫn để tồn tại không giải quyết ?
     Điển hình nghiêm trọng là vụ Tổng Cục 2 thuộc Bộ Quốc phòng...
     Tôi đề nghị Ban Chấp hành TƯ, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Uỷ ban kiểm tra TƯ kiên quyết kiểm tra và xử lý nghiêm minh, dứt điểm. Không cho phép duy trì mãi một tổ chức siêu Đảng, siêu Chính phủ...
     Vấn đề chấn chỉnh Tổng Cục 2 không phải là vấn đề riêng của Bộ Quốc phòng mà liên quan đến tình hình chung của toàn Đảng... liên quan đến việc giải quyết những vấn đề tồn tại trong Đảng từ trước tới nay.
     Đặc biệt nghiêm trọng là vụ Sáu Sứ diễn ra cuối khóa 6 trước thềm Đại hội 7 mà Hội nghị Trung ương 12 và 13 khóa 6 đã bàn giao cho Trung ương khóa 7 giải quyết.
     Nghiêm trọng hơn nữa là vụ T4 mà Bộ Chính trị khóa 8 đã bàn giao lại cho Bộ Chính trị khóa 9 - Bộ Chính trị khóa 9 đã chỉ đạo Ban Kiểm tra liên ngành tiến hành điều tra và Bộ Chính trị đã kết luận: T4 là một vụ án chính trị siêu nghiêm trọng, vi phạm kỷ luật của quân đội.

Vì lá thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp không có hồi âm, và hình như hầu hết các đồng chí Uỷ viên Trung ương không được biết nội dung nên 6 tháng sau, Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh, nguyên Uỷ viên Trung ương các khóa 5, 6, 7 đã gửi một lá thư dài tới Hội nghị Trung ương 10 đề ngày 17-6-2004. Trong thư này đồng chí Nam Khánh đã nêu khá chi tiết những vụ việc tệ hại do Tổng Cục 2 và tiền thân của nó gây ra: - Đó là vụ Xiêm Riệp năm 1983, Vụ Sáu Sứ năm 1991 và vụ T4 hoạt động kéo dài suốt từ khóa 7, khóa 8 cho tới nay.

Để hiểu rõ, đề nghị các đồng chí Uỷ viên Trung ương đòi Ban Bí thư Trung ương phô tô 2 bức thư của đồng chí Nam Khánh và bức thư của đồng chí Võ Nguyên Giáp thành nhiều bản để từng đồng chí TƯ có thể tự đọc và bình xét. ở đây tôi không dám trích dẫn dài dòng mà chỉ xin giới thiệu tóm tắt và giải trình vài điểm:

1. Vụ Xiêm Riệp: Cục Quân báo hồi ấy còn gọi là Cục 2; trực thuộc Bộ Tổng tham mưu - Bộ phận ra mặt trận phục vụ đoàn quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia đã không làm tròn nhiệm vụ của mình ngoài tiền phương, không nắm bắt được tình hình tàn quân Pôn Pốt lui về lập căn cứ tại vùng Núi Voi (DangRek) chiếm vùng mỏ đá quý giáp biên giới Thái Lan làm nguồn sống lâu dài. Nhưng để lập công, lại báo cáo với Tư lệnh Mặt trận nhiều tin tức về tình hình chính trị trong nội bộ lực lượng cách mạng của bạn do các ông Hêng Xom Ring, và Penxôvan cầm đầu. Nhiều thông tin không chính xác do suy diễn hoặc do ép cung, mớm cung tù binh. Dựa vào những tin tức ấy, Tư lệnh bộ đội tình nguyện kiêm trưởng đoàn chuyên gia Việt Nam tại Campuchia là Thượng tướng Lê Đức Anh đã cùng
 với đồng chí Lê Đức Thọ (Uỷ viên Bộ Chính trị - Trưởng Ban Tổ chức TƯ dạo ấy được phân công phụ trách vấn đề Campuchia) đã đưa ra những quyết định chính trị rất sai lầm, dẫn đến những thiệt hại nghiêm trọng cho lực lượng cách mạng của bạn năm 1983).

Cụ thể vụ việc này không tiện viết lên giấy, đề nghị Ban Chấp hành Trung ương khóa 9 mời đồng chí Lê Khả Phiêu đến báo cáo vì hồi ấy đồng chí Lê Khả Phiêu là trưởng phòng Chính trị Mặt trận dưới trướng đồng chí Lê Đức Anh, biết rõ.

2. Vụ Sáu Sứ: Xảy ra năm 1991, cuối khóa 6, chuẩn bị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 7. Hồi ấy đồng chí Lê Đức Anh còn là Bộ trưởng Quốc phòng từng được cố vấn Lê Đức Thọ dự kiến đưa lên ghế Chủ tịch nước. Nhưng tự thấy mình công lao ít, uy tín chưa cao, Lê Đức Anh lo sợ... bèn dùng lực lượng quân báo nắm trong tay (Cục 2) dàn dựng lên tấn trò. Quân báo đã mua chuộc một phụ nữ tên là Sáu Sứ và một nam giới tên là Năm Châu, hai người này từng là cán bộ hoặc du kích ở miền Nam, ít ai biết tên tuổi. Họ được đưa ra miền Bắc, huấn luyện cấp tốc, cấp kinh phí ăn, ở, cấp tiền tàu xe đi lại, được trang bị mỗi người một máy ghi âm rất nhỏ của tình báo. Và cả hai được chỉ dẫn đến nhà một số cán bộ lão thành, một số sỹ quan cao cấp gợi ý
 các cán bộ này về việc đưa đồng chí Võ Nguyên Giáp lên làm chủ tịch nước và đồng chí Trần Văn Trà làm Bộ trưởng Quốc phòng, hạ bệ đồng chí Lê Đức Anh v.v.. Trò chuyện và ghi âm tất cả 16 cuốn băng.

Những cuốn băng này đã được nộp lên Bộ Chính trị và Bộ Chính trị đã tổ chức cho các đồng chí TƯ khóa 6 nghe. Đồng chí Nguyễn Nam Khánh cũng đã được nghe và đ/c kể lại trong thư: “Tôi nghe phần nhiều là lời Sáu Sứ và nhiều đoạn ồm ồm không nghe rõ. Vụ này, Cục 2 đã ngụy tạo tài liệu, dựng chứng cứ giả, nặn thêm tình tiết làm cho dư luận ngộ nhận là có thật, đánh lừa Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành TƯ, thực chất là vu khống đồng chí Võ Nguyên Giáp, đồng chí Trần Văn Trà để thanh trừng nội bộ, hãm hại đồng chí”.

Thực tế về Võ đại tướng thế nào ? Thư đồng chí Nam Khánh không nêu, nhưng là những cán bộ ngoài cuộc chúng tôi biết rõ: Từ đầu khóa 5, đồng chí Võ Nguyên Giáp bước vào tuổi 70, đã chuyển giao chức Bộ trưởng Quốc phòng cho đồng chí Văn Tiến Dũng, bản thân đồng chí còn tham gia Ban Chấp hành TƯ nhưng không còn ở Bộ Chính trị nữa. Chuẩn bị kỷ niệm 30 năm chiến thắng Điện Biên Phủ thì đồng chí Lê Đức Thọ, Trưởng ban Tổ chức TƯ đã nảy ra sáng kiến đề nghị anh Giáp đứng làm Bộ trưởng sinh đẻ có kế hoạch. Anh Giáp hiểu dụng ý sự phân công này, nhưng với tổ chức tính cao, anh nói: “Đảng đã phân công thì tôi chấp hành. Việc có ích cho dân cho nước thì tôi làm”. Và anh đã làm việc này một cách nghiêm túc. Nhưng anh buồn, hàng ngày phải dùng phương pháp
 thiền, tĩnh tâm vô thức, để xua đi nỗi bực dọc, quên đi mọi trò đời đố kỵ nhỏ nhen. Cử chỉ cao đẹp ấy chứng tỏ anh là người rất có bản lĩnh làm cho nhiều người thêm kính phục, thêm yêu quý anh. Nếu có ai đó muốn bầu anh làm Chủ tịch nước thì chỉ là do lòng kính yêu của người đó thôi. Còn bản thân anh từ đầu khóa 6 đã 75 tuổi, không tham gia Ban Chấp hành TƯ nữa và đã nghỉ việc hoàn toàn. Cuối khóa 6, chuẩn bị Đại hội 7 anh đã bước vào tuổi 80, gánh vác đã ngại còn thiết gì đến chức quyền nữa đâu!

Nhưng như đồng chí Nam Khánh đã kết luận: Trò ngụy tạo của Cục 2 đã làm cho nhiều đồng chí trung thực như Nguyễn Văn Linh, Võ Chí Công, Nguyễn Thanh Bình, Nguyễn Đức Tâm, Mai Chí Thọ... và nhiều đồng chí TƯ khác cũng bị đánh lừa. Thực chất đây là trò vu khống để hãm hại đồng chí, gây chia rẽ nội bộ dẫn đến sự phân tâm trong Đảng, trong cán bộ quân đội, ảnh hưởng xấu cho tới ngày nay.

3. Vụ T4: Suốt từ năm 1996 đến nay, Tổng Cục 2 thường xuyên gửi những bản Tin Riêng đến các đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Bộ trưởng Quốc phòng và vài đồng chí khác - Tập trung đưa tin về nội bộ ta về Uỷ viên TƯ này, về cán bộ cấp cao kia hoặc nhóm chống đối này, nhóm chính trị khác. Nguồn gốc các tin ấy được ghi rõ là: Từ trung tâm CIA cho hay..., “Theo tin của T4”..., CIA có nguồn tin từ Quốc nội cho biết, v.v... (T4 được giải thích là bí danh điệp viên của Tổng Cục 2 cài vào tổ chức CIA để thu thập tin từ phía địch).

Thư đồng chí Nam Khánh đã dẫn chứng rất cụ thể hàng chục đoạn tin. Đại để:

     - Về đồng chí Võ Nguyên Giáp: Ngày 12-7-1997 tại một địa điểm phía Bắc đại diện CIA đã phổ biến chủ trương của Mỹ và Pháp lôi kéo ông Võ Nguyên Giáp...
     - Hiện nay theo yêu cầu của CIA thì ông Giáp vẫn đang ngấm ngầm hoạt động...
     Đ/c Phạm Văn Đồng: Sáng 5-9-1997 đã mời một số Uỷ viên Bộ Chính trị khóa 4 và 5 họp yêu cầu các đồng chí này vận động thay đổi các đồng chí chủ chốt hiện nay... (Tin 10-9-1997).
     Đ/c PhanVăn Khải: Thời kỳ còn làm Chủ tịch Thành phố HCM đã móc nối với tên CIA, Nguyễn Ngọc Huy, Bí thư Đảng Tân Việt đánh về miền Nam năm 1978. Tên này đã dùng chuyên cơ đưa Phan Văn Khải đi tham quan các nước Đông Nam Á... (Tin 10-5-1999).
     Đ/c Phan Diễn: Có quan hệ phức tạp với một số người Hoa trong nhóm tình báo Trung Quốc... (Tin 17-12-1999).
     Đ/c Nông Đức Mạnh: Kết nghĩa với Tăng Minh Phụng nên khi y bị bắt đ/c Nông Đức Mạnh không đồng tình... (Tin 17-12-1997).
     Đ/c Mai Chí Thọ: Tổng lãnh sự Mỹ ở thành phố HCM đến nhà riêng gặp anh Năm Xuân... (Tin 5-10-1999).
     Đ/c Vũ Quốc Hùng: CIA đã cho người móc nối với Vũ Quốc Hùng... (Tin 17-12-1997).
     Đ/c Võ Thị Thắng: T4 tiết lộ Võ Thị Thắng trước đây đã được Phủ đặc ủy [tình báo] tháo răng hàm trên thay răng giả gắn sẵn liều thuốc độc cực mạnh để giúp điệp viên tự sát khi cần... (Bản tin 21-3-1999).
     Đ/c Võ Viết Thanh: Đã móc nối xin tỵ nạn chính trị trong Sứ quán Mỹ hoặc ra nước ngoài... (Tin 7-2-1999).
     - Nhiều đồng chí khác: Các chuyên gia CIA nhận định một cuộc đảo chính có thể xảy ra vào tháng 7 hoặc tháng 8 năm 1999 ở Việt Nam...
     ... Đã có sự liên kết giữa Ngô Xuân Lộc, Phạm Gia Khiêm, Nguyễn Khánh Toàn, Đoàn Mạnh Giao, Lê Văn Dũng, Phạm Trung Kiên, Nguyễn Văn Rốp. Việc đảo chính của phe nhóm này sẽ tập trung vào kỳ họp thứ hai của Quốc hội (khóa X)... (Tin ngày 21-3-1999).

Cho tới vụ án khủng bố đồng chí Võ Thị Thắng đầu hè 1999, ta đã kịp thời ngăn chặn được. Công an đã bắt 4 tên:

   Nguyễn Thái Nguyên, Phó văn phòng của Thủ tướng Phan Văn Khải và vợ hắn là Nguyễn Thị Thanh Hiền, đều là cộng tác viên mật của Tổng cục 2. 
   Đỗ Ngọc Chấp là Cục phó Cục 2 thuộc Tổng cục 2. 
   Nguyễn Quang Vinh là cán bộ tin cậy trong Cục 2 - Tổng cục 2. 

Khám xét chỗ ở và nơi làm việc của các bị can thu giữ được nhiều tài liệu có nội dung đề cập đến hoạt động của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta. Công an đã khởi tố vụ án hình sự. Bản cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao cho biết:

     Kết quả điều tra cho thấy:Từ đầu năm 1997 đến tháng 5/1999 Đỗ Ngọc Chấp và Nguyễn Quang Vinh đã thu thập và báo cáo lên lãnh đạo Tổng cục 2 Bộ Quốc Phòng đã rất nhiều bản tin có nội dung xuyên tạc, bịa đặt cho một số cán bộ cao cấp của Đảng và Nhà nước có quan hệ với CIA, đang làm việc cho CIA,... đang tập hợp lực lượng chuẩn bị đảo chính, chiếm quyền, v.v.. Các bản tin này được phản ánh dưới dạng do cộng tác viên mang bí số T4 định cư tại Mỹ báo cáo về nước.
     Theo lời khai của Vinh và Chấp thì T4 tên thực là Hoàng Đình Cẩn, là cơ sở do Vinh (sinh năm 1965) trực tiếp xây dựng (ở Mỹ ?) và sử dụng. Nhưng Tổng cục 2- Bộ Quốc Phòng thì xác định những lời khai trên là bịa đặt. Lãnh đạo Tổng cục 2 không cho phép, không phê duyệt cho Nguyễn Quang Vinh và Đỗ Ngọc Chấp xây dựng và sử dụng người nào có tên là Hoàng Đình Cẩn với bí số T4.

Vậy T4 chỉ là một “điệp viên ma”, không có thực

Xét xử vụ án T4 không phải là xét xử ma, mà là xét xử người đẻ ra con ma đó và đã sử dụng con ma đó để gây rối nội bộ Đảng. Thực tế không phải là một con người cũng không phải hai tên Vinh, Chấp mà là một tổ chức trong quân đội: Tổng cục 2 - Bộ Quốc phòng, cơ quan đã nhiều năm đưa hàng trăm bản tin của T4 đến các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta.

Tổng cục 2 là một tổ chức quân sự được hình thành vượt quy chế tổ chức của QĐNDVN, vượt cả quy chế tổ chức Nhà nước CHXHCNVN. Hoạt động của nó đã vượt qua chức trách của BQuốc Phòng. Thủ đoạn hoạt động là thủ đoạn ma, có tính lừa dối, sản phẩm của nó là những Bản Tin đều mang nội dung lừa dối Đảng, có mục đích phá hoại chính trị nội bộ.

Chính vì vậy, trong thư ngày 3-1-2004, Võ đại tướng đã chỉ rõ: T4 là vụ án chính trị siêu nghiêm trọng vi phạm kỷ luật của quân đội.

Bộ Chính trị bao che dung túng hay mơ hồ mất cảnh giác ?

Ngày 8-7-2004 đồng chí Phan Diễn đã mời đồng chí Nguyễn Nam Khánh đến văn phòng Ban Bí thư ở Nguyễn Cảnh Chân và thông báo những ý kiến sau:

     “Tôi (đồng chí Phan Diễn) và đồng chí Tổng Bí thư đã nhận được văn bản của đồng chí về vụ T4. Tôi đồng ý một số nội dung trong văn bản của đồng chí.
     Vụ T4 là vụ án nghiêm trọng, Bộ Chính trị đã tổ chức Ban kiểm tra liên ngành để xem xét. Theo Ban kiểm tra liên ngành đề nghị, Bộ Chính trị đã xác định đây là vụ án chính trị nghiêm trọng. Bộ Chính trị đã giao cho cơ quan pháp luật truy tố, đưa ra xét xử 4 người: Chấp, Nguyên, Vinh, Hiền và đã giao cho Đảng ủy quân sự TƯ xem xét các đồng chí chỉ huy Tổng Cục 2.
     Tôi đồng ý với đồng chí Nam Khánh là trong Pháp lệnh về Tình báo và Nghị định 96CP về Tình báo quân sự có nhiều nội dung sai phạm. Bộ Chính trị đã giao Thường vụ Quốc hội xem xét lại Pháp lệnh Tình báo và giao cho Văn phòng Chính phủ xem xét lại Nghị định 96CP. Đồng thời đã chỉ thị cho BQuốc Phòng quy định cho Tổng cục 2 không được theo dõi nội bộ (nữa) ...
     Việc này (chấn chỉnh Tổng cục 2 từ tổ chức đến nguyên tắc hoạt động) phải mất một thời gian
     T4 là một vụ án nghiêm trọng nhưng Bộ Chính trị phải chọn những vấn đề gì trực tiếp ảnh hưởng đến nội bộ Đảng, Nhà nước, Quân đội mới làm, rồi báo cáo cho Bộ Chính trị chứ không báo cáo cho TƯ. Có việc không nói cụ thể cho TƯ và không thảo luận.
     Trong vụ T4 có ý kiến anh Giáp, anh Mân, Anh và một số đồng chí nữa, nhưng Bộ Chính trị không báo cáo ý kiến của các anh với Ban Chấp hành TƯ. Ngay cả ý kiến anh Phiêu cũng không báo cáo với Ban Chấp hành TƯ. Ý kiến đề nghị có rất nhiều ý khác nhau, nếu đã đưa ra là đưa hết thì Ban Chấp hành TƯ khó xem xét và không thể kết luận được, nội bộ phức tạp thêm.

Rõ ràng những câu trả lời của đồng chí Phan Diễn là chưa thỏa đáng. Coi việc đưa 4 tên vào tù là đủ, tức là chưa thấy thực chất vụ án là vấn đề tổ chức, là sự hình thành Tổng cục 2 - Bộ Quốc Phòng. Vì chưa thấy hết tầm nghiêm trọng của vụ án nên chủ trương không báo cáo Ban Chấp hành TƯ.

Trái với ý kiến đồng chí Phan Diễn, chúng tôi đông đảo cán bộ Đảng viên lâu năm đều cho rằng vụ T4, tức là vụ án Tổng cục 2 - Bộ Quốc Phòng... đây là tổ chức phi pháp được bao che, dung túng nên vụ án rất nghiêm trọng. Nó đã trở thành khối u trong cơ thể Đảng và tổ chức chính quyền, nên Ban Chấp hành TƯ có trách nhiệm phải xem xét, xử lý. Ban Chấp hành TƯ có quyền đòi hỏi Ban Bí thư và Bộ Chính trị phải báo cáo lại toàn bộ. Bộ Chính trị chỉ là bộ phận thường trực, không phải là cấp trên của Ban Chấp hành TƯ. Giữa 2 nhiệm kỳ Đại hội thì Ban Chấp hành TƯ là tổ chức cao nhất. Đảng viên chúng tôi thấy vấn đề quan trọng mà Bộ Chính trị chậm giải quyết thì có quyền khiếu nại đến hội nghị toàn Ban chấp hành TƯ.

Và chúng tôi đề nghị với Ban Chấp hành TƯ:

Nếu Hội nghị 10 Trung ương khóa 9 có phải kéo dài thêm vài ngày để thảo luận và xử lý dứt điểm vụ án Tổng cục 2 thì mong các đồng chí Uỷ viên Trung ương kiên quyết giành thời gian thảo luận. Vì vấn đề nghiêm trọng mà có tác động “sống-còn” với Đảng ta, không thể để kéo dài mãi.
II. Đóng góp vào việc phân tích giải mã vụ án
1. Bộ Chính trị chưa đi vào bản chất vụ án

Thực tế mới xem xét hời hợt bề ngoài tức là chỉ xem xét cụ thể một vụ khủng bố đồng chí Võ Thị Thắng, nên coi đây chỉ là sự phạm pháp của một nhóm người, bắt 4 tên là xong. Còn những bản tin vu khống gây rối nội bộ kéo dài nhiều năm sao không xem xét? Những bản tin được gọi là “Tin từ T4” ấy là sản phẩm của Tổng cục 2, không phải sản phẩm riêng của 4 tên bị bắt. Vậy tội phạm trong vụ án T4 là một tổ chức, là Tổng cục 2 - Bộ Quốc Phòng. Tổ chức tội phạm ấy đã được bao che bỏ qua không xem xét!

Các đồng chí Võ Nguyên Giáp và Nguyễn Nam Khánh nhắc đến vụ án Xiêm Riệp, vụ án Sáu Sứ không phải để đòi xét xử lại các vụ án ấy. Nhưng phải lật lại hồ sơ để vạch rõ cả 3 vụ án nghiêm trọng đều do một tổ chức Quân báo của Bộ Quốc Phòng gây ra dưới sự điều khiển của ai đó. Khi ấy nó còn gọi là Cục 2, gần 10 năm nay mới phình lên thành Tổng Cục 2. Vậy Tổng cục 2 không phải chỉ gây ra một vụ án T4 mà còn có tiền án, tiền sự, một hệ thống tội lỗi, nên phải thấy rõ nó nguy hiểm, phải tìm hiểu nó rất kỹ.

Cần phải xem xét cái tổ chức Tổng cục 2 chức năng quyền hạn thế nào ? Hoạt động ra sao ? Mục đích gây án để làm gì ? Ai đẻ ra tổ chức ấy ? Đó là một loạt những vấn đề cốt lõi của vụ án, đã bị bỏ qua. Đi sâu vào những vấn đề cốt lõi sẽ thấy rằng Tổng cục 2 không chỉ có nhiều hành vi phạm pháp mà bản thân nó cũng được hình thành một cách phi pháp. Cho nên vụ án T4 thực chất là một vụ án về tổ chức.

2. Tổng cục 2 - Bộ Quốc Phòng là một quái thai đẻ chui phi pháp đã trở thành một tổ chức siêu quyền lực rất nguy hiểm.

Theo quy chế tổ chức quân đội ta thì lá»±c lượng quân báo cá»§a Bá»™ Quốc Phòng được gọi là Cục 2, là má»™t bá»™ phận nằm trong Bá»™ Tổng tham mưu, trá»±c thuá»™c Tổng tham mưu trưởng. Nhiệm vụ thời chiến cá»§a nó là trinh sát tìm hiểu tình hình quân địch ở tiền phương báo cáo về Bá»™ Tổng tham mưu để Cục Tác chiến đặt kế hoạch chiến đấu. Thời bình hoạt động theo hướng tình báo chiến lược thì nó phải theo dõi các lá»±c lượng hiếu chiến nưá